Bài 10
NGÔ THỊ Ý NHI
Đi qua mùa Xuân không tuổi…
- (Ngô Thị Ý Nhi là cháu ngoại bà HOÀNG THỊ THÙ – Đ 15).

Hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh
Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 2013.
TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN
- Con đường thời gian qua(Thơ, NXB Hội Nhà văn, 1994)
- Con ngựa đen đốm trắng(Truyện ngắn), NXB Trẻ, 1999)
- Sinh nhật cuối đông(Thơ, NXB Văn học, 2004)
- Giọt biển(Truyện ngắn, NXB Hội Nhà văn, 2006)
- Mười năm và bảy ngày(Truyện ngắn, NXB Văn hóa – Văn nghệ TP. HCM, 2016)
- Lên đồi cỏ mượt(Tập truyện thiếu nhi, NXB Kim Đồng, 2017)
- Giấc mơ bồ công anh(Thơ, NXB Văn hóa – Văn nghệ TP. HCM, 2018).
GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC
- Giải khuyến khíchcuộc thi viết truyện ngắn cho thanh niên, sinh viên, học sinh của NXB Giáo Dục và Hội Nhà văn Việt Nam.
- Giải ba cuộc vận động sáng tác của Dự án Hỗ trợ Văn học Thiếu nhi Việt Nam – Đan Mạch (2012 – 2013)
- Tặng thưởnghội nhà văn thành phố hồ chí minh (2016) tác phẩm Mười năm và bảy ngày.
SUY NGHĨ VỀ NGHỀ VĂN
Hơn ba mươi năm đứng trên bục giảng cho đến ngày về hưu, viết văn với tôi hình như không phải nghề mà là cái nghiệp. Tôi cầm bút như một khát khao, một thôi thúc cần được giải bày. Từ đó, những trang viết được hình thành như một phần của cuộc sống, một phần không thể thiếu của đời tôi. Tôi viết nhẹ nhàng và không áp lực. Hầu như những gì hình thành thì tự nó sẽ hình thành. Nhưng có lẽ ảnh hưởng của nhà giáo nên hơi kỹ tính, chọn lọc kỹ trước khi gởi bài đăng báo hoặc xuất bản. Cũng vì vậy nên tác phẩm của tôi không nhiều so với thời gian cầm bút. Lối làm việc này tôi vẫn giữ cho riêng mình như một nét của tính cách vì suy cho cùng mỗi người mỗi vẻ mới tạo nên sức sống của một dòng chảy văn chương…(Ngô Thị Ý Nhi)
TRUYỆN NGẮN:
Ngã ba đường làng
Cập nhật ngày: 23/09/2023 lúc 09:38
Một cảm giác nặng nề chụp xuống người tôi. Giấc ngủ lơ mơ nửa mê nửa tỉnh. Bóng chiều bảng lãng trong khu vườn rộng, bóng tàng mít xanh um nơi tôi mắc võng hay chính cái oi ả của một chiều đứng gió lẫn khuất bủa vây tôi?
Tôi trở mình trong chiếc áo mỏng mướt mồ hôi và mở mắt. Bên kia giậu chè tàu, sát chỗ tôi nằm, một bóng người cúi xuống. Đôi mắt… đôi mắt chăm chú nhìn tôi với cái nhìn lạ lắm. Hốt hoảng, tim đập nhanh, tôi ngồi bật dậy. Một khuôn mặt nhiều nếp nhăn, một nụ cười như quen như lạ… Không chào không hỏi, người phụ nữ quày quả quay đi. Buổi chiều đang xuống nhanh. Những mảng tối tràn vào kẻ lá. Tôi bần thần cả người. Ai? Tôi cố nhớ cho ra. Cả chục năm trời không trở lại quê nhà. Ai còn, ai mất? Tôi đang ở trong vườn nhà ngoại. Ngoại mất lâu rồi. Chỉ còn gia đình dì Hương. Vườn bên kia… Vườn nhà o Nguyệt đây mà. O Nguyệt… lẽ nào là o Nguyệt?
Nhà văn Ngô Thị Ý Nhi ở TPHCM
Thực hiện chuyến đi này, biết tôi ghé qua quê ngoại, chú Hải nửa đùa, nửa thực bảo tôi: “Cho chú gởi lời thăm o Nguyệt.” Một chút đùa, một chút thực nhưng chú vội quay đi, giấu cái phần thực trào lên trong đôi mắt đã bạc màu. Chú Hải hồi đó, góa vợ, năm con. Cao to, đẹp trai, ăn chơi kiểu Mỹ đã là đối tượng sáng giá của mấy bà mấy cô. Gái góa có, lỡ thì có và nghe đâu có cả mấy cô nữ sinh mơn mởn. Vậy mà một lần theo tôi về quê chơi, lính quýnh thế nào chú vướng vào o Nguyệt. Sáng hôm đó, còn sớm tinh mơ, chú đi dọc con đường làng hít thở khí trời thì chạm ngay o Nguyệt trước ngõ. Đôi quang gánh xanh um rau cỏ mới hái quanh vườn. Rau thơm, rau mùi, cải cúc, cải xanh. Tất cả còn ngậm sương non nẻo. Dừng chân lại một chút, sửa lại vành nón lá, một thoáng ngập ngừng, o ngửng lên nở nhẹ một nụ cười chào rồi lại cúi xuống quảy gánh tiếp tục bước đi. Cái thân thể gọn gàng mảnh mai nhịp nhàng uyển chuyển theo đôi quang gánh. O Nguyệt, thời đó còn là chị Nguyệt, thì còn lạ lùng gì với xóm trên xóm dưới. Hiền thục, đảm đang, nức tiếng một vùng. Từ bàn tay chị, cả một mảnh đất sau nhà mướt mát rau xanh. Mùa nào thức đó. Giêng hai là mùa rau cải, sang đến tháng ba, mướp bầu bắt đầu vàng hoa ra trái lủng lẳng trên giàn. Tất cả như tiềm tàng một sức sống chỉ chực bùng lên. Người ta ngắm nhìn, người ta thì thầm tấm tắc. Nhưng chị ngót nghét ba mươi rồi. Hôn nhân đã quá trễ tràng. Trên đôi vai mảnh mai đó, không phải chỉ đơn giản gánh rau mơn mởn mà cả một gia đình bốn đứa em trai đang tuổi ăn tuổi học chưa đâu vào đâu. Người ta nhìn vào đắn đo dè dặt cũng có, mà do chị lắc đầu cũng có. Cứ thế tuổi xuân trôi đi. Vì là quê ngoại của tôi, chú Hải chân ướt chân ráo ghé đến lần đầu. Dưới mắt chú, đơn giản chỉ có một nụ cười, tấm lung thon với đôi gánh rau mướt mát. Hồn nhiên đến lạ. Và chú say, từ đó. Mọi người biết, chị Nguyệt biết vì chú Hải có giấu diếm gì đâu. Mọi chuyện cứ thẳng đuồn đuột. Nhưng hình như chính cái tính cách thật một cách lạ lùng này đã làm chị có đôi phần rung động.
Một buổi chiều thằng Út nhà chị bỏ cơm ra bờ sông ngồi khóc. Trong bóng chiều chập choạng chị xăm xăm hướng ra bến nước tìm em. Rồi chị cũng khóc. Cho đến khi trăng lên hai chị em mới lầm lũi về nhà. Mấy bữa sau, chị cúi đầu trả lời người mai mối:
– Tui một nách bốn đứa em, chừ thêm năm đứa con chồng. Nặng quá, tui sương không nổi.
– Đi làm bà Đại úy, một bước lên xe jeep ngồi chớ ai bắt buôn thúng bán bưng chi mà sương với gánh.
Chị ứa nước mắt lắc đầu như bao nhiêu lần đã lắc đầu. Cái lắc đầu làm đối tượng ngỡ ngàng sững sốt còn bà con làng tôi thì hể hả ra mặt. Làng trên xóm dưới chẳng ai ưa gì tay sĩ quan Phú Bài mặt mũi nghênh ngang, giày đinh khua cộp cộp. Sau lần thất bại đó chú Hải không theo tôi về quê ngoại tôi nữa. Còn tôi, ít lâu sau cũng bỏ ngoại với ruộng, với vườn theo gia đình khăn gói vào Nam. Trong những bóng hình của đồng quê vườn ruộng chị Nguyệt lâu lâu lại hiện về trong tâm thức tôi. Thì chị cũng chỉ là một điển hình của “chị tôi” mà người ta thường bắt gặp trong thơ trong nhạc. Một điển hình của dịu dàng, hy sinh, chịu đựng và rồi mòn mỏi với thời gian. Những hình bóng đó lu mờ dần, lụn dần trong một chút tiếc nuối, một chút cảm thương ray rứt của người đời. Nhưng chị Nguyệt “của tôi” có cái gì lạ lắm. Đó là cái sức sống tiềm tàng trong chị. Chị đẹp và ý thức mình đẹp. Tấm áo khéo chọn vừa vặn khít khao lúc nào cũng thơm tho sạch sẽ. Khuôn mặt ngời lên dưới mái tóc lúc kẹp, lúc buông, lúc vấn cao phô cần cổ trắng. Chị đức hạnh và ý thức được giá trị đức hạnh của mình. Ứng xử khôn ngoan, khéo léo, ăn nói đâu ra đó đủ lý đủ tình. Chị vun vén giữ gìn mọi lẽ. Tiếng thơm bay khắp trong ngoài. Nhìn chị chẳng ai dám mở lời buông một câu thương cảm cho số kiếp hẩm hiu hay duyên phận lỡ làng. Chị tươi tắn thế kia, đảm đang thế kia, sắc sảo thế kia. Rồi chị lần lượt cưới vợ cho bốn đứa em trai. Chẳng rình rang gì, nhưng tươm tất đâu ra đó. Bốn đứa em thì chú Út thành đạt nhất. Định cư ở Mỹ, sự nghiệp vững vàng. Lần cuối tôi gặp chị, chị đã trở thành “o Nguyệt” với đứa cháu trên tay rạng rỡ nụ cười hạnh phúc. Từ đó tôi ít nghĩ về chị. Trong tôi, chị như một tay đua đã cán đích đến, một nhà đầu tư đang thu về cả vốn lẫn lời. Con đường chị đã vạch, mục tiêu đã được đề ra, rõ ràng minh bạch. Đan xen với hình ảnh của người phụ nữ đầy lý trí đó lại là hình ảnh của một chị Nguyệt rất khác.
Chị Nguyệt của thời mới lớn ngân nga câu hát: “Cô gái nữ sinh Đồng Khánh kia ơi, cô đi về đâu tan buổi học rồi…” Giấc mơ thời con gái của chị đó. Chị thích mặc áo trắng, xõa tóc ngang lưng nhưng chị không là nữ sinh Đồng Khánh. Chị rớt đệ thất và như bao cô gái khác phải ở nhà coi sóc trong ngoài giúp mẹ. Tuổi xuân thầm thì đến. Chị đẹp dịu dàng, đoan trang lắm. Ngày giáp tết nhà chị lúc nào cũng ngan ngát hương thơm bánh mứt. Chị ngồi trên bộ phản, xõa tóc, bàn tay khéo léo phong bánh in bằng giấy bóng kính đủ màu. Tôi, bé tí teo, nhảy nhót, la cà vô ra nhà chị để ngắm nhìn và cả thưởng thức những chiếc bánh chị cho là không đạt chuẩn. Còn một người nữa cũng mê mệt đắm mình trong không gian ngạt ngào hương vị tết đó là anh giáo xóm trên. Anh học Sư phạm Quy Nhơn lâu lâu lại về thăm nhà. Không biết từ bao giờ anh được “đặc ân” kéo chiếc ghế đẩu ngồi bên nhìn chị loay hoay với những chiếc bánh ngũ sắc xếp vào chiếc quả tròn. Anh chỉ ngồi yên lặng vậy thôi, tay cầm tách trà nhấp môi lấy lệ. Khi lớn lên, tôi nhớ lại những ngày xưa ấy với cái rung động bâng khuâng của tuổi dậy thì.
Nhưng tất cả đột ngột bị xóa sạch. Ba mẹ chị mất. Cả hai ông bà, cùng một lúc, trên cùng một chuyến xe. Chiến tranh và bom đạn không báo trước điều gì cả. Hai cái tang bất ngờ đổ ập xuống ngôi nhà bình yên của chị. Bốn đứa em trai. Chị là chị cả. Từ đó chị đặt đòn gánh lên vai. Bươn bã kiếm sống, chị không còn nhởn nhơ mứt bánh. Anh giáo cũng không còn có dịp ghé vào. Ít lâu sau nghe tin anh cưới vợ làng bên. Người thì bảo chị không tiến tới vì muốn ở vậy nuôi em, kẻ khác lại trề môi: “Nặng gánh thế ai người ta dám vào. Anh ta rút lui là phải.” Lặng lẽ và kín đáo, bình thản với miệng lưỡi người đời, từng bước một chị vững vàng đưa bốn đứa em đến bờ đến bến. Tôi đem theo hình ảnh “chị tôi” và làng quê đi khắp, như mang trong lòng một điệu hát ru đã thấm vào máu thịt.
Vậy thì lẽ nào… lẽ nào tôi ngờ ngợ khi mở mắt ra và nhìn thấy chị. Lẽ nào chị không nhận ra tôi. Khuôn mặt đó… cái nhìn đó… có phải chị không? Tôi bước chân xuống võng. Có tiếng dì Hương gọi tôi trong nhà. Tiếng dép lệt sệt rồi tiếng rửa chân ngoài sàn nước. Ngọn đèn điện vàng hoe từ trong nhà hắt ra không đủ sáng. Dì lẩm bẩm:
– Tối thui rồi mà một mình ngồi ngoài vườn. Dễ sợ.
***
– O Nguyệt, đị mô đó? Tính lên thành phố hả?
Một giọng cười khác tiếp theo:
– Để o lên thành phố kiếm ông chi chi đó to lắm.
Cả đám phá lên cười. Một người phụ nữ đã đứng tuổi mà tôi không nhớ nổi tên trầm ngâm giọng chùng hẳn xuống:
– Chẳng qua… cái số. Tội nghiệp.
Tôi ngậm ngùi nhìn theo bóng áo trắng khuất dần sau rặng tre. Đúng là chị Nguyệt, chị Nguyệt của tôi. “Chẳng qua là cái số…” Không, tôi biết chị sợ và ghét nhất lòng thương hại. Hồi đó không ai dám chép miệng thương cho chữ phận, chữ duyên của chị. Cứ như chị vạch đường để đi và cương quyết đến cùng. Gió từ mặt sông lùa vào gian quán nhỏ. Gian quán mộc mạc lợp tranh dùng làm chỗ dừng chân cho làng trên xóm dưới. Mười năm mới trở lại quê nhà. Mười năm không gặp lại chị. Sao lại thế này? Tôi lại nghe tiếng ai đó ấm ức:
– Sống không nổi với mấy con em dâu quá quắt.
Một đám tre trẻ nhao nhao:
– Quá quắt là quá quắt làm sao?
- Mà cũng tại o Nguyệt chớ.
– Ờ… “Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều”
– Cay nghiệt là tại sắc sảo quá phải không, thím Tấm?
Người phụ nữ tên Tấm đứng dậy, cầm cái nón quạt mạnh tay:
– Không sắc sảo mà gánh nổi một gánh bốn đứa em trai. Không sắc sảo mà một thân một mình chèo chống… Mấy cô mới lớn, mấy cô đã biết chi chuyện đời.
– Cũng có biết sơ sơ. Chi thì chi cũng “không bằng một chút trong lòng đẻ ra”. Thím vẫn dạy vậy đó phải không? Tụi con xin quán triệt và quyết tâm… chớp lấy thời cơ.
Cả đám lại cười vang lục tục đứng dậy thanh toán tiền nước . Thím Tấm đội chiếc nón lá lên đầu, sửa lại quai nón quay sang nhìn tôi:
– Thôi, cô cứ nghĩ chân, chút dịu nắng rồi đi cho mát. Lâu lâu nhớ về quê chơi.
Tôi nhìn bàn tay chai sần đang giữ vành nón lá ngậm ngùi. Bàn tay chị Nguyệt có lẽ cũng thế này đây. Ngoài kia, dòng sông vẫn chảy, một dòng sông đầy nắng.
Thế là tôi không chỉ ghé qua làng như dự kiến, mà quanh quẩn ở lại đây đến hai hôm. Cái gì giữ chân tôi ở lại đây không biết nữa. Buổi sáng, tôi dậy thật sớm, đạp xe đi dọc con đường làng. Mím môi tránh một đàn gà con lúc túc, một con chó chạy rông, đôi lúc lại gặp vài con trâu đủng đỉnh. Cuối xóm, con đường dẫn ra cánh đồng bắt đầu bằng giàn bầu giàn mướp vàng hoa, xanh um sắc lá. Và rồi lúa, mênh mông lúa. Rồi như một phép mầu, con đường kiêu hãnh làm một nhát cắt rạch đôi màu xanh bạt ngàn của đồng ruộng bao la. Con đường tráng xi măng thẳng tắp. Tôi nhớ lại ngày xưa, trên bờ ruộng này nhiều phen tôi lội bùn té lên té xuống. Làng quê tôi cũng nhiều thay đổi. Tôi quanh quẩn như thế, khắp xóm thôn. Một vài am miếu hoang phế, một vài mái ngói rêu phong, một vài lối mòn khuất lấp. Đan xen vào đó tôi lại bắt gặp một bức tường mới sơn, một cánh cổng hoa văn điệu đàng và đâu đó sau mấy tàng cây xanh um một vài căn lầu thâm thấp rụt rè nhô lên màu vôi mới. Thì cuộc sống mà. Phải cải thiện, phải đổi mới. Nghèo không phải là một cái tội nhưng cũng đâu phải một bảo vật cần trân trọng giữ gìn để tôn thờ hãnh diện. Làng quê đêm đêm đã bớt đi cái âm u huyền bí . Đèn điện sáng lên ấm áp mỗi ngôi nhà, văng vẳng âm thanh những kênh truyền hình mở lớn. Các cô gái quê cũng không còn như xưa nữa. Ánh sáng đô thị ngời lên từng khuôn mặt, từng giọng nói tiếng cười. Tất cả phơi phới nhẹ nhàng thế đó sao lòng tôi nằng nặng buồn buồn.
Tôi qua nhà chị Nguyệt ngay sáng hôm sau. Mở cửa cho tôi vào là một cô cháu gái có họ xa với chị. Trên tấm phản kê bên hè nhà chị ngồi ngó tôi cười cười. Chị không còn nhận ra tôi, nhầm lẫn lung tung với người này người nọ. Một câu chuyện chị lặp đi lặp lại bao nhiêu lần mà không biết. Nhắc chuyện ngày xưa, tôi kể, chị kể nhưng cứ đầu Ngô mình Sở, đôi lúc đột ngột chị hỏi một câu chẳng đâu vào đâu. Rốt cuộc tôi biết hình ảnh của mình chẳng gợi lên chút gì trong tâm thức của chị. Người ta bảo chị bị chứng giảm trí nhớ và cuộc sống đơn độc kéo theo sự suy sụp rất nhanh. Đơn độc. Chỉ hai ngày qua tôi nghe tiếng vào tiếng ra của người này người nọ. Thì đúng là chị. Sắc sảo quá, quyết đoán quá. Cứng cõi thì dễ gãy. Lớn tuổi, chị trở thành điển hình của các bà già xưa khó khăn và có phần khắc nghiệt. Đặc tính chung của các bậc phụ nữ một đời thờ chồng nuôi con. Chị thì cũng gần như thế. Ba cô em dâu một tay chị đi cưới có đủ Bắc, Trung, Nam mà bà con quanh vùng gọi đùa là “tam ca ba miền”. Cái thuở “bơ vơ mới về” còn vào ra phép tắc… Nhưng rồi từ từ quen hơi bén tiếng họ bắt đầu cảm thấy gò bó, khó chịu, khao khát tự do. Họ vùng vẫy. Kỵ giỗ là dịp họ gặp nhau tha hồ tung hứng:
– Hồi đó má em không cho em lấy chồng miền Trung, nói mấy bà mẹ chồng người Huế khó lắm, làm dâu không nổi. Nhưng em thương ảnh…
– Mẹ chồng! Thà là mẹ chồng đi thì còn là một nhẽ…
– Là mẹ… chi thì chi cũng đặt hạnh phúc con mình lên trên hết chớ có mô như ri nì trời!
Rồi từ chỗ phản kháng từng người họ hợp quần ba người một chiến dịch. Nghe đâu có một cái tết chị Nguyệt cắp nón chạy quanh. Giận đứa em này bỏ qua nhà đứa khác. Đi đâu cũng một bầu không khí đó, cách đối xử đó. Thì nhà cửa đó chị cứ việc ra vào nằm ngồi ngơi nghĩ. Nhưng chuyện gia đình thì dứt khoát chị là người ngoại cuộc. Lạnh lùng và xa cách. Họ không để chị mó tay đến bất kỳ chuyện gì dù lớn dù nhỏ. Việc nhà vợ chồng con cái chia nhau làm tất, cùng lắm mướn người giúp việc. Ba ông em trai to lớn đồ sộ có thương chị cũng chẳng biết làm sao. Đàn bà là nội tướng, họ có cái lý của họ để vun vén trong ngoài.
Chị lặng lẽ trở về quê, sống với đứa cháu. Dư luận dấy lên, tha hồ bàn ra tán vào. Mà chê trách gì nữa. Không ai để chị thiếu thốn điều gì. Tiền cấp dưỡng tháng tháng gởi về đầy đủ. Đơn độc, chị và cái bóng tựa vào nhau. Đám con gái mới lớn lên tập tành làm dâu chua ngoa dè bỉu: “Chị chỉ là chị. Có đẻ ra chồng mình được không? Tưởng làm mẹ chồng mà dễ à” Ai đó lắc đầu thương cảm nhắc hoài điệp khúc đã cũ: “Cũng tội nghiệp. Thì ông bà mình đã dạy rồi chi thì chi cũng phải có một chút trong lòng đẻ ra” Chị im lặng. Im lặng vốn là bản tính xưa nay của chị đó thôi. “Thà là mẹ chồng đi thì còn là một nhẽ…” Phải đâu chị không biết điều này. Làm mẹ thì đơn giản chỉ một đường hy sinh, đơn thuần hy sinh như lẽ đời cho đi tất cả. Còn cái hy sinh của người chị sao mà lẫn lắm vị ngậm ngùi. Trên con đường chị đi những lối rẽ vẫn đột ngột xuất hiện bí ẩn và quyến rũ. Chị bước qua. Khuôn mặt ngửng cao, khép kín đến lạnh lùng nhưng thương lắm đôi bàn chân, đôi bàn chân dùng dằng lấp vấp. Phận đàn bà bấy nhiêu ước mơ, bấy nhiêu khao khát. Quanh đi quẩn lại vẫn bấy nhiêu khao khát ước mơ…
Tôi đã ngồi bên chị rất lâu. Từ khi không còn phân biệt được người quen kẻ lạ người ta bắt đầu nghe chị nói. Nói vu vơ không đầu không cuối. Mảnh nọ chắp vá mảnh kia. Chị nói như nói với chính mình, thủ thỉ, trầm trầm, nho nhỏ. Từ một phụ nữ chín chắn và kín kẻ bây giờ làng trên xóm dưới đều thuộc lòng những “ bản tin” đã phát và sẽ phát. Người ta kháo nhau, người ta bàn bạc, người ta cười cợt. Rồi người ta quay lưng đi, rất nhanh, quên bỏ chị như một chiếc bóng trong tuổi đời chập choạng. Bằng mẫu chuyện chắp vá của chị tôi gặp lại những mùa xuân có anh giáo xóm trên với những chiếc bánh in ngũ sắc. Chừng như lâu lắm rồi anh không về thăm quê nữa. Lần gặp sau cuối của họ cũng một buổi chiều xuân anh dẫn vợ về làng cùng với hai con… Tôi gặp hình ảnh một anh cán bộ tập kết bây giờ “làm to lắm” trên thành phố. Hồi mới giải phóng trở về vợ con chết hết vì chiến tranh, tổ chức có ý xe vào cho chị. Anh cũng lui tới ân cần lắm. Đỡ đần chị hết việc này đến việc kia. Nhưng mà đã hai thứ tóc rồi, tính tới tính lui chi nữa người ta cười cho. Gắng chút nữa thôi em út tới bờ tới bến là mình khỏe. Yên phận rồi. Sống thế nào để người ta còn nhìn vào nữa chứ. Phải rồi, bà con làng xóm này đã quá quen với hình ảnh chị, như một tượng đài để ngước lên nhìn ngưỡng mộ. Tiếng thơm của chị, người ta thêu dệt tôn thờ. Chị vô tình được đặt lên một chiếc ngai cao khó lòng chạm bàn chân xuống đất, cố nhốt một tiếng thở dài vào tận đáy tim.
Tôi giật mình khi hình ảnh một ông sĩ quan Phú Bài hiện ra đột ngột. Chú Hải đó, người đàn ông hào hoa phong độ mà “nữ sinh Đồng Khánh không mê” lại đi chết mệt vì một gánh rau xanh mướt. Nhưng mà : “Tui sợ lắm. Chiến tranh mà. Bữa ni làm bà Đại úy một bước leo lên xe, kẻ hầu người hạ. Túi đến đùng một phát, ngày mai đi nhận xác chồng, cắp rỗ khoai ra ngoài chợ bán. Tui một gánh bốn đứa em rồi, thêm bốn đứa con chồng trứng nước, sương làm răng nổi”. Hình ảnh chị trong mắt tôi chợt nhòe đi, lung linh sương khói. Ừ, thì chị là tượng thờ, chị ngồi trên ngai cho người ta chiêm ngưỡng nhưng chị không phải là thánh. Nào ai hay chị lặng lẽ khóc cười…
Nghe đâu ngay cả với mấy người em chị cũng nhầm lẫn lung tung. Ba ông em trai, không, bốn ông mới đúng. Phải kể cả chú Út bên Mỹ chứ. Chú vẫn là người thương chị nhiều nhất. Cả thím ấy nữa. Lâu lâu chú thím về thăm thì căn nhà nhỏ như bừng lên sức sống. Hai đứa cháu lăng xăng quanh quẩn ra vào. Người ta lại thấy chiều chiều thím Út ngồi chải đầu, bới tóc cho chị trên bộ phản sau hè. Một tay thím chợ búa bày món nọ món kia. Người ta lại trầm trồ khen thím nết na hiếu thuận. Đáp lời ngay sau đó, trong “ban hợp ca ba miền”, một giọng lĩnh xướng cất lên lãnh lót: “Vâng, chị em chúng tôi thì bì thế nào được. Thím ấy văn minh, thím ấy đi Tây đi Mỹ, thím ấy… ở xa”. Mà quả có thế thật. Ở xa thì dễ dàng lắm. Nết na hiếu thuận dăm bữa nữa tháng cũng dễ dàng lắm. Cứ chịu đựng nhau ngày này qua tháng khác thử xem. Khi đó mới biết tài biết sức. Chuyện đời vẫn thế đó thôi. Chú Út buồn nhiều lắm. Chú lặng lẽ ra bến sông, một mình. Và chị, chị vẫn đi tìm em trong bóng chiều chập choạng. Em vẫn nhìn giòng sông, khóc. Nhưng còn chị, chị đặt bàn tay lên bờ vai em, cười ngu ngơ. Chỉ có dòng nước dường như vô tình trôi, trôi mãi…
Tôi ở lại làng quê như thế đó, kéo dài đến hai ngày cho một chuyến đi đã được lập trình trong khoảng thời gian hạn hẹp. Tôi nhìn làng quê với cái nhìn lần sau cuối, lắng nghe vườn ruộng trở mình. Đêm, tôi nằm nghe rõ mồn một tiếng taxi về làng, tiếng bánh xe ngừng lại, tiếng đóng sập cửa xe, rồi tiếng con gái nói cười. Gái làng tôi bây giờ văn minh như vậy đó. Ban ngày, ầm vang tiếng xe ủi đất sau lưng nhà. Người ta đang thi công mở một tuyến đường băng qua đồng ruộng. Con đường bọc quanh, chạy sát mặt sau làng. Trong vườn tược xanh um thuở nào, một vài ngôi nhà mới cất lén lút vội vàng quay lưng với dòng sông, mở cửa sau nhoài mình ra con lộ lớn. Đất đai bắt đầu chia lô để bán. Các nhà đầu tư lăm le dự án với công trình. Người thì náo nức hớn hở, người thì hốt hoảng giật mình. Đâu đó lại dấy lên một vài nhà tranh nhau thừa kế. Bán đi, chia nhau vì đất đai đang hồi được giá. Không, phải giữ bằng bất cứ giá nào vì là mồ hôi nước mắt ông cha. Đây là từ đường, là hương hỏa. Có xa xôi gì đâu, trên mấy ngọn đồi kia mồ mả tổ tiên còn đó. Nhưng giữ, giữ nổi không? Giữ được bao lâu? Không những đất đai mà cả lòng người bị tấn công mọi phía. Phương án một sổ đỏ đứng tên hai ba người được đặt ra để người này kềm chân kẻ khác. Mặt phải, mặt trái cuộc đời bắt đầu lộ rõ chân dung. Trong cơn lốc vô tình mà quyết liệt này ai là người tự hào mình đứng vững , không thẹn với đất trời. Ngôi làng hai mặt. Phía trước trầm tư với am miếu mái ngói rêu phong lặng nhìn dòng sông và đồi núi chập chùng hoài niệm. Mặt sau mở tung cửa nẻo sơn đỏ sơn xanh háo hức đua chen chỉ chực đổi đời.
Tôi giã từ dòng sông, khoác ba lô lên vai bước dọc theo con đường bụi đỏ. Nhói lòng khi chợt nghĩ mình cũng đang ngoảnh mặt với dòng sông. Biết làm sao được. Tôi nhìn quanh lần cuối. Con đường này đã được nâng khá cao so với đất đai xóm làng phía dưới. Lúp xúp bên vạt cỏ hoang tôi thấy một vành nón lá. Lại chị Nguyệt. Tay cắp cái rỗ tre, chị ngân nga một câu đố dân gian: “Bằng đồng tiền nằm nghiêng trong bụi”. Chị đang tìm hái rau má, loanh quanh, luẩn quẩn trong bụi bờ hoang dại. Mảnh vườn như một cái ao nông kiệt nước, chị như con cá mắc cạn quay tới quay lui. Tôi nhìn rỗ rau lẫn với cỏ dại trên tay chị, đắng lòng. Mọi giá trị đã bị đảo lộn rồi ư? Am miếu hết thiêng, tượng thờ rơi xuống đất. Và khi bàn chân chị chạm được xuống đất thì tất cả đã tan tành. Chị cô đơn ngay trên mảnh đất chị tưởng như máu thịt cả một đời gắn bó.
Tôi dừng chân ở ngã ba. Cuộc đời vẫn đặt ta trước những ngã ba. Bắt buộc phải lựa chọn, bắt buộc phải chấp nhận mất còn. Cả làng quê nhỏ bé đáng thương đang đau đớn trở mình dưới kia cũng vậy. Và cái ngã ba này, ở đây, bắt đầu một con đường đưa tôi lên thành phố. Năm xưa, chính tại ngã ba này tôi cũng dừng chân nhìn làng quê lần sau chót trước khi làm một chuyến hành trình vào tận miền Nam. Bao nhiêu năm xuôi ngược cuộc đời, những cuộc tình đến rồi đi như bị chi phối bởi một quy luật huyền bí không thể nào nắm bắt. Rốt cuộc tôi cũng một mình. Tôi đơn độc. Xốc lại ba lô trên vai tôi nhìn chiếc bóng đổ dài trên con đường bụi đỏ. Con đường mở ra trước mặt. Vâng, tôi đơn độc, nhưng tôi, tôi bước đi.
NGÔ THỊ Ý NHI
VỀ THĂM CÁI GIẾNG
Ngô Thị Ý Nhi
Chị em tôi quê ờ Huế. Đó là quê nội, còn quê ngoại thì xa hơn chút nữa, ra đến Quảng Trị. Rồi theo cơn binh lửa dắt díu nhau vào Nam học hành , làm việc định cư luôn ở xứ sở hai mùa mưa nắng hiền hòa. Cách núi ngăn sông một dạo quê hương lối về xa xôi mù mịt. Một lần trở lại Huế, hai lần trở lại Huế… Ừ, thì Huế vẩn là Huế đó, có lạ lùng chi mô. Nhưng đôi lúc lặng người đi, nhìn xa xa chút nữa, Quảng Trị đâu rồi? Ngoài nớ chắc mô còn chi nữa. Chiến tranh chà qua xát lại. Đổ nát hoang tàn. Một người bạn đã bảo tôi rằng buồn lắm. Anh đã từng đi qua những gạch ngói ngổn ngang, những tường thành ám đen mùi khói súng nhưng chưa bao giờ thấy buồn như đi qua con đường đó. Cây dại và chuối hoang mọc ken đầy. Những buồng chuối vàng lặng thầm chín rục, lặng thầm rơi rụng không người hái. Hoang vu… Tôi không biết thời điểm nào con đường nào anh đã đi qua. Chỉ nghe và biết như thế về thành phố nhỏ, lòng chợt cồn lên một nỗi tê dại xót xa. Thành phố với những con đường nhỏ loanh quanh mà bàn chân một đứa bé lên năm lên sáu như tôi không thể nào qua hết. Tôi sống với ngoại ở đó, những ngày thơ dại, trong căn nhà cổ hình chữ L rộng thênh thang với khu vườn xanh mát bóng cây. Cây xoài , cây nhãn , cây mãng cầu, cây mít… Những cây ngoại trồng trừ cây ổi cho những chùm quả ruột đỏ au, cây mít thi thoảng được đôi ba trái xẻ ra cả nhà chia nhau khen tấm tắc. Những cây còn lại chỉ làm mỗi việc xòe tán lá xanh che mát một khoảng sân vườn. Mà hoàn thành nhiệm vụ đó cũng cả một sự kiên trì bền bỉ. Trời khi nắng thì nắng chang chang gió nam Lào quạt lửa, khi mưa thì mưa tầm tả dầm dề. Đất thì khô cằn lổn ngổn đá sỏi chen nhau. Tôi hết chạy khắp sân trước lại lùng sục vườn sau. Vườn có mấy bụi nhài ngoại trồng bên cửa sổ sáng sáng hé những nụ hoa trắng nõn thơm thơm. Rồi cũng mít, cũng nhãn và thêm cây khế nữa, khế chua. Ở cuối góc vườn là cái giếng. Là giếng “nhà mình” nhưng được rào chia hai phần không đều nhau. Hai phần ba miệng giếng lọt trong vườn. Một phần ba còn lại cũng thuộc đất vườn nhà mình nhưng lại trổ một lối nhỏ thông với ngõ sau để bà con bên ngoài đến gánh nước. Bởi người ta đồn nhau nước giếng này trong veo mà ngọt lắm. Con bé năm tuổi như tôi vẫn tì cằm vào thành giếng ngó xuống dõi theo những chiếc gàu thả xuống kéo lên. Tiếng gàu chạm lanh canh, tiếng nói cười rôm rã làm xao động một góc vườn tĩnh lặng. Trên thành giếng có con số 1959 được khắc và sơn màu đỏ chói. Ông ngoại bảo đó là năm xây cái giếng này. Chiến tranh đi qua, tất cả tan tành. Nhưng lạ lùng thay, giữa những ngổn ngang đổ nát đó con số 1959 vẫn còn trên thành giếng vỡ. Người ta kể với gia đình tôi rằng chị Hòa, một người làm cũ của ông bà ngoại, lâu lâu đi chợ lại tìm về chốn cũ, ghé bên giếng, lột nón lá ra, ngồi khóc. Hình ảnh đó đã chạm vào những vỡ nát lòng tôi, chạm vào nơi sâu thẳm nhất…
Rồi thì cũng có một ngày mấy chị em kéo nhau về quê ngoại, trên chuyến xe đò cũ kỷ già nua. Cũng đã nhiều đổi thay nhưng sao đâu đó vẫn gặp lại điều gì rất cũ. Giọng bolero trầm đục buồn buồn, cái lon sữa bò hoen rĩ trước mặt người ăn xin. Cũng thúng mủng, cũng đòn gánh và nón lá. Những chiếc nón lá dãi dầu, tấm áo bạc mồ hôi. Và Quảng Trị, cái chất giọng Quảng Trị thì còn lẫn vào đâu được. Qua cầu Mỹ Chánh trên con đường hai bên cát trắng, cát trắng chói chang. Đâu có xa xôi gì một hành trình chừng sáu mươi cây số. Ừ, đâu có xa xôi gì. Sao mình không về? Sao không về?
Quảng Trị đây rồi. Cảm giác đầu tiên của tôi là một cái gì thật bất ngờ ôm choàng lấy mình, thân thiết và da diết đến trào nước mắt. Cũng mặt đất đó, cũng bầu trời đó, cũng ngọn gió đó, gợn mây đó. Như một vòng tay ôm. Đó là vòng tay thiết tha của bà mẹ tảo tần xăng xái, tất bật lo toan trọn vẹn trong ngoài. Tôi nhìn quanh. Nhà cửa đã bắt đầu mọc lên, đường xá đã ngay hàng thẳng lối. Mấy cây bàng con con mới tập tành xòe một chút bóng râm. Thành phố hồi sinh sau bao đổ nát. Tôi tìm thấy con đường Trần Hưng Đạo và bước chân như bị cuốn hút đi. Trên cầu Ga đi về, bên phải sẽ là ty Công Chánh của ông ngoại, bên trái là bệnh viện nơi mẹ làm việc. Vừa đi vừa nhìn quanh quất nhưng đâu còn gì của ngày xưa. Chỉ còn ngôi trường Bồ Đề sừng sững đập vào mắt tôi dấu tích của tháng ngày binh lửa. Những bức tường loang lỗ đạn bom ám đen màu khói súng. Cả một thành phố tội nghiệp chợt hiện ra. Tôi vẫn nhớ, vẫn nhớ con đường và ngôi nhà của ngoại, tường quét vôi vàng, khung cửa nâu. Những ngày mưa tôi áp mặt mình vào song cửa ngó mãi ra đường. Những chiếc xe GMC chở lính lũ lượt chạy qua. Những chiếc xe đội mưa, phủ bạt và không bạt, nòng súng chỉa lên trời. Họ đi về đâu, về đâu không biết nữa. Đó là một hình ảnh buồn, trong trái tim non nớt của tôi. Thành phố với tiếng đại bác lâu lâu vọng về. Lâu dần thành ra quen thuộc…
Tôi đi quanh quất nhìn trước nhìn sau. Nhà cửa chưa nhiều lắm, phần lớn tập trung dọc hai bên đường. Chịu, không thể nào xác định được vị trí nhà ngoại ngày xưa. Căn nhà số 135 Trần Hưng Đạo cũng nằm ngoài mặt đường có giàn hoa ti-gôn đỏ chỉ còn trong ký ức. Cái giếng… may ra thì còn cái giếng. Nhưng cái giếng tôi cũng không thể tìm ra.
Vài năm sau chúng tôi trở lại trên một chuyến xe tiện nghi hơn để thấy thành phố nhiều đổi thay hơn. Nhà cửa bắt đầu san sát nhau, phố xá bắt đầu tấp nập, hàng quán vui vẻ tiếng cười. Thằng em vốn năng động và tháo vát đã hỏi gần hỏi xa đi đúng trọng tâm tìm ra cái giếng. Chúng tôi gặp lại nó, cái giếng của chị em tôi. Nhưng nó không còn là cái giếng vỡ mà chị Hòa một dạo ghé qua lột nón lá ngồi khóc nữa. Thành giếng được tô tròn vành vạnh và con số 1959 được sơn màu đỏ chót, màu của ông ngoại ngày xưa. Chỉ có điều nó không còn chiếm hữu một góc vườn thênh thang ngó trời ngó đất, mà lui về nép vào một góc trong căn nhà nhỏ. Đất thành phố mà, mấy ai còn để trống. Chúng tôi nhìn ngắm nó, chạm bàn tay vào nó, hỏi han vị chủ nhà. Anh cho biết đã về đây dựng nhà lập nghiệp. Anh kể với mẹ tôi rằng khi đào bới mảnh đất này anh có nhặt được một cái nhẫn. Và anh cũng thực lòng thú nhận rằng hồi đó cơ cực quá anh đã bán mất rồi. Vâng, ngày đó thì có cái gì người ta cũng bán. Nếu tôi có nó tôi cũng đâu giữ được nó. Tôi cũng bán ăn. Ai cũng đói mà. Chúng tôi từ giã rồi rủ nhau đi quanh quất mấy con hẻm sau nhà. Những ngôi nhà cấp bốn xinh xinh, những vuông sân, những mảnh vườn nho nhỏ. Những cây mít, cây nhãn gầy guộc mang một dáng dấp rất riêng. Chị em tôi đi loanh quanh trong vòm trời thơ ấu của mình.
Vậy là từ đó lâu lâu chị em tôi lại rủ nhau “về thăm cái giếng”. Cuộc sống cứ mải miết trôi, thành phố không ngừng phát triển. Mảnh đất nhỏ cũng lắm đổi thay, mấy lần đổi chủ. Con phố khác xưa số nhà cũng đổi tới đổi lui. Mỗi lần về lại tìm tòi lại hỏi han đi tìm một thành giếng cũ. Lần gần đây nhất lại một vị chủ nhà mới. Mảnh đất xưa giờ đã xẻ lô mở quán ăn, lập cửa hàng kinh doanh mua bán. Đất mặt tiền mà. Gặp anh bộ đội phục viên, anh cho biết gia đình anh chỉ thuê lại chỗ này. Thấy mẹ tôi đầu tóc bạc trắng anh không ngần ngại xin ôm mẹ một cái; “Mẹ, con là bộ đội Trường Sơn, dọc ngang khắp cả. Chỉ tiếc một điều là đi về thì không còn mẹ.” Từ vòng ôm đó khoảng cách thu lại rất gần. Chuyện chiến tranh, chuyện hòa bình, chuyện nhịp sống thành phố từng ngày thay đổi.
Rồi cũng đến lúc từ giã anh chủ nhà mà sự vồn vã có trên mức bình thường một chút. Ra đi không ai bảo ai nhưng cả mấy chị em đều thấy thiếu một cái gì. Cái giếng, đúng là cái giếng. Lần này trở về không còn gặp được nó. Nó vẫn còn đó nhưng nhà cửa sau bao lần sửa đi xây lại, tấc đất tấc vàng, lần này nó ẩn mình sâu hơn chút nữa. Nó nằm… trong phòng ngủ của gia đình. Chủ nhà nhiệt tình lắm nhưng cả đoàn ai cũng ngại. Thôi thì biết nó còn đó để nhủ lòng rằng mình đang đứng trên mảnh đất của ngày xưa, con đường này cũng ngày xưa, thành phố này cũng ngày xưa…
Điểm tâm ở Đông Hà. Vào quán, món xôi gà được dọn ra. Chúng tôi mở to mắt ngó. Một “đọi” xôi, mỗi người một đọi. Mới sáng ra ăn làm sao hết. Từ tốn, nhẫn nha từng thìa một, vừa ăn vừa thương cái xứ “ăn chắc mặc bền”. Cuối cùng thì cũng xong, thanh toán luôn cả dĩa dưa môn quen thuộc ăn kèm nữa. Dưa môn, mẹ tôi cũng là dân dưa môn. Tôi nhìn bàn tay mẹ, những đồng tiền chắt chiu nuôi đàn con khôn lớn. Đồng tiền khi đã vào tay mẹ thì vấn đề đặt lên hàng đầu là đảm bảo việc học hành cho mấy đứa con. Tôi chợt nhớ đến ông chủ nhà bộ đội Trường Sơn và tấm bằng đỏ anh lôi ra từ cốp xe. Con gái anh đó. Giỏi lắm. Tốt nghiệp Đại Học rồi được nhận vào làm việc cho một công ty lớn lắm. “Mình cực mà. Chỉ có học mới thiệt đổi đời”. Khi ra về, chị bán nước trước nhà nháy mắt bảo tôi rằng hồi chiến tranh anh bị thương nặng lắm chết đi sống lại nên bây giờ đầu óc… đôi lúc không được bình thường. Tôi mỉm cười ngước nhìn trời xanh. Thái độ vồ vập nhiệt tình của anh cũng có cao hơn mức bình thường một chút nhưng “chỉ có học mới thiệt đổi đời” thì đâu có bất thường.
Những con đường thênh thang dọc ngang bốn phương tám hướng trải dài trước mắt. Cam Lộ, Lao Bảo, Khe Sanh, A Sao, A Lưới… những cái tên quen thuộc của một thời khói lửa ngút trời. Tôi lại nhớ về thành phố nhỏ. Ô cửa sổ với những chấn song tôi áp mặt vào mở to đôi mắt nhìn hoài nhìn hoài trời mưa. Những chiếc xe GMC chở đầy lính đội mưa đi về đâu không biết.
Quê tôi là Quãng Trị
Mệnh danh tuyến địa đầu
Hai câu thơ học trò của một người bạn in trong nội san trường tôi. Tôi nghĩ đến anh, người bạn cùng trang lứa. Tuổi trẻ chúng tôi, nghe tiếng bom dội vào từng trang sách. Chiến tranh kéo dài thêm chút nữa, rồi cũng đến lượt anh cầm súng. Giày saut, áo trận, bốn vùng chiến thuật bước chân anh về đâu? Và mảnh đất này, nơi chảo lửa chiến tranh, nơi địa đầu giới tuyến. Biết đâu…
Giờ thì anh đã mất, ở một nơi xa xôi lắm. Đã có bao giờ anh trở lại Đông Hà – Quãng Trị, nơi mà chiến tranh đã bứt lìa anh, đẩy anh đi biền biệt. Anh có như tôi bây giờ trở về đặt chân lên mảnh đất này, con đường này, nhìn lên bầu trời này mà chớp mắt, chớp mắt… Tôi bước xuống xe bên vệ đường trong một chặng dừng chân. Một bà cụ ngồi dưới gốc cây bày bán mít. Quả mít chừng của vườn nhà mới chín được cẩn thận cắt xẻ từng miếng. Mủ trái cây ứa ra trên những múi vàng ươm. Lưng hơi còng xuống, cái nón lá cũ kỷ đội đầu, bà cầm một tàu lá chuối nhỏ phất qua phất lại. Những quả mít hiếm hoi trong khu vườn nhỏ. Sau lưng nhà ngoại cũng có những khu vườn như thế, những ngôi nhà như thế. Và con bé trạc tuổi tôi, tên Vĩnh, thi thoảng cũng được mẹ xẻ cho một quả mít đem ra bên cột điện lề đường bày bán. Nó chỉ lớn hơn tôi vài tuổi nhưng trông già dặn lắm. Nách theo một đứa em, nó đuổi ruồi bằng một túm lá sầu đâu phe phẩy. Tôi chạy ra chạy vô đứng bên này đường thèm thuồng nhìn nó. Tôi muốn được như nó, muốn có một đứa em để ẳm bồng, muốn có một thứ gì đó để bán mua mời mọc. Ở trong Huế mẹ cũng sanh liền cho tôi mấy đứa em chớ. Nhưng tôi không ở với mẹ. Ông bà ngoại “bắt” tôi về nuôi vì mẹ là con gái út lấy chồng xa, nhà cửa vắng vẻ quá. Và cứ thế tôi vô ra một mình trong ngôi nhà cổ, trong sự thèm thuồng tưởng chừng như vô lý của tuổi thơ. Tôi bắt chước nó, tha thẩn hái những dái mít non còn lấm tấm phủ cám. Một cái rổ con con, mấy mảnh lá chuối tươi, tôi cũng bày hàng bên chiếc cột trước hiên nhà. Tay cầm túm lá nhãn quơ qua quơ lại với một con búp-bê đặt kế bên, tôi chào mời những khách hàng tưởng tượng, đếm tới đếm lui những đồng tiền lá mít của mình. Cuối cùng con Vĩnh cũng bán xong trái mít của nó. Nó cắp rổ bế em về. Ngỏ nhà nó phải đi ngang qua nhà mụ Cường. Nó chẳng sợ mụ Cường. Cứ nhìn khuôn mặt tỉnh bơ của nó thì biết. Tôi không phải là nó. Khuôn mặt già nua nhăn nhúm của mụ Cường không bao giờ tôi dám nhìn thẳng. Thoáng thấy mụ là tôi chạy trốn. Từ nhỏ mỗi khi quấy khóc không ngoan là mệ ngoại lại đem mụ Cường ra dọa. Tôi sợ căn nhà bí ẩn của mụ. Căn nhà có cái chồ lúa luôn luôn đóng cửa mà người ta bảo tôi rằng đó là nơi mụ nhốt những đứa con nít lọt vào tay mụ. Tôi không dám ra khỏi nhà một mình. Chỉ dám mở hé chiếc cổng sắt thò đầu ngóng ông ngoại đi làm về từ ty Công Chánh phía trên ga, hoạc ngoái về phía Sải chờ mệ đi chợ về. Nhưng tôi lại rất thích căn nhà bên phải, cách nhà ngoại một con hẻm nhỏ. Cửa nẻo luôn mở, nhà này xay bột để bán. Bột gì tôi không biết chỉ nghe mùi chua chua. Tiếng cối xay đều đều nhịp cùng tiếng hát. Đôi lúc hứng lên, hát tới hát lui một câu duy nhất “Đêm nay trăng sáng quá em ơi / Sao tim anh lạnh lẽo như cà-rem ở trong lò”.Đó là anh Nuôi, người xay bột. Tôi chỉ thoáng thấy cái lưng trần đẫm mồ hôi của anh, còn khuôn mặt anh, tôi không hề nhớ. Khuôn viên nhỏ bé của tôi quanh đi quẩn lại chỉ có thế.
Nhưng khi những cơn mưa dai dẳng của miền Trung muốn dứt mà chưa dứt hẳn. nắng vàng chỉ mới hé những sợi run rẩy cuối vườn thì căn nhà cổ như ấm hẳn lên. Trong giỏ đi chợ của ngoại đã có một hai thứ hàng Tết. Bắt đầu là măng khô, nấm mèo, miến, nếp, đậu xanh… Tiếp theo là hương vị của mứt. Ngoại làm đủ thứ. Mứt gừng, bí đao, thơm, me… Mà có cả me dầm, bánh in nữa. Thế mới thích chớ. Tôi vui lắm, lùng sục sân trước vườn sau, chạy nhảy quanh nhà líu lo ca hát “Đêm nay trăng sáng quá em ơi…”.Ông ngoại nghe được cấm tôi không được hát. Nhưng tôi vui quá mà. Rồi gia đình các cậu về ăn Tết. Cả ba mẹ cũng đem các em về nữa. Dĩ nhiên cái giếng là nơi chứng kiến tất cả sự rộn rịp đó. Mâm thau, xửng bánh, tam sự… được đem ra thay nhau chùi rửa. Người vô kẻ ra nói cười rôm rả. Những chiếc gàu kéo lên kéo xuống chạm vào thành giếng lanh canh. Cây khế xòa xuống, lấm tấm hoa. Bầu trời cao hơn, trong hơn và chim về nhiều hơn.
Tôi chỉ chờ con Vĩnh xuất hiện bên thành giếng là chạy vội ra hăm hở: “Tau cũng có em”.Chỉ cần có thế. Niềm vui vỡ òa trong tôi. Có em thì hạnh phúc quá đi chớ. Tôi đâu còn phải chơi lủi thủi một mình. “Giả đò” mua bán, “giả đò” nấu ăn… Hai cái khăn mặt nhét vào lưng quần, một trước, một sau làm vạt áo dài, tôi le te dắt theo đứa em đi tới đi lui góc sân nơi mấy chậu thược dược ông mới chở về “giả đò” đi chợ Tết. Rồi dẫn em ra giếng nghiêm mặt dặn dò em không được ra đây một mình, không được nhón chân nhìn xuống giếng. Mà quả tình bây giờ tôi cũng không nhớ lúc đó hai chị em cao hơn thành giếng được bao lăm. Thành giếng có con số 1959, năm sinh của em tôi, cái giếng nhỏ hơn tôi hai tuổi. Và cái thành giếng đó, cái thành giếng nơi chị Hòa tìm về lột nón lá ngồi khóc. Chị có nhớ những mùa xuân…
Lần này chúng tôi không gặp nó, cái giếng của tuổi thơ tôi. Buồn lắm. Buồn nên nghĩ lan man nhiều lắm. Mẹ bảo xưa nay người mình không ai lấp đi một cái giếng. Tôi tin như thế. Cả mấy chị em đều tin như thế. Ừ, ai mà nở lấp đi. Nó tươi mát thế kia, trong trẻo thế kia, hồn nhiên thế kia… Qua bao thăng trầm đổ nát nó vẫn còn đó, ngóng chờ những bước chân xa xứ tìm về. Vâng, cái giếng vẫn còn đó. Chỉ là nó khép mình vào một góc khuất, khép lại một bầu trời, khép lại một vùng ký ức, nhưng trong lòng nó những mạch ngầm tươi mát vẫn tràn trề…
Chúng tôi cho xe chạy qua cầu Hiền Lương. Đi qua để có cảm giác mình đã đi qua vì con đường trước mắt thênh thang quá và bầu trời thì rộng quá. Tôi lại nhìn trời xanh chớp mắt, chớp mắt… Mai về lại Huế rồi. Huế là quê nội của tôi, quá nhiều tình thân, quá nhiều gắn bó. Mỗi lần xa Huế lòng tôi lại dấy lên những ngậm ngùi, lưu luyến nhưng còn Quảng Trị… Quảng Trị ơi, sao mỗi lần rời xa Quảng Trị tôi cứ phải cắn môi trào nước mắt.
N.T.Y.N
Bài 11
NHẠC SĨ NGUYỄN PHÚ YÊN
TỪ “TIẾNG CA GIỮ NƯỚC” ĐẾN “BƯỚC TIẾP NHỮNG MÙA XUÂN”
(Nguyễn Phú Yên là con rể của bà Hoàng Thị Tiêm (Đ15)-chồng của bà Lê Thị Quyết và là thân phụ của ca sĩ Đông Quân.)
Bài của VÕ QUÊ
Trong các năm từ 1970 đến năm 1972, cùng với cuộc đấu tranh chống Mỹ trên mặt trận đường phố của thanh niên sinh viên học sinh miền Nam, chương trình “Hát cho đồng bào tôi nghe” đã dâng lên thành một cao trào lớn mạnh trên các thành phố Sài Gòn, Huế, Cần Thơ, Đà Lạt. Từ “Hát cho đồng bào tôi nghe “ đã xuất hiện nhiều nhạc sĩ tên tuổi nòng cốt như Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn, Trương Quốc Khánh, Nguyễn Văn Sanh, Trương Thìn, La Hữu Vang, Nguyễn Xuân Tân, Nguyễn Tuấn Kiết, Nguyễn Nam, Trần Xuân Tiến… và nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên của Huế được tuổi trẻ học đường miền Nam biết đến nhiều qua ca khúc “Thuyền em đi trong đêm” với nội dung ngợi ca người con gái giao liên trong vùng giải phóng.
Nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên sinh năm 1946 tại An Truyền (tức làng Chuồn), xã Phú An, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế. Lớn lên từ một miền quê có hồn văn hóa mang bản sắc dân tộc với nhiều lễ hội, các hình thức tín ngưỡng dân gian như đám chay, xuân tế, thu tế; với hát bội, với điệu thài mang âm hưởng lễ nhạc chốn cung đình… Nguyễn Phú Yên đã sớm tiếp cận với các loại hình nghệ thuật truyền thống của quê hương. Sau khi tốt nghiệp cùng lúc hai trường Đại học Văn Khoa Huế, Đại học Sư Phạm Huế năm 1969, Nguyễn Phú Yên vào dạy học ở Phan Thiết. Tại đây ca khúc “Mười năm”, phổ thơ của nhà thơ Nguyễn Như Mây đã trở thành một kỷ niệm đẹp của anh trong những ngày tháng gắn bó, buồn vui giữa miền gíó cát cực nam trung bộ.
Khi trở lại Huế trong những năm 70, 71, 72… là thành viên tích cực của Nhóm Việt, Nguyễn Phú Yên đã hòa nhập vào phong trào đấu tranh chống Mỹ của thanh niên, sinh viên, học sinh Huế. Thực tế sinh động, hào hùng từ những cuộc hội thảo, xuống đường, những đêm không ngủ, từ những lần nhiệt thành, tâm huyết cùng Đoàn Công tác Xã hội Sinh viên Học sinh Huế thâm nhập về những vùng quê xa xôi bị bom đạn Mỹ tàn phá, hủy diệt tàn khốc đã trở thành chất liệu sống giúp anh nguồn hứng khởi sáng tác trong một mạch nguồn nhất quán là đất nước, quê hương yêu dấu, là con người Việt Nam gian khổ mà bất khuất, dũng khí.
Những ca khúc của Nguyễn Phú Yên như “Nhà em dưới mái trường sơn”, “Cô giáo trẻ trên bản làng xa”, “Thuyền em đi trong đêm”, “Công trường chiều nay”, “Thừa Phủ ơi lòng ta hồng biển lửa” (phổ thơ Võ Quê), “Sài Gòn ơi, vùng lên”,” Tiếng chim rừng hót mừng sông núi”… đã được ngân vang trong các chương trình “Hát cho đồng bào tôi nghe” thời ấy và được in trong các tuyển tập “Tiếng ca giữ nước”, tập ca khúc in chung với Tôn Thất Lập (Hội Sinh Viên Sáng Tác, Tổng Hội Sinh Viên Huế,1970); “Hát cùng đồng bào ta”, nhiều tác giả (Hội Sinh Viên Sáng Tác, Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn, 1971); Tạp chí Đối Diện (1970-1971); “Thuyền em đi trong đêm”, đĩa hát ghi chung với Hồng Vân, Tôn Thất Lập (Nhóm Cửu Long, CHLB Đức, 1974), “Tiếng hát những người đi tới”… Nhạc sĩ Tôn Thất Lập đã rất tâm đắc viết về anh trong giai đoạn đó: “ Từ những năm đầu thập niên 70, một dòng nhạc dấn thân đậm đà bản sắc dân tộc được dàn trải trên những tiết tấu hiện đại đã lôi cuốn thanh niên, sinh viên, học sinh lao vào các cuộc đấu tranh cách mạng tại các đô thị miền Nam. Đó là những ca khúc của nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên. Âm nhạc của anh tuy hòa chung vào dòng nhạc phong trào nhưng đã sớm bộc lộ một sắc thái riêng rất dễ nhận biết…”
Sau 1975, tiếp nối quá trình sáng tác trong những năm trước đây, mặc dầu bề bộn với công tác ở báo Tuổi Trẻ, nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên vẫn âm thầm miệt mài viết nên nhiều ca khúc mà theo nhạc sĩ Tôn Thất Lập thì “những ca khúc mới sau này của anh đã mở ra hướng tìm kiếm để hòa nhập vào những hơi thở trẻ ngày nay”. Một trong những nét nổi bật của nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên trong sáng tác là anh thường đồng cảm sâu sắc với một số tác phẩm thơ của các nhà thơ để phổ thành công những bài thơ về quê hương, về mẹ, về tình yêu mà tiêu biểu là các ca khúc “Gửi Huế thân yêu”, thơ Tạ Nghi Lễ; “Bóng mẹ quê nhà”, thơ Phạm Thanh Chương, “Chợt nhớ quê xưa”, thơ Hồ Đắc Thiếu Anh; “Vẫn ngày xa xưa ấy”, thơ Nguyễn Thị Xuân Thủy; “Hỡi người tình nhỏ”, thơ Đỗ Trung Quân… Mối quan hệ mật thiết giữa thơ ca và âm nhạc đã được Nguyễn Phú Yên tạo nên những giai điệu đẹp, thuần khiết, trữ tình để từ đó nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên lại có thêm một bộ phận công chúng mới yêu thích và hát những ca khúc của anh.
Vốn quen thuộc với các sinh hoạt cộng đồng, luôn gắn nghiệp vụ của mình trong đời sống xã hội, nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên thường tích cực hưởng ứng tham gia vào các cuộc vận động sáng tác ca khúc của nhiều nơi tổ chức và anh đã gặt hái những thành quả đáng trân trọng qua các ca khúc: “Bước tiếp những mùa xuân” (giải khuyến khích cuộc vận động sáng tác về đề tài Thống nhất Tổ quốc, Hội Văn Nghệ Giải phóng, 1976); Các ca khúc trong phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe”. Thành viên của tập thể các nhạc sĩ sinh viên đoạt Giải thưởng Hồng Mai Lưu. 1990); “Bài ca Thanh niên” (giải hưởng ứng cuộc vận động sáng tác đề tài Thanh niên, Hội Liên Hiệp Thanh Niên Việt Nam, 1994); “Gửi Huế thân yêu” (giải A cuộc thi sáng tác về Huế, Thành phố Huế và Hội VHNT Thừa Thiên Huế, 1995).
Bây giờ, tuy nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên đang công tác và sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh xa xôi, nhưng anh cho biết nguồn cảm hứng sáng tác về Huế quê hương vẫn còn bền bỉ nung nấu trong tâm hồn anh từng giai điệu nhớ: “ Mẹ đã sinh con trên một bến đò. Nên suốt đời con dạt dào sóng vỗ. Từ đất quê xưa mưa dầm nắng đổ. Con lại ra đi bao dặm đất trời. Con vẫn thầm mong nghe giọng à ơi… Lòng nhớ thương hồi làng quê ngày ấy…( Ca khúc “Ơi mẹ mến yêu”)

Nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên và con là ca sĩ Đông Quân.

V.Q .
Bài 12 .
PHAN HỮU LƯỢNG VÀ LÊ THỊ THANH QUÝ-
TÌNH YÊU VÀ NGHỆ THUẬT TỪ
PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA SINH VIÊN HUẾ
- Phan Hữu Lượng là chồng của bà Lê Thị Quý,con rể của bà Hoàng Thị Tiêm (Đ 15).
- Ngày 1.8.1971,Tổng Hội Sinh Viên Huế thành lập Đoàn Văn Nghệ Sinh Viên Học Sinh Tranh Đấu trên cơ sở Đoàn Văn Nghệ đã hoạt động từ năm 1970.Sinh viên Phan Hữu Lượng là Trưởng Đoàn.Lê Thanh Quý là một giọng ca vàng của Đoàn.Tình yêu và hôn nhân của họ như loài hoa nở ra từ những ngày tháng đấu tranh.Ngoài khả năng văn nghệ biểu diễn,Phan Hữu Lượng còn là nhạc sĩ sáng tác và là họa sĩ.Hiện anh là giảng viên của trường Đại Học Mỹ Thuật Huế.

Ca sĩ THANH QUÝ

Phan Hữu Lượng thời tranh đấu

Phan Hữu Lượng từ Huế bay vào TPHCM hát trong lễ tang nhạc sĩ Tôn Thất Lập.
Bài 13
CA SĨ THANH HÀ
HÁT NHẠC HOÀNG THI THƠ VỚI CHẤT GIỌNG CỦA THỜI ÁO TRẮNG
“Thanh Hà rất vui và hân hạnh được đọc trang web họ Hoàng. Quả là các anh chị đã dành cho họ Hoàng một phần tâm ý rất
lớn, cùng với thời gian và nghệ thuật cũng không nhỏ. Thanh Hà đónnhận nó như một món quà quí giá. Được đọc lại, nhìn lại những hình ảnhcủa gia đình bên ngoại, hay được nghe chính tiếng hát của mình với dòng nhạc của người cậu kính yêu Hoàng Thi Thơ qua trang web họ Hoàng, Thanh Hà nghĩ rằng nếu chỉ nói lời cảm ơn thì vẫn chưa đủ. Xin chúc mừng sinh nhật của trang web họ Hoàng.”
Thanh Hà.-Cháu ngoại Đ.15 (C.A.-USA))

THANH HÀ-Cháu ngoại Đ 15


Bài 14
VỀ VỚI BÍCH KHÊ
ĐỖ TRUNG QUÂN
* Nhà thơ Đỗ Trung Quân có mối quan hệ rất đặc biệt với làng Bích Khê.Ông không phải là con cháu bên nội hay bên ngoại gì cả.Ông là đệ tử ruột của Hoàng Ngọc Biên (Đ 17) và tự nguyện coi làng Bích Khê là quê hương của mình.Từ Thành Phố Hồ Chí Minh,ông đã hơn một lần về thăm làng,thắp nhang viếng nhà thờ Chi,nhà thờ Họ,Đàn Nghĩa Trủng.Sau đây là cảm nghĩ của ông khi về thăm làng Bích Khê.
________________________________________
Trời đã chiều, hứa hẹn một cơn mua lớn. Miền Trung quá nóng. Cơn mưa có làm giảm nhiệt đất nghèo này? Tôi để vài nguời bạn ở lại quán ăn, nhảy xe ôm hỏi đuờng tìm ra Nghĩa Trũng. Nhà báo Lê Đức Dục nguời bạn thân ở đây đi vắng. Anh đang lang thang tận đất Lào…
Bao giờ đến Quảng Trị tôi cũng phải ra thắp nhang ở Nghĩa Trũng. Ít nguời biết đây có thể đuợc xem là Nghĩa trang Quốc gia đầu tiên ở Việt Nam. Họ Hoàng – Hiệp Biện Đại Học Sĩ Hoàng Hữu Xứng cùng cụ thân sinh đã thành lập Nghĩa Trũng từ hơn trăm năm truớc khi ra Thăng Long làm việc nuớc. Nghĩa Trũng là nơi cụ qui tập hài cốt của liệt si Tây Sơn theo vua Quang Trung giải phóng Thăng Long bỏ mình nơi đất lạ quê nguời và sau này là hài cốt những nguời tha hương, vô danh, không thân nhân, bỏ thân nơi miền gió cát. Nghĩa Trũng là công đức lớn của họ Hoàng. Và bây giờ, không chỉ họ Hoàng. Tôi đến vái lạy huơng linh những nguời đã khuất và chiêm nghiệm cái đức của tiền nhân. Nghia Trũng nằm giữa đồng. Con đuờng nhỏ nhưng đã dễ đi là nhờ đóng góp của con cháu họ Hoàng, ôm theo mép ruộng. Mấy năm truớc chỉ bùn lầy.
Buổi chiều vần vũ. Cái nóng vẫn ghê nguời. Tôi vái lạy giữa chiều mênh mông. Tôi xin bình an cho những nguời thân, gia đình và bạn bè. Tôi khấn cầu bình an cho một vài người họ Hoàng ở xa… Không một ngọn gió, vậy mà bó nhang to trên tay bùng lửa ngùn ngụt. Tay mình bị phỏng. Phải chăng lời cầu an đã đuợc chứng giám? Tôi quỳ mọp tạ ơn, không dám ngẩng đầu rất lâu, nguời rợn những cơn ớn lạnh và sau đó làm thủ tục cắm nhang trên khắp các vuông đất của đàn Nghĩa Trũng. Tấm văn bia ghi tên tác giả là môt hậu bối nổi tiếng của họ Hoàng – nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tuờng – vẫn còn rõ nét.
Mưa đổ, cánh đồng cô quạnh buồn thê thiết nhung lòng lại thấy bình an giữa Nghĩa Trũng. Đấy là buổi chiều tháng ba 2010.Tôi từng đi cùng anh chị Hoàng Ngọc Biên về đây.Tôi cũng từng đua cô Muời (Hoàng Thư) Hương về đây. Và nghe nói từ đó, xuyên qua cánh đồng làng, giữa cái màu xanh tha thiết của lúa, có một con đuờng tên gọi nghe quê quê mà ấm áp: đuờng “Ôn Viên”!Tôi vẫn một mình tìm đến đây mỗi khi ghé Quảng Trị, về làng Bích Khê – nơi có ngôi nhà thờ họ Hoàng. Nhìn những vòm me cong của “Đuờng xua lối cũ” và con sông Thạch Hãn, tôi cũng nhớ ra mình đang đứng trên chỗ đất quê ngọai của chị Tân Nhân ca sĩ vang bóng một thời nay đã “xa khơi“. Nhìn sông, tôi hình dung chú bé Sim – nguời bạn vong niên – nguời thầy, dù chẳng bao giờ chịu tự nhận là thầy. Hẳn là thời niên thiếu lão ông này đa từng đắm mình trong dòng nuớc rất xanh ấy.
Tôi là kẻ thuờng nghĩ mãi không nói ra đuợc một gốc gác hợp với ý mình.
Nhưng thôi, giờ đây tôi biết tôi đã có một quê nhà…
ĐỖ TRUNG QUÂN

ĐỖ TRUNG QUÂN
Bài 15.
ẤN TƯỢNG VỀ QUÊ MẸ

Bài của Tú Anh Sébatien Rozette
Tôi tên là Tú- Anh Sébatien Rozette,sinh ngày 14 tháng 8 năm 1992.Tôi là con út trong gia đình.Tôi còn có chị ruột là Kim Anh Sonia,sinh viên Y khoa.Ba tôi là Marc Rozette.Mẹ là Xuân Hồng Rozette .Mẹ tôi là con gái họ Hoàng đời 17.Như thế tôi là người mang hai dòng máu Pháp-Việt và là cháu ngoại đời thứ 18 của họ Hoàng.Gia đình chúng tôi cả bốn người hiện sinh sống ở Paris.Vào năm 2009 tôi có dịp theo gia đình về thăm đất nước Việt Nam.
Lần đầu tiên về thăm quê mẹ,biết nói sao cho hết cảm xúc của mình với đôi dòng ký ức này!Ngay khi máy bay vừa hạ cánh ở phi trường Tân Sơn Nhất ,tôi thấy đôi mắt của mẹ tôi đã đẫm lệ.Tôi hiểu rằng đó là những giọt nước mắt dành cho quê hương và điều đó cũng có nghĩa rằng con người ta không bao giờ có thể quên được nguồn cội của mình.
Ra khỏi phi trường chúng tôi mắc phải một trận mưa ào ạt rồi lọt vào đám đông dày đặc xe máy nhấn còi inh ỏi, lại thêm có cả một đội quân bán hàng rong đeo bám.Nhìn lên trời thấy bầu trời Sài gòn giăng đầy dây điện như mớ bòng bong.Cảnh tượng thật khác xa với bên Pháp.Buổi tối tình trạng càng náo nhiệt hơn khiến cho tôi cảm thấy mình như người bị mất hồn.
Sau đó chúng tôi đến Huế- thành phố này như một cô gái trầm lặng và hiền hòa hơn nhiều so với bà chị Sài gòn của nó.Giọng Huế có nhiều âm điệu đặc biệt và đó cũng chính là giọng nói tiếng Việt của mẹ tôi.Rồi qua những cuộc tham quan các đền chùa,lăng tẫm,cung điện… tôi được biết rằng thành phố Huế là một trung tâm văn hóa của cả nước.Chúng tôi hỏi thăm bộ phận tiếp tân của khách sạn xem thử họ có biết địa chỉ của một ông chú của chúng tôi là nhà văn Hoàng Phủ NgọcTường thì hầu như ở Huế ai cũng biết ông.Té ra ông là một nhân vật rất nổi tiếng và là một nhà văn hóa có tầm cỡ.Chúng tôi đã đến thăm ông hai lần.Mặc dầu ông bị bệnh bất toại nhưng cuộc gặp gỡ nầy đã để lại cho chúng tôi một ấn tượng rất sâu sắc.
Hôm sau chúng tôi tìm đường về thăm quê ngoại.Chúng tôi về đến làng quê ở tỉnh Quảng Trị sau hai giờ xe hơi.Ở đây hỏi đường vào nhà thờ họ Hoàng thì ai cũng biết.Có một người tình nguyện ngồi lên xe chỉ đường cho chúng tôi đến tận nơi.Chúng tôi rất xúc động khi được bà con họ hàng tiếp đón niềm nỡ và đưa chúng tôi đến trước bàn thờ,giảng giải lịch sử gia đình qua từng bức ảnh trên bàn thờ và trên cây phổ hệ.
Chúng tôi còn tiếp tục du hành qua nhiều tỉnh thành khác,mỗi địa phương đều có những nét đặc sắc khác nhau.
Hôm nay tôi xin ghi lại một vài kỷ niệm để chia sẻ tình cảm với bà con họ hàng bên ngoại,cả với những người mà tôi chưa từng quen biết.Mỗi khi nhắc đến hai tiếng Việt Nam,lòng tôi tràn đầy nỗi nhớ.Mong sao sớm có dịp trở về thăm lại quê ngoại.
TU-ANH Sébatien Rozette .
Paris – 10.2011.
( Lys Trang Hạ dịch từ văn bản tiếng Pháp).
- HOÀNG THỊ XUÂN HỒNG (Đ17) chụp hình trước nhà thờ Họ HOÀNG
- Xuân Hồng,chồng và hai con đến thăm chú thím Ngọc Tường-Mỹ Dạ

