Giao Lưu

Giao LƯu

Bài 01

CỬA SỔ NHÌN RA BÊN NGOẠI

     _Chữ Hán NGOẠINgoài.Nhưng đối với người Việt Nam,hai tiếng BÊN NGOẠI không hề mang ý nghĩa xa lạ như thế. Nhà văn Thanh Tịnh gọi Bên ngoạiQuê Mẹ .Và thế giới thuộc về Mẹ trong lòng mọi người chúng ta khi nào cũng chứa chan tình cảm ,đậm đà sâu sắc. Sao có thể xem Bên Ngoại là bên ngoài được? Thực tế có nhiều người,nhiều gia đình gắn bó thân thiết với bên ngoại còn hơn cả với bên nội.

     Họ Hoàng chúng ta có rất nhiều bà con bên ngoại.Gần gũi nhất trong làng là ngoại họ Lê và ngoại họ Đỗ.Xa hơn một chút có các làng ngoại ở Hà Mi,Bích La, Câu Nhi,Văn Quỹ,Mai Xá,Tường Vân,Sơn Nam…Cho đến nay ngoại họ Hoàng có mặt khắp miền đất nước.Không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia khác như: Lào,Thái Lan.Trung Quốc,Nhật bản,Âu,Mỹ.. không thể biết hết được. Nhưng chắc rằng đâu đó đều có những người con ưu tú đáng tự hào và có cả những phận người người không được biết đến. Điều đó cũng có nghĩa là chúng ta hiểu biết về người và việc thuộc về bên ngoại rất ít.

    Nay NẾP NHÀ mở cánh cửa sổ này để giới thiệu đôi điều về bà con bên ngoại .Biết đến đâu nói đến đó.Nếu có thêm thông tin gì ,sẽ xin tiếp tục bổ sung,cập nhật.Cánh cửa chuyên mục này không bao giờ đóng.       

                                                                                       NẾP NHÀ

Bài 1

ÔNG TRƯƠNG QUANG PHIÊNNGOẠI MAI XÁ

03/09/2007 14:38 (GMT+7)

Thời nào cũng vậy, họ Trương Quang ở làng Mai Xá luôn nổi tiếng với nhiều nhân sĩ, trí thức hào hiệp. Những năm đầu thế kỷ 20, chí sĩ Hoàng Hữu Huy đã có thơ ca tụng tài năng của dòng họ này: “Trương Quang ông Trợ thơ trăm cuốn”. Bây giờ dòng họ Trương Quang tập trung phần lớn ở xã Gio Mai, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.

Lấp lánh từng trang gia phả

Làng Mai Xá

 

Di tích lịch sử đình làng Mai Xá, nơi diễn ra cuộc khởi nghĩa giành chính quyền vào tháng 8-1945 do ông Trương Quang Phiên lãnh đạo.

 

Caudoi2018

                                             Câu đối của ông Hoàng Hữu Cảnh tặng Tiên Việt TRƯƠNG QUANG PHIÊN     Ông Trương Quang Thể, 60 tuổi, trưởng tộc Trương Quang ở làng Mai Xá mấy hôm đầu tháng 7 Âm lịch bận rộn lê

n danh sách con cháu đạt giải học sinh giỏi các cấp, đỗ đạt cao cho buổi lễ phát thưởng của dòng họ vào ngày 10-7 Âm lịch (22-8). Ông Thể không nhớ hết có bao nhiêu con cháu của họ mình đạt giải nên phải nhờ trưởng ban khuyến học của họ, anh Trương Quang Bình, mang sổ sách đến để viết giấy mời cho đầy đủ, không để sót. “Các cháu chăm học, mình phải động viên kịp thời”, ông Thể nói.

Trưởng tộc Trương Quang Thể thường kể lại truyền thống vẻ vang của dòng họ cho con cháu nghe. Khi đất nước bị giặc Pháp đô hộ, vua Duy Tân ngự giá ra Cửa Tùng lấy cớ nghỉ mát nhằm che mắt giặc để tìm người thân tín bàn chuyện Cần Vương cứu nước. Ở Quảng Trị lúc ấy mọc lên 6 vườn đào tụ nghĩa, trong đó vườn đào ở Mái Xá (Gio Linh) do cụ Trương Quang Cung lập ra. Các môn đệ của vườn đào Mai Xá họp mặt khi ở Bến Đục, lúc ở Lòi (một vùng rừng rậm). Các cụ còn nhớ rõ ràng mỗi độ xuân về, Lòi Mai Xá mai vàng nở thắm, vì thế vườn đào Mai Xá được gọi là “Mai vàng tụ nghĩa Cần Vương”. Trong những lần tụ nghĩa ấy, các cụ đọc Hịch Cần Vương kêu gọi người dân đứng lên phò vua đánh Pháp. Bấy giờ, con cháu của dòng họ có cụ Trương Quang Đông, đi lính Cần Vương, được phong hàm bát phẩm. Hàng đêm, vợ con cụ tự nguyện nấu cơm, vắt thành hàng trăm vắt nhỏ trộn muối mè để phát cho những người đang đánh giặc.

Khi tổ chức Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội (TNCMĐCH) được Nguyễn Ái Quốc lập ra, những năm 1925-1929, Chi hội TNCMĐCH huyện Gio Linh ra đời, trong đó có 2 người thuộc dòng họ Trương Quang, ông Trương Quang Phiên và Trương Quang Côn. Năm 1929, các hội viên tham gia rải truyền đơn kêu gọi thành lập Đảng Cộng sản. Địch truy lùng, nhiều hội viên bị bắt, các ông Trương Quang Phiên, Trương Quang Côn bị kết án tù giam.

Họ Trương Quang ở làng Mai Xá có 68 gia đình nhưng có đến 26 liệt sĩ, có gia đình có đến 3 liệt sĩ. Dòng họ này có gần 200 cử nhân cao đẳng, đại học; 15 người là thạc sĩ và tiến sĩ. Con cháu của dòng họ công tác khắp các bộ, ban ngành, viện từ Trung ương đến địa phương với các chức vụ như: đại sứ của Bộ Ngoại giao, vụ trưởng của bộ Công nghiệp trước đây, vụ trưởng Vụ Pháp chế của bộ Công Thương, giảng viên, cán bộ ở các trường đại học lớn tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh.

Sau khi mãn hạn tù, năm 1937, ông Trương Quang Phiên đã mở lớp dạy học có tên gọi “Gia đình học hiệu Tiên Việt” dạy dỗ con em trong làng. Đây là một trong rất ít lớp học chữ quốc ngữ đầu tiên tại Quảng Trị. Nhiều người tham gia lớp học ngày ấy kể lại rằng lớp học không chỉ là một “Gia đình học hiệu” đơn thuần mà còn là nơi tụ nghĩa. Ngoài dạy chữ, thầy Phiên còn là người thầy cách mạng của bao thế hệ trẻ trong gia đình học hiệu Tiên Việt này.

Khi thời cơ của cách mạng tháng 8-1945 đến, tại sân đình làng Mai Xá, ông Trương Quang Phiên đã lãnh đạo nhân dân đứng lên giành chính quyền, chuẩn bị ra mắt Ủy ban khởi nghĩa. Ông Trương Quang Côn, Chủ nhiệm Việt Minh xã, tập hợp bà con tiến về thị xã Quảng Trị mừng Quốc khánh 2-9-1945. Và sau đó, ông Trương Quang Phiên trở thành người lãnh đạo cao nhất tỉnh Quảng Trị-Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh.

Truyền thống “lấy tri thức làm vốn”

Những sáng kiến dạy học từ những năm ba mươi của ông Trương Quang Phiên ở làng Mai Xá sau này đã được áp dụng khắp địa phương Quảng Trị trong những ngày mới khởi nghĩa. Nhờ vậy, chưa đầy một năm sau Cách mạng Tháng Tám, Quảng Trị đã có hàng vạn người đọc thông viết thạo. Lịch sử giáo dục Quảng Trị ghi nhận ông Trương Quang Phiên là người có công lớn trong việc phát triển nền giáo dục cách mạng.

Tự hào về các bậc tiền nhân, tuy mưu sinh bằng nghiệp cày cấy nhưng các gia đình họ Trương Quang ở làng Mai Xá sau này ai cũng quyết tâm đưa con em mình tới “cửa cử nhân”. Vợ chồng ông Trương Quang Giáo làm ruộng và bán rau nhưng nuôi 6 con vào đại học. Để được đi học, ngày đó con của ông Giáo phải thay nhau nghỉ học, ở nhà giúp bố mẹ. Đợi người anh tốt nghiệp ra trường rồi, người em mới tiếp tục đi học, dù muộn so với bạn bè cùng trang lứa. Nhờ sự thông minh và chăm chỉ đó mà các con của ông Giáo nay đều trở thành những cán bộ giỏi. Các cháu nội ngoại của ông cũng hễ thi là đỗ, mà toàn những trường đại học “cỡ bự” như Bách khoa, Kinh tế, Ngân hàng… Mỗi độ tháng tám, gia đình ông Giáo luôn tràn ngập niềm vui vì con cháu hiển vinh tề tựu, ôn lại truyền thống hiếu học của gia đình.

“Họ Trương Quang là một trong những dòng họ thành đạt nổi tiếng ở tỉnh Quảng Trị. Con em của dòng họ cần cù, hiếu học. Sau khi học hành đỗ đạt, họ giữ những chức vụ cao và là những người rất yêu nước, phụng sự Tổ quốc. Thời nào dòng họ này cũng có những người con góp phần viết nên những trang sử mới cho dân tộc”.
Ông Trương Sĩ Tiến – nguyên Phó Chủ tịch UBND kiêm Chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh Quảng Trị

“Ở cái làng này, người ta chẳng khoe nhau chuyện trâu bò, ruộng vườn mà chỉ “đọ” nhau tấm bằng đại học” – ông Trương Quang Tùng, “người chép sử” của dòng họ Trương Quang, nói. Ba người con của ông Tùng cũng đều tốt nghiệp đại học, hiện đang công tác ở TPHCM và Đà Lạt. Hay gia đình ông Trương Quang Thanh cả 6 người con đều học đại học. “Các gia đình có 2 và 3 con học đại học ở dòng họ này thì nhiều lắm”, trưởng ban khuyến học họ Trương Quang, hãnh diện cho biết.

Người làng còn tự hào về ý chí vượt khó vươn lên của những sinh viên, cử nhân của họ Trương Quang. Trương Quang Chính, tân sinh viên của Đại học Kinh tế TPHCM, tranh thủ những ngày chưa tựu trường gánh hàng rong đi bán giúp mẹ. Gánh hàng này nguyên mẹ em vẫn đi bán hàng ngày để kiếm tiền nuôi hai con học đại học. Nay mẹ không may đổ bệnh liệt giường, hai anh em Trương Quang Minh và Trương Quang Chính hàng ngày thay mẹ gánh hàng lên chợ ngồi bán, nhận được sự cảm thông và thán phục của nhiều người.

Xuất sắc hơn hết trong thế hệ 8X của họ Trương Quang là em Trương Quang Bình An, con ông Trương Quang Xá. Khi còn học THPT ở Quảng Trị, An đạt giải 3 Vật lý quốc gia, rồi được vào học lớp đào tạo kỹ sư chất lượng cao Việt – Pháp chuyên ngành Vật liệu tiên tiến của Đại học Bách khoa TPHCM. Bây giờ Bình An bước vào năm học thứ 5. Kết thúc năm học rồi, nhờ đạt kết quả học tập giỏi nên em là sinh viên duy nhất của chuyên ngành này tại Việt Nam vừa được sang Pháp tham quan học hỏi bổ trợ cho ngành học của mình.

Ông Trương Quang Thể, trưởng tộc Trương Quang, tự hào: “Đất này nghèo nhưng giàu chữ!”. Với phương châm lấy nhân tài làm gốc, lấy tri thức làm vốn, hy vọng vùng quê cát Gio Mai sẽ bừng lên trong nay mai.

LAM KHANH

Bài 2.

  • GAN MAI XÁ-ĐÁ HẢO SƠN

Nguyễn Hoàn

Nét đẹp toàn cảnh làng MAI XÁ

640px Mai Xa Communal House

     “Gan Mai Xá, đá Hảo Sơn”, danh tiếng làng Mai đã lừng vang trong câu tục ngữ truyền đời ấy của người Quảng Trị. Như thừa hưởng được phong vận, chính khí của trời đất xứ này,Tộc phả họ Bùi làng Mai còn truyền tên tuổi, công trạng của hai vị quan võ thời Tây Sơn. Đó là chánh tiền chỉ huy sứ Bùi Văn Hịch (chỉ huy một doanh 500 người), có công đặc biệt, sau về làng “giữ ngôi tiên chỉ, giàu có vạn tiền, ruộng liền một dải”. Đó là tiền đạo thuỷ binh Bùi Văn Huy với sức khoẻ và võ công cao cường, ngỡ như huyền thoại: “Chỉ huy tiền đạo thuỷ quân đánh vào căn cứ mạnh của địch, sức khoẻ bẻ gãy cây tre, để cối đá trên bụng cho người giã trắng gạo, uống rượu bao nhiêu cũng không hề say”. Mảnh đất từng hun đúc nên nghĩa khí “Mai vàng tụ nghĩa” lúc đất nước đương cơn bĩ cực cũng chính là nơi sớm sản sinh những hạt giống đỏ. Hưởng ứng phong trào Thanh niên cách mạng đồng chí hội những năm 1925-1929, chi hội Thanh niên cách mạng đồng chí hội huyện Gio Linh đã được thành lập, trong đó có ba hạt giống đỏ Mai Xá là Trương Quang Phiên, Trương Khắc Khoan và Trương Quang Côn, lấy đình làng Mai Xá Chánh làm điểm hẹn liên lạc. Sau vụ rải truyền đơn khắp tỉnh đêm 17-6-1929 kêu gọi thành lập Đảng Cộng sản mà tổ chức Thanh niên cách mạng đồng chí hội của tỉnh có tham gia, bọn địch tức tối lùng sục, dò xét manh mối. Nhiều hội viên Thanh niên đã bị bắt, trong đó có ba hạt giống đỏ Mai Xá.

Bọn thực dân Pháp và Nam triều ở tỉnh Quảng Trị đã kết án 31 hội viên Thanh niên tại phiên toà ngày 13-10-1929, trong đó Trương Khắc Khoan 11 năm tù, Trương Quang Phiên 10 năm tù và Trương Quang Côn 11 tháng tù. Nhưng tù tội chẳng qua là nơi rèn khí tiết, đợi thời cơ. Và rồi thời cơ khởi nghĩa, cướp chính quyền đã đến với khí thế trống giong, cờ mở của mùa thu tháng Tám. Ngày 18-8-1945, tại sân đình làng Mai Xá Chánh, cụ Trương Quang Phiên, hạt giống đỏ “Thanh niên” ngày nào đã chủ trì lãnh đạo việc cướp chính quyền ở địa phương và chuẩn bị ra mắt Uỷ ban khởi nghĩa. Cũng tại sân đình này, đêm 1-9-1945, cụ Trương Quang Côn, Chủ nhiệm Việt Minh xã đã tập hợp, dẫn đầu một đoàn đại biểu dân làng náo nức tiến về thị xã Quảng Trị mừng ngày Quốc khánh 2-9-1945. Nhưng thực dân Pháp không từ bỏ âm mưu cướp nước ta lần nữa. Vì thế, cùng với cả nước, người làng Mai đã tức thì đứng lên kháng Pháp bằng việc gửi con em vào đoàn Nam tiến để chia lửa với chiến trường miền Nam. Cùng với cả huyện, người làng Mai đã góp phần tạo dựng nên “Huyện kháng chiến kiểu mẫu” Gio Linh-danh hiệu được tỉnh công nhận năm 1949-bằng “kiểu mẫu” riêng, bằng cốt cách truyền thống hun đúc và bằng cả những huyền thoại có thật: đau thương mà bi tráng, uất hận mà khí tiết…trong đó mãi lung linh huyền thoại mẹ Gio Linh.

·      HUYỀN THOẠI MẸ GIO LINH  

Me Gio Linh

Ảnh Mẹ Gio Linh

 

        Ký ức người Mai Xá không bao giờ quên ngày uất hận, ngày giặc Pháp ở đồn Nhĩ Hạ bắt được hai anh Nguyễn Đức Kỳ, xã đội trưởng xã Linh Hưng (nay là xã Gio Mai) ở thôn Lâm Xuân, Gio Mai và anh Nguyễn Phi, cán bộ bình dân học vụ ở miếu Đôi ngoài đồng Mai Xá đưa về đồn tra tấn suốt ngày đêm, rồi hành quyết cắt đầu hai anh đem cắm ở chợ trước cổng đình làng Mai Xá Chánh ngày 16-8-1948. Ông Trương Ký Túc, người làng Mai Xá Chánh, nay đã 72 tuổi, lúc đó hãy còn là một chú bé đi chăn bò chứng kiến sự việc bi thương này, nhớ lại: “Sáng đó, lúc 4 giờ tôi đã dậy đi lùa bò. Do bò chạy vào đình làng, tôi phải vào lùa, chợt thấy có hai đầu người bị Tây cắm trên đòn xóc trước đình. Tôi vuốt vào cái đầu người thấy láng mượt, sợ quá, tôi vội quay ra, bị con bò đạp lên chân làm toe móng chân. Chỗ móng chân bị bò đạp vẫn còn “kỷ niệm” mãi đến nay”. Đã làm cái việc dã man trung cổ là bêu đầu, lại còn xức dầu bidăngtin láng mượt lên đầu hai chiến sĩ theo kiểu “hoa lệ” thực dân đểu cáng, giặc Pháp hòng răn đe, làm nhụt ý chí kháng chiến của quân dân Gio Linh. Nhưng chúng đã nhầm to và càng làm mồi thêm ngọn lửa căm thù bốc cao như núi. Trước khi bị hành quyết, hai anh đã dõng dạc gửi lại nghĩa khí cho đời, như trong bài thơ “Mẹ già liệt sĩ làng Mai” của Mai Quang Trí, một tác giả quê ở chính làng Mai Xá Thị, Gio Mai, Gio Linh đã cảm khái và hào sảng viết: “Họ hô to “Độc lập muôn năm”, Họ hô lớn “Việt Nam bất diệt”…

Anh Nguyễn Đức Kỳ quê ở làng Mai Xá Thị, Gio Mai, Gio Linh, là con của ông Nguyễn Xun và bà Lê Thị Cháu (tên thật là Lê Thị Lý), dân làng quen gọi là ông bà Diêu Cháu. Anh Nguyễn Phi quê ở làng Mai Xá Chánh, Gio Mai, Gio Linh, là con của ông Nguyễn Sửu (thường gọi là ông Cửu Đen) và bà Hoàng Thị Sáng. Chính những người mẹ đứt ruột sinh ra những cái đầu gan góc đã quặn lòng nuốt hận mang thúng đi lấy đầu con về. Từ phía đình làng Mai Xá Chánh trong ngày trời đất nhuốm màu tang tóc, có bóng những người phụ nữ cắp thúng mủng giả dạng đi chợ nhưng thực ra là đi lấy đầu liệt sĩ làng Mai, đóï là mẹ Lê Thị Cháu và bà Khương Thị Mén, thím của anh Nguyễn Đức Kỳ (bà Mén là vợ ông Nguyễn Văn Thạng, em ruột ông Nguyễn Xun), mẹ Hoàng Thị Sáng và bà Bùi Thị Con, thím của anh Nguyễn Phi (bà Con là vợ ông Nguyễn Văn Di, em ruột ông Nguyễn Sửu). “Con mang theo dòng máu anh hùng, Sống chiến đấu, chết toàn danh tiết, Con ra đi hình hài tuấn kiệt, Con trở về có chiếc đầu thôi”.

Để tránh Tây lùng sục, các mẹ đã giấu đầu hai anh kín đáo ở trên tra, gần nóc nhà, sau đó nhờ người đóng những chiếc hòm đặc thù hình vuông khâm liệm hai anh rồi đem chôn. Đầu anh Kỳ được chôn tại vùng Dôông, Mai Xá Chánh, đầu anh Phi được chôn tại nghĩa địa Cồn Dài, xóm Kênh, Mai Xá Chánh. Ba đêm sau, tại nhà mẹ Cháu, bộ đội, du kích đã về cùng bà con quây quần làm lễ truy điệu cho các anh sát nách đồn giặc ở Mai Xá. Gương hy sinh bất khuất của hai anh đã có sức hiệu triệu lay động mạnh mẽ lòng người, sức mạnh kỳ diệu đó vang vọng cả trong thơ và trong nhạc: “Đồng đội đến trăm người, trăm hỏi, Anh em đầy đủ mặt bốn bề, Nhìn nhau đi cho dạ tái tê, Cho uất hận trào lên cực độ” (Mai Quang Trí).

Từ đó, huyền thoại mẹ Gio Linh đã kết nên tượng đài đau thương lộng lẫy, bất diệt sừng sững đổ bóng xuống những giai điệu có sức lan toả nhanh rộng thời bấy giờ trong bản nhạc “Bà mẹ Gio Linh” của nhạc sĩ Phạm Duy: “Mẹ già cuốc đất trồng khoai, nuôi con đánh giặc đêm ngày, cho dù áo rách sờn vai, cơm ăn bát vơi bát đầy, hò ơi ơi ới hò…Mẹ già tưới nước trồng rau, nghe tin xóm làng kêu gào, quân thù đã bắt được con, mang ra giữa chợ cắt đầu, hò ơi ơi ới hò, nghẹn ngào không nói một câu, mang khăn gói đi lấy đầu”. Hình ảnh bên mẹ sau cái chết nghĩa khí của con mẹ đã chắp cánh cho Phạm Duy viết nên những nốt nhạc đau thương nhưng không bi luỵ mà bi hùng: “Đoàn người kéo đến nhà chơi, khơi vui bếp lửa tơi bời…Khi trông con nuôi xúm xít dưới túp nhà, mẹ nhìn đàn con thương nhớ đứa con xưa”. Con mẹ đã hy sinh, nhưng mẹ có cả đàn đàn con nuôi là bộ đội về làm ấm lòng mẹ.

Các anh ngã xuống trút nghĩa khí cho chính khí đất trời, còn hình hài đã hoá thân vào đất đai sông núi, không mất đi đâu cả, cho dẫu chết đầu lìa khỏi xác. Hai anh đã được mẹ Gio Linh lấy đầu về chôn cất, nhưng tấm thân còn vùi khuất đâu đó bên đồn Pháp dã man Nhĩ Hạ. Mãi mấy năm sau, khoảng năm 1952-1953, lúc thế giặc nao núng, gia đình mới đi lấy được thân xác hai anh về. Ông Nguyễn Sửu, bố anh Nguyễn Phi đã đi lấy thân xác anh, cùng đi có đứa cháu ngoại mới 9 tuổi lon ton theo, đó là chú bé Trần Thành Huế, cháu gọi anh Nguyễn Phi bằng cậu ruột. Tôi đã hỏi chuyện giáo sư tiến sĩ Trần Thành Huế, Chủ nhiệm khoa Hoá, Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội, tức là chú bé thuở ấy về ký ức xưa đau đớn, ngậm ngùi. Trải qua tháng năm dằng dặc, ký ức thuở còn bé trong ông vẫn giữ vẹn nguyên đến từng chi tiết về hình dáng người cậu oanh liệt: “Khi đào hố lên, ở hố chôn tập thể, tôi thấy có tóc của những người phụ nữ rất xanh. Những người đã chôn xác cậu tôi và ông Kỳ họ rất có ý thức, họ chôn riêng ra một góc, nên ông ngoại tôi tìm ra được. Cậu tôi có một chân bị tật vòng kiềng, xương ống chân bị cong. Nhờ dấu hiệu đó, ông ngoại tôi nhận ra ngay hình hài cậu tôi”. Thi hài các anh vậy là đã được gắn kết trọn vẹn. Mộ anh Kỳ hiện được đặt trong khu lăng mộ phái Nguyễn Đức tại Cồn Go, Mai Xá Thị, mộ anh Phi đặt trong khu lăng mộ gia đình tại Cồn Dài, xóm Kênh, Mai Xá Chánh.

Mỗi lần về Gio Mai, Gio Linh, tôi thường tần ngần đến viếng đình làng Mai Xá Chánh để được sống trọn vẹn với niềm cảm khái trào dâng về nghĩa khí “gan Mai Xá” và cốt cách “mai vàng tụ nghĩa”. Cái thế vững như bàn thạch của đất này đã được diễn tả qua câu đối tạc trên cổng đình Mai Xá Chánh: “Thượng hạ cửu xã phường, giang sơn ngật để trụ, Tây Đông giáp Tiên Việt, môn địa tráng trường thành”, tạm dịch: trên dưới chín xã, phường (đất Mai Xá ngày trước rất rộng gồm xã Mai Xá Chánh và 8 phường: Xuân Lộc, Đào Xuyên, Quảng Xá, Nam Đông, Nam Tây, Bái Sơn, Phú Phụng, Phú An, gọi là bát phường Mai Xá thuộc tổng Bái Trời), giang sơn cao gốc vững, Tây Đông giáp Cồn Tiên, Cửa Việt, cửa đất rộng thành dài. Phát huy truyền thống “kháng chiến kiểu mẫu” thời chống Pháp, tạo thế tấn vững vàng trên “dãi trường thành” này,

Anh Trương Quang Tùng, một “nhà khuyến học” của làng Mai, một người say sưa sưu tầm những tư liệu lịch sử về làng Mai đã nhiệt tình dẫn tôi ngược chuyến tàu thời gian trở về với quá khứ làng Mai oanh liệt. Anh tất tả ngược xuôi dẫn tôi đi thăm thú nết đất, nét người Gio Mai. Một buổi chiều vàng trong gian nhà nhỏ ấm cúng của mình, anh mở chiếc máy cát xét cũ kỹ cho tôi nghe đoạn băng ghi âm cũng đã rất cũ, ghi lại buổi phỏng vấn nhạc sĩ Phạm Duy và ca sĩ Thái Thanh về bài hát “Bà mẹ Gio Linh” do đài Pháp RFI thực hiện năm 2001. Đoạn băng nghe tiếng được, tiếng mất nhưng vẫn nổi rõ tiếng lòng thổn thức của Phạm Duy và Thái Thanh về bà mẹ Gio Linh. Phạm Duy cho biết ông sáng tác “Bà mẹ Gio Linh” trong có một đêm, lúc nằm trên giường tre ở chiến khu. Ông nghẹn ngào kể: “Tôi làm xong tôi khóc. Tôi nhớ hoài, tôi khóc như một đứa con nít”. Giọng Thái Thanh chùng xuống, vẻ thấm thía: “Một bà mẹ bình thường con cái đã là một gánh nặng lớn của mẹ rồi, huống chi lại còn trong thời chiến tranh nữa. Cái bi kịch này nó ghê gớm quá. Lần nào hát “Bà mẹ Gio Linh” tôi cũng khóc”. Anh Tùng và tôi đặc biệt cùng để ý đến đoạn bình luận của đài Pháp: “Những giây phút sáng tạo như thế không đến nhiều lần trong đời nghệ sĩ…Từ niềm đau cá nhân của một bà mẹ đã thăng hoa thành niềm đau chung của một dân tộc và của loài người”. Đài Pháp quả đã công nhận cái “thần hứng” mà bà mẹ Gio Linh đã mang lại cho người nghệ sĩ. Nội dung buổi phỏng vấn này tôi đã nghe rõ hơn qua đĩa CD do nhạc sĩ Phạm Duy mở cho nghe, trong lần tôi gặp nhạc sĩ đang ở tại Khách sạn Saigon Star. Sau khi được Nhà nước cho phép hồi hương, nhạc sĩ đã bộc bạch trên báo chí rằng chặng đời ba mươi năm qua ở hải ngoại của mình như một giấc ngủ dài, tỉnh dậy thấy trời sáng. Khi giai điệu dân ca bi hùng của “Bà mẹ Gio Linh” được tấu lên qua đĩa CD, người nhạc sĩ già 85 tuổi làm lại cuộc đời, người nhạc sĩ già viết đơn xin Mẹ Việt Nam “cho đi lại từ đầu”, như lời trong ca khúc “Kỷ niệm” (ca khúc này, cùng với “Bà mẹ Gio Linh” nằm trong số 19 ca khúc của Phạm Duy đã được Bộ Văn hoá cho phép phổ biến), người nhạc sĩ trắng xoá cả mái đầu vì ôm mối sầu xa cố xứ này đã lặng người đi. “Người Việt Nam vốn theo dòng mẫu hệ, tình mẹ nặng lắm-nhạc sĩ Phạm Duy xúc động tâm sự- Một đất nước có một nhân vật như bà mẹ Gio Linh đáng quý lắm”. Hồi ấy, năm 1948, trong chuyến công tác vào chiến trường Bình Trị Thiên, Phạm Duy đã đến làng Mai, được nghe và được gặp hình ảnh bà mẹ Gio Linh với câu chuyện đau thương “chấn động” lẫy lừng. Mẹ Diêu Cháu với gương mặt đã mang nhiều nếp nhăn nheo của thời gian nhưng đối với Phạm Duy, “mẹ đẹp như một vị thánh” (chữ dùng của Phạm Duy), khiến cho Phạm Duy bị xâm chiếm cả cõi lòng, trở nên lúng túng không biết nói năng gì với mẹ, đành nhờ người đưa đường nói hộ.

Mẹ dẫn Phạm Duy đi qua một rặng tre để ra tới chợ làng Mai, nơi ngày nào mẹ đến lấy đầu con “tay nâng nâng lên, rưng rức nước mắt đầy”. Từ đó, mẹ Gio Linh đã thành một ám ảnh nghệ thuật và ám ảnh cuộc đời đeo đẳng, “không buông tha” Phạm Duy cả nhiều năm về sau này. Năm 1951, khi trót bước chân qua Phát Diệm để rời xa cuộc kháng chiến chống Pháp, Phạm Duy đã khóc vì tiếc thương cho những năm đem hết tâm trí ra phục vụ cách mạng và kháng chiến. Nước mắt Phạm Duy lúc rơm rớm, lúc trào rơi vì bao hồi ức nhưng bỗng đã tuôn ào ào khi nghĩ đến chuyện bi hùng của bà mẹ Gio Linh. Năm 2003, Phạm Duy đã về thăm lại chỗ nhà cũ của mẹ Diêu Cháu. Năm 2005, nhạc sĩ được hồi hương, “lá rụng về cội” và bài hát “Bà mẹ Gio Linh” được phép phổ biến. Ôi! Mẹ Gio Linh, Mẹ Việt Nam đôn hậu và bao dung nhường nào, bởi mẹ biết năm ngón tay có ngón ngắn, ngón dài, nhưng ngắn dài đều trên một bàn tay. Trong một thư mail cho nhạc sĩ Phạm Duy, tôi có nhắc một ý của nhà thơ lớn Tố Hữu nói sau ngày đất nước giải phóng năm 1975 rằng, Phạm Duy hãy cứ ở lại đất nước, đừng đi đâu cả và tiếp tục sáng tác, để khúc giữa qua một bên, lấy khúc đầu (kháng chiến) và khúc đuôi (hoà bình). Gửi mail lại cho tôi, nhạc sĩ Phạm Duy hứng khởi viết: “Hãy sống với một Việt Nam hôm nay và ngày mai, rạng rỡ huy hoàng”.

“     Xuân làng Mai đã trổ màu”, câu thơ của nhóm Bích Khê Hoàng gia thi phái (nhóm thơ họ Hoàng làng Bích Khê, Triệu Long, Triệu Phong) gửi báo “Xuân làng Mai”, tờ báo viết tay của người làng Mai ra đời thời tiền khởi nghĩa quả đã ứng vận với hôm nay. Đình Mai Xá Chánh đang được trùng tu lại và đề nghị công nhận di tích lịch sử của tỉnh. Cả đến con rùa trong đình này cũng có một số phận hy hữu lạ thường. Năm 1968, lính Mỹ đưa xe về húc tan đình làng và lấy đi con rùa trong đình, con rùa quý, trên thân mạ sắc vàng và có hai con hạc đứng. Năm 1995, chính người lính Mỹ lấy rùa đình làng Mai Xá Chánh đã mang rùa sang trả lại cho làng. Người Mỹ cũng đã biết lỗi trước văn hoá làng Mai vậy.

Người làng Mai không những đánh giặc dũng khí có thừa mà còn chuộng tài hoa văn chương, học vấn hết mực. Một sớm, anh Tùng dẫn tôi băng vào một vùng cây cối nguyên sinh rậm rạp, đó là lòi Mai Xá Chánh, nơi người làng Mai đã dựng nên Văn Thánh vào năm 1910 nhằm tôn vinh những người học hành đỗ đạt. Ngày trước, cạnh Văn Thánh có một cây trầm nguyên sinh to lớn, mình chảy nhựa đầy. Làng làm lễ “khuyến học” tại Văn Thánh trong hương nhựa trầm xông ngào ngạt. Anh Tùng và tôi bâng khuâng bước trên nền Văn Thánh, lần tìm những viên gạch cũ, bóc gỡ lớp rêu phong của thời gian vẫn thấy hiện nguyên sắc nâu hồng được nung đúc từ bầu máu nóng của ông cha. Năm 1980, nhà khảo cổ học Trần Quốc Vượng đã đến đây để khảo sát, cho đào hố khai quật. Ông đề nghị cho rào lại khu vực Văn Thánh để bảo vệ, trong khi chưa phục chế. Thời chiến dùng võ công. Thái bình dùng văn trị. Hương mai, hương trầm làng Mai thêm ngát lừng.

N.H

 

 

 

Bài 3

Trương Quang Đệ

 người trí thức  lớn của làng Mai Xá

BÙI MẠNH HÙNG

3bis TqĐỆ

Nhà giáo TRƯƠNG QUANG ĐỆ

     Thân sinh của ông là ông Trương Quang Phiên một trí thức theo kháng chiến, từng giữ cương vị Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến tỉnh Quảng Trị thời chống Pháp. Xuất thân từ một gia đình như vậy, nhưng Trương Quang Đệ không hoạt động chính trị mà chọn con đường trở thành một trí thức thuần túy, sống, làm việc và nhìn nhận mọi vấn đề nhất quán với con đường mà ông đã chọn.

Trước đây tôi thường nghe mẹ tôi và họ hàng bên ngoại nhắc đến “cậu Đệ”, con “ông trợ Phiên” (làng tôi vẫn thường gọi các thầy giáo là “ông trợ” với sự kính trọng). Tình cảm của nhiều người ở quê đối với ông không chỉ vì quan hệ họ hàng mà còn vì ông có một địa vị đặc biệt trong mắt họ: con ông trợ Phiên, giỏi tiếng Pháp và thường “đi Tây”, cái cơ hội mà ở miền Bắc những năm 70, 80 của thế kỷ trước chỉ dành cho quan chức ngành ngoại giao hay những trí thức “siêu phàm”.

 

Giống như nhiều trí thức khác xuất thân từ các làng quê Việt Nam thời chiến tranh, vốn liếng tri thức ban đầu của ông có được chủ yếu nhờ vào tự học. Nhưng ông có may mắn hơn rất nhiều người khác là trong quá trình làm việc, với tư cách một giảng viên, chuyên gia, dịch giả tiếng Pháp, Trưởng khoa Trường ĐH Sư phạm, ông được tiếp cận nhiều với nền văn hóa và giáo dục Pháp. Điều có vẻ trớ trêu, nhưng cũng dễ hiểu là thân sinh của ông trọn đời đi theo kháng chiến để đánh đuổi thực dân Pháp, còn ông lại là người dành những năm tháng sung sức nhất của mình để truyền bá văn hóa Pháp tại Việt Nam: đào tạo giáo viên dạy tiếng Pháp; Chủ biên sách giáo khoa dạy tiếng Pháp cho học sinh trung học phổ thông Việt Nam, vận động thành lập các trung tâm Pháp ngữ tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, dịch sách Pháp sang tiếng Việt, gồm nhiều thể loại từ tiểu thuyết đến sách lý luận như Banzac và cô thợ may Trung Hoa bé nhỏ, Suy nghĩ về toàn cầu hóa, nhưng tác phẩm dịch tiêu biểu nhất cho đẳng cấp của ông là cuốn sách Đại tượng vô hình của triết gia đương đại Pháp Francois Jullien.

Ngoài giảng dạy, đào tạo, truyền bá tiếng Pháp và văn hóa Pháp, ông bỏ nhiều tâm sức nghiên cứu tiếng Việt, trong đó đáng kể nhất là cuốn sách Vấn đề ngôi trong tiếng Việt được viết bằng cả hai thứ tiếng Pháp và Việt. Tác phẩm thể hiện sự hiểu biết sâu sắc và tinh tế về tiếng Việt, thường chỉ có ở những người không chỉ nắm vững ngôn ngữ học lý thuyết mà còn phải giỏi ngoại ngữ và có kinh nghiệm dịch thuật. Nhiều năm quan tâm đến việc nghiên cứu phạm trù ngôi trong ngôn ngữ học đại cương, ngôn ngữ học đối chiếu và trong Việt ngữ học, đến nay tôi chưa thấy có công trình nào nghiên cứu về vấn đề ngôi tiếng Việt toàn diện như thế. Tác giả đi từ lý thuyết đại cương về ngôi rồi ứng dụng vào việc nghiên cứu phạm trù này trong một ngôn ngữ cụ thể là tiếng Việt. Tuy dùng nhiều ngữ liệu về phạm trù ngôi và nhân xưng của các ngôn ngữ biến hình châu Âu, nhất là tiếng Pháp để làm rõ phạm trù ngôi từ góc độ ngôn ngữ học đại cương và làm cơ sở để đối chiếu, nhưng tác giả luôn có ý thức thoát khỏi cái bóng “dĩ Âu vi trung”, tránh rập khuôn để miêu tả ngôi tiếng Việt đúng với bản chất và những biểu hiện đa dạng của nó.

Mặc dù tự nhận mình chuyên về nghiên cứu ngôn ngữ, “không dính dáng đến văn chương cũng như triết học” theo nghĩa không phải là dân chuyên nghiệp trong những lĩnh vực đó, nhưng có lẽ do sự thôi thúc bởi những suy tư và cảm xúc trước thời cuộc mà ông bỗng có duyên nợ với nhiều vấn đề “ngoại đạo”. Ở lĩnh vực nào ông cũng thể hiện những nét độc đáo: kiểu tư duy suy đoán sắc sảo, duy lý của một trí thức; nét lãng mạn, tài hoa của một nhà văn; vốn trải nghiệm phong phú, dồi dào của một chứng nhân lịch sử, cùng hạnh phúc và khổ đau với quê hương qua những biến cố cách mạng và chiến tranh.

Về triết học, ông có cuốn Descartes và tư duy khoa học, tập trung trình bày tư tưởng triết học duy lý của Descartes trong tác phẩm Bàn về phương pháp với mong muốn truyền bá rộng rãi hơn tinh thần của nhà triết học vĩ đại này ở Việt Nam, để người Việt có thói quen “xuất phát từ những dữ liệu chắc chắn để suy luận”, “dựa vào chủ nghĩa duy lý và đoạn tuyệt hẳn với mọi biểu hiện của sự cuồng tín, niềm tin mù quáng, kinh nghiệm chủ nghĩa, duy ý chí và cả sự phiêu lưu, những tật xấu đã hoành hành khá lâu trong xã hội chúng ta”. Về chính trị xã hội, ông có các bài viết như Tản mạn thời tôi sống, Bối cảnh lịch sử của phong trào Nhân văn Giai phẩm, Trung Quốc với phương châm một mà hai, hai mà một. Người đọc có thể nhận ra mối liên hệ giữa những gì ông suy nghĩ khi viết “về Descartes và tư duy khoa học” với những đánh giá của ông về những chuyển biến của xã hội Việt Nam thời hiện đại và đương đại.

Cuốn Một linh hồn phiêu bạt tập hợp nhiều sáng tác văn chương ngắn của ông, mang màu sắc của một bút ký, đằng sau những nhân vật hư cấu như Đan, ông Phong, chị Yến,… có bóng dáng cuộc đời ông, người thân của ông và nhiều cảnh ngộ éo le, nhiều sự kiện bi tráng của làng quê Mai Xá và Quảng Trị thời chiến tranh. Một số nhân vật nữ xuất hiện trong những câu chuyện tình cổ điển, trong trẻo và nhiều kịch tính có vẻ như là những bóng hồng thời trai trẻ của ông.

Một lần, Giáo sư ngôn ngữ học Đinh Văn Đức nói với tôi: “Cụ Đệ là thầy dạy toán của tôi đấy!”. Từ đó, tôi mới biết ông từng là thầy giáo dạy toán ở Trường Trung học phổ thông Lam Sơn, một ngôi trường chuyên nổi tiếng của tỉnh Thanh Hóa, và dạy toán tại Trường ĐH Sư phạm Hà Nội. Ông quả là hiện tượng hiếm thấy: nhiều đam mê và đa tài. Tuy nhiên, mọi người quý mến và kính trọng ông trước hết vì nhân cách, vốn được nuôi dưỡng từ một gia đình trí thức yêu nước, đặc biệt từ ông cụ thân sinh của ông. Ông hiểu rộng, biết nhiều, tài hoa, nhưng khiêm nhường; nhìn nhận, đánh giá con người và thời cuộc khách quan, công bằng, tỉnh táo và nhân hậu.

Năm nay, ông tròn 80. Tám thập niên ấy, ngoài khoảng thời gian ngắn làm việc ở nước ngoài, ông chia cho bốn nơi: Quảng Trị (quê ông), gần 20 năm; Hà Nội, hơn 20 năm; Huế, gần 20 năm; Sài Gòn, gần 20 năm. Cho đến nay thì ông thầy dạy toán Trương Quang Đệ thuở nào chia đều cuộc đời của mình như thế, nhưng tôi mong và tin Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh sẽ là nơi níu kéo ông nhiều nhất, nhiều hơn nhiều những nơi khác. Tuy cuộc đời ông nhiều phiêu bạt (có lẽ tên gọi tác phẩm văn chương duy nhất của ông được gợi cảm hứng từ đó), nhưng quê hương vẫn mãi sâu thẳm trong ông, như ông nói “cái cảm giác mình là người Quảng Trị không hề rời khỏi tôi dầu trong giây lát”. Đi khắp bốn phương trời, hiểu nước Pháp như chính nước Việt, hiểu tiếng Pháp như chính tiếng Việt, nhưng vẫn còn đó một Trương Quang Đệ, người trí thức Việt ra đi từ làng Mai Xá

BMH.

Bài 4

Cái duyên tham gia cách mạng của ông 

TRẦN ĐÌNH BẢO

CON RỂ CỦA QUAN HUYỆN HOÀNG HỮU KIỆT

Ô.trẦn ĐÌnh BẢo

         Ô.TRẦN ĐÌNH BẢO

Ông Trần Đình Bảo là người làng Phú Lễ,xã Quảng Phú,huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên. Ông kết hôn với bà Hoàng Thị Tú Tâm,con gái ông Hoàng Hữu Kiệt.Trước cách mạng táng Tám,ông làm việc ở Sở Lục Lộ Trung kỳ.Sau ngày cách mạng khởi nghĩa thắng lợi,ông đưa cả gia đình tản cư về phường Phúc Khê của nhạc phụ.Tại đây,ông được Ủy ban Kháng chiến tỉnh Quảng Trị cho người đến tiếp xúc và đề nghị ông tham gia cách mạng.Do tích cực công tác,lập được nhiều thành tích nổi bật trong lãnh vực hậu cần,,ông được đề bạt làm Chủ tịch huyện Hải Lăng rồi Chủ tịch huyện Vĩnh Linh rồi làm Chánh Văn phòng Ủy Ban Kháng chiến .Sau đó được cử làm Phó chủ tịch tỉnh Quãng Trị,đồng thời với Chủ tịch Trương Quang Phiên -cả hai đều là cháu ngoại của họ Hoàng.

Sau 1954,gia đình ông tập kết ra Bắc và giữ chức vụ Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ của Bộ Nội Vụ..Ông ngỉ hưu năm 1970 và qua đời năm 1994. Từ một viên chức chế độ cũ,nhờ mối duyên với họ Hoàng Bích Khê,ông Trần Đình Bảo đã trở thành một cán bộ cách mạng đóng góp công sức qua hai thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

                                                                                              Theo lời kể của bà HOÀNG THỊ TÚ TÂM (Đ 15) 

 

Bài 5

Tran Dinh Su Azxe

TRẦN ĐÌNH SỬ-Gs Ts-Nhà giáo Nhân dân

Giáo sư Tiến sĩ TRẦN ĐÌNH SỬ

  •  Gs.Ts TRẦN ĐÌNH SỬ là  con trai đầu của ông Trần Đình Bảo và bà Hoàng Thị Tố Tâm.Những năm gần đây,ông rất quan tâm theo dõi, giúp đỡ công việc của họ Hoàng và từng về làng Bích khê tham dự những sự kiện lớn của Chi Nhất A.

             Trần Đình Sử (sinh ngày 10 tháng 8 năm 1940) là một giáo sư, tiến sĩ lý luận văn họcNhà giáo Nhân dân, giảng viên Đại học Sư phạm VinhĐại học Sư phạm Hà Nội và một số trường đại học khác ở Việt Nam. Ông là một trong những nhà lí luận văn học hàng đầu của Việt Nam và có nhiều đóng góp trong việc làm thay đổi diện mạo nền lí luậnphê bình văn học của Việt Nam những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI[1].

Giáo sư Trần Đình Sử được phong danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 2002, Nhà giáo Nhân dân năm 2010[2], được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mĩ hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Nhì, Huy chương Vì sự nghiệp giáo dục.

Trần Đình Sử là người có vốn kiến văn rộng, bao quát một khối lượng tri thức thuộc nhiều lĩnh vực, am hiểu văn họcvăn hóa Việt Nam. Đóng góp lớn nhất trong sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy của ông tập trung vào hai lĩnh vực chính là lí thuyết và nghiên cứu văn học Việt Nam. Trong đó ở mảng lí thuyết, tập trung chủ yếu ở lĩnh vực thi pháp học[3] và tự sự học[4].

Năm 1981, Trần Đình Sử về nước và làm việc tại Khoa Ngữ Văn, giảng dạy Bộ môn Lí luận văn học, Đại học Sư phạm Hà Nội. Ông làm việc ở đó cho đến khi về hưu năm 2008. Tuy về hưu, nhưng ông vẫn tham gia đào tạo bậc thạc sĩ và tiến sĩ ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội và nhiều cơ sở đào tạo khác thuộc các trường đại học và học viện ở Việt Nam cho đến nay.

Khuynh hướng nghiên cứu khoa học chính của Trần Đình Sử bao gồm: nghiên cứu lí thuyết văn học và văn học Việt Nam. Trong đó, về lí thuyết, ông tập trung vào đặc trưng văn học. Trần Đình Sử đi sâu khám phá các giá trị nghệ thuật của văn học, theo thuật ngữ chung của giới học thuật Nga gọi là thi pháp học. Sau khi ở Nga về, Trần Đình Sử chủ yếu nghiên cứu thi pháp học về lí thuyết và thực hành. Và để giảng dạy về thi pháp học ông đã tổng hợp các nghiên cứu của học giả Nga để viết thành giáo trình thi pháp học ở Việt Nam. Những tư tưởng của Trần Đình Sử về mặt lí thuyết được thể hiện rõ ràng trong các chuyên luận và các giáo trình. Cụ thể, gồm các chuyên đề cao học: Đặc trưng của văn học. Thi pháp học, Tự sự học. Ông có tham vọng nghiên cứu thi pháp các hiện tượng văn học tiêu biểu của Việt Nam và đã xuất bản nhiều chuyên luận chuyên sâu, trong đó tiêu biểu là các công trình nghiên cứu về Tố HữuNguyễn Du, và Văn học Trung đại Việt Nam[5].

Một khuynh hướng nữa trong các công trình của Trần Đình Sử là nghiên cứu văn học so sánh. Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu đăng báo, in sách, giảng chuyên đề cao học. Ông dự kiến sẽ xuất bản Giáo trình Văn học so sánh vào năm 2019.

Ông tham gia đào tạo tiến sĩ từ những năm 80, hướng dẫn tiến sĩ từ năm 1990 và đã hướng dẫn hơn 30 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ.

Ngoài ra Trần Đình Sử còn viết, chủ biên trên 100 cuốn gồm sách giáo khoa, sách hướng dẫn giảng dạy, sách bài tập, sách hướng dẫn làm văn cho học sinh các lớp từ lớp 6 đến lớp 12, góp một phần đổi mới dạy học văn học, ngữ văn trong trường phổ thông.

Giải thưởng

  • Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1997 cho cuốn sách: Lí luận và phê bình văn học. (Nhà xuất bản. Hội nhà văn, 1996).
  • Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ năm 2000 cho cụm công trình Thi pháp học, gồm các công trình: Thi pháp thơ Tố Hữu(Nhà xuất bản. Tác phẩm mới, H., 1987), ‘’Lí luận và phê bình văn học (Nhà xuất bản. Hội nhà văn H., 1996), Những thế giới nghệ thuật thơ (Nhà xuất bản. Giáo dục, H., 1995), Dẫn luận thi pháp học (Nhà xuất bản. Giáo dục, H., 1998).
  • Giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội năm 2015 cho cuốn sách Trên đường biên của Lí luận văn học, (Nhà xuất bản. Văn học, 2014).
  • Ông nhận Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinhlần thứ X, năm 2017, vì những đóng góp to lớn và lâu dài trong lĩnh vực nghiên cứu văn học.

Bài 6

Đại Đức THÍCH THANH TUỆ-

THÁNH TỬ ĐẠO

Thanhtudao Thichthanhtue

Đại đức THÍCH THANH TỤE

Chua Phuoc Duyen Chup Tu Tren Cao Anh Suu Tam

Chùa PHƯỚC DUYÊN-HUẾ-Nguyên là nơi Đại Đức Thích THANH TUỆ đã tự thiêu.

Đại đức Ttt 1

ĐĐ Ttt 2

 

Tttue 4

Bài 7.

                                                                          Họ NGUYỄN – Như Sơn

 

CÁC GIA ĐÌNH BÊN NGOẠI TÀI HOA CỦA TÔI

                                                                                              HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN

Mỗi người có một mẹ và một chốn quê nhà thân thương gọi là quê mẹ hay quê ngoại. Quê ngoại của tôi là làng Như Sơn, xã Hải Sơn, huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị. Làng nằm bên cạnh tuyến đường sắt xuyên Việt nên hình ảnh quê ngoại thường gắn với nỗi xao xuyến bồi hồi đằng sau những tiếng còi tàu. Làng thuộc vùng gò đồi nên có nhiều loại cây trái hoang dại như như sim, muồng, me (mua), trâm móc, cơm rượu, nấm tràm, nấm mối… Đây là những đặc sản miễn phí mà thiên nhiên dành cho tuổi thơ của những đứa bé quê, thường đói lòng mà không có quà bánh. Ấy là nói chuyện đời xưa. Mấy chục năm nay, trải qua nhiều đợt cải cách hành chánh, khắc xuất khắc nhập, bây giờ mọi chuyện đã thay đổi nhiều.

Thượng thủy tổ của họ ngoại tôi là ngài NGUYỄN VĂN TÂY, theo chúa Nguyễn Hoàng vào Nam từ khoảng thế kỷ 16, định cư nhiều đời ở vùng Kim Trà (Kim Long – Hương Trà) Thừa Thiên – Huế. Đến đời ông ngoại tôi là NGUYỄN THƯỢNG OÁNH (1885-1941) thì dòng họ Nguyễn được xem là người chính thức khai canh, khai sinh ra làng Như Sơn và chọn nơi này làm quê hương. Ông ngoại tôi là quan chức triều Nguyễn, hàm Tứ phẩm, tước Triều liệt đại phu, Hàn lâm viện Thị giảng. Từ đây hậu duệ của ngài rời bỏ làng Như Sơn vào Huế sinh sống rồi tỏa đi bốn phương.

+ Người con trai lớn của ông ngoại tôi là cụ NGUYỄN ĐẠM – chúng tôi thường gọi là cậu Hường – (tức là tước phẩm Hồng Lô Tự Khanh). Cậu học giỏi có tiếng, chữ quốc ngữ, Hán, Pháp đều tinh thông nhưng rất khiêm tốn, ít nói về mình nên con cháu không biết ông giỏi như thế nào. Chỉ thấy ông viết chữ rất đẹp. Ông thích chơi xăm hường và tự tay chuốt một bộ xăm hường bẳng tre già rồi dùng sơn đỏ vẽ những hoa văn trang trí và viết tên các thẻ tre ấy bằng chữ Hán – từ thẻ Trạng nguyên – (Trạng anh), Bảng nhản, Thám hoa – (Trạng em), Hội nguyên – (Tam Hừơng), Tiến sĩ – (Tứ Tự) đến những thẻ Cử nhân -(Nhị Hường), Tú tài -(Nhất Hường). Đây là bộ xăm hường đẹp và quí hiếm nhất mà tôi từng thấy.

+ Nếu hoa tay của cậu Hường chỉ lưu lại trên bộ xăm hường này thì đến đời con của ông là kiến trúc sư NGUYỄN KỲ (1935) lại lưu danh trên nhiều công trình kiến trúc lớn ở miền Nam Việt Nam.

Tác phẩm lớn nhất và sớm nhất của Kts Nguyễn Kỳ là công trình tôn tạo nhà thờ La Vang ở Quảng Trị thành Vương cung thánh đường. Theo một tài liệu trên Wikipedia thì tác giả công trình kiến trúc này là KTS Ngô Viết Thụ. Nhưng điều này không đúng. Bởi vì trong thời gian từ tháng 2 năm 1962 đến tháng 10 năm 1966, Kts Ngô Viết Thụ đang đảm nhiệm một công trình trọng đại là thiết kế và xây mới dinh Độc Lập (nay gọi là dinh Thống Nhất). Trang web DESIGNS.VN có bài phỏng vấn Kts Ngô Viết Nam Sơn là con trai của kts Ngô Viết Thụ và giới thiệu những công trình của kts Ngô Viết Thụ đã thực hiện ở Việt Nam – từ Dinh Độc lập cho tới những công trình nhỏ hơn như nhà thờ Bảo Lộc, Chợ Đà Lạt, Đại học Nông Lâm, Đại Học Sư phạm Huế… nhưng không hề nhắc đến Vương cung Thánh đường La Vang. Lẽ nào một công trình quan trọng như thế mà Kts Ngô Viết Nam Sơn lại bỏ quên? Riêng tôi còn nhớ có lần đến thăm cậu Hường. Ông Cậu rót cho chúng tôi mỗi người một ly rượu và nói: “Đây là rượu lễ của tòa Tổng Giám Mục Huế tặng cho Kts Nguyễn Kỳ trong thời gian xây dựng nhà thờ La Vang. Hy vọng Kỳ sẽ tiếp tục phát huy tài năng, bao giờ được như Ngô Viết Thụ mới thực là vẻ vang”. Công trình lớn thứ hai của Kts Nguyễn Kỳ là quần thể khu Vạn Phật Quang Đại Tùng Lâm ở huyện Tân Thành, Bà Rịa-Vũng Tàu. Ngoài ra ông cũng còn là tác giả của vài công trình nhỏ hơn như tôn tạo Chùa Từ Đàm ở Huế sau khi chế độ Diệm bị lật đổ và kiến trúc Hồ Con Rùa ở TP.HCM.

NguyỄn KỲ 1

Hồ Con Rùa và Nhà tyhờ La Vang trước năm 1972

NguyỄn KỲ 2

Chùa Từ Đàm Huế và Trung tâm Phật học Đại Tùng Lâm ở Long Thành-(Kts NGUYỄN KỲ)

+ Người cậu thứ hai của tôi là ông NGUYỄN THƯỢNG CỬU, pháp danh Nguyên Châu. Ông có bằng Thành chung và thi đổ ngạch Thừa phái nên được gọi là ông Nghè và từng làm tri huyện Đại lộc ở Quảng Nam nên còn được gọi là ông Huyện. Chức vụ cao nhất sau cùng của ông là Chủ sự, Chánh văn phòng Tòa Đại biểu chính phủ VNCH tại Trung nguyên Trung phần – thủ phủ ở Huế. Giữ những chức vụ ấy thì việc công hẳn rất bận rộn nhưng khi nào cũng thấy ông có vẻ nhẹ nhàng thư thái. Ông thường tập họp bạn bè uống rượu, ngâm thơ và chơi đàn. Có thời gian ông lập một gánh hát bội chuyên nghiệp tên là Đồng Hỷ Ban. Bản thân ông cũng là một nghệ sĩ sáng tác, vừa viết lời vừa độc tấu đàn nguyệt, đàn bầu. Khoảng năm 1965-1966, phong trào tranh đấu của đồng bào và Phật giáo ở miền Trung nổ ra dữ dội. Ông được đề cử làm Chủ tịch Lực lượng Tranh thủ Cách mạng Công – Tư chức. Sau khi phong trào bị Thiệu Kỳ đàn áp, ông bị cách chức và bị tù một thời gian. Qua thực tế của phong trào tranh đấu và sự cọ xát của bản thân, cái nhìn của ông về thời cuộc đã có những chuyển biến rõ rệt. Năm 1970, giặc Mỹ lại leo thang, mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, hòa đàm Paris bế tắt. Trong khi đó, phong trào đấu tranh chống Mỹ -Thiệu, Kỳ của đồng bào Phật giáo, sinh viên học sinh lại bùng nổ đến một đỉnh cao mới ở Huế, Sài Gòn và nhiều tỉnh thành miền Nam. Ông đã sáng tác bài ca Huế sau đây để nói lên tâm thức của mình:

LỬA BOM – LỬA ĐẠO.

(Hò Mái Nhì):

Lửa Đạo sáng soi muôn loài trong vũ trụ

Từ bi ánh tỏ rộng mở tấm tình thương

Lửa bom chẳng phải con đường

Hòa bình dân tộc mười phương an lành

(Chuyển qua Nam Bình):

Lửa bom bình địa giang sơn

Lửa hờn căm

Giặc thù nung nấu

Rày đã bao năm

Âm thầm gánh chịu thăng trầm.

Chịu thăng trầm

Biết tay ai quét sạch phong trần?

Đạo, Đời tươi sáng

Ánh quang minh hoa Đàm khai giáng

Vạn vật reo mừng

Tiếng hoan ca tưng bừng

Trổi dậy vang lừng

Xua tan ngòi lửa chiến tranh

Cầu đất nước hưởng câu thanh bình

Ánh đạo vàng thiêng liêng

Soi tỏ đường Giác Ngộ kẻ tàn hung

Vì nợ non sông Dẹp thù chung

Hãy thương nhau cùng!

Đệ tử NGUYÊN CHÂU

Mùa Phật đản 2514 (1970)

      Ý tứ bài này khá rõ. Trong cuộc chiến tranh vừa qua, chỉ có phía Mỹ mới có thứ lửa bom bình địa giang sơn chứ đối phương làm gì có máy bay ném bom? Ông gọi đó là thứ lửa hờn căm và là tội ác của giặc thù. Đó cũng chính là ngôn ngữ chống Mỹ qua những ca khúc vang động trong phong trào sinh viên học sinh. Dầu bài ca Huế của cậu Nghè có phần buồn rầu ai oán nhưng vẫn có thể đồng hành với Tiếng hát những người đi tới của lớp trẻ.

Cậu Nghè có 12 người con đăng thế, tần suất khá nhịp nhàng, đều đặn và dày đặc. Có lần bé Ốc Xy, con gái út ba tuổi đang chơi ngoài sân thì khóc thét lên chói lói. Tình cờ cậu Nghè đứng trên thềm nhìn thấy thủ phạm là một đứa bé áo đỏ, gây án xong nó chạy núp sau gốc cây khế. Cậu la lên: “Đó đó! Nó đó! Cái thằng áo đỏ nó đánh con Ốc Xy rồi bỏ chạy”. Cái thằng áo đỏ mà ông tưởng là trẻ con hàng xóm thực ra cũng là một trong hơn nửa tá con nhỏ của ông nhưng khi ấy tình hình ngoài sân chơi rất lộn xộn nên ông không nắm vững. Có lẽ ông cũng không ngờ rằng trong đám lộn xộn ấy sau nầy sẽ nổi lên những hậu duệ tài năng tỏa sáng.

Oxy 7 LÊ Văn Ba

NGUYỄN THỊ VÂN HOÀNG & LÊ VĂN BA

+ Bé Ốc Xy – (Nguyên tố Ôxy-O=16) tên NGUYỄN THỊ VÂN HOÀNG sinh năm 1963 Học Trung cấp Mỹ Thuật Huế rồi lập gia đình và ở nhà làm nội trợ. Chồng của Vân Hoàng là họa sĩ LÊ VĂN BA sinh năm 1956 – Hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam – cán bộ giảng dạy tại trường Đại học Mỹ thuật Huế. Hai vợ chồng thường mở lớp dạy hội họa tại nhà. Họ có hai cô con gái cũng đi theo con đường nghệ thuật. Đó là:

          – Lê Nguyễn Lãm Vân. (Bé Nai) – Sinh 1988

LÊ NguyỄn LÃm VÂn

Tranh của Lê Nguyễn Lâm Vân

Học ngành Thiết kế Đồ họa tại ĐH Mỹ thuật Huế từ 2006 đến 2011.

Học cao học Mỹ thuật tại ĐH Mahasarakham Thái Lan từ 2012 đến 2014.

Hiện sinh sống và làm việc tại Thái Lan.

Đã tham dự nhiều triển lãm trong và ngoài nước.

        – Lê Nguyễn Bảo Trân. (Bé Sóc) – Sinh 1990

Học Sư phạm Âm nhạc Học viện Âm nhạc Huế, hiện giảng dạy âm nhạc tại Huế.

 

NguyỄn ThƯỢng HỶ

NGUYỄN THƯỢNG HỶ và tác phẩm

+ Anh của Vân Hoàng là NGUYỄN THƯỢNG HỶ sinh năm 1956 – hồi nhỏ tên là NÊ (René). Chính là “cái thằng áo đỏ” từng đánh bé Ốcxy khóc thét năm xưa. Hỷ tốt nghiệp CĐMT Huế, họa sĩ đồ họa hiện là chuyên viên của Trung tâm Bảo tồn Di tích và Di sản Quảng Nam – Đà Nẵng. Trình độ của Hỷ có thể sánh với hàng chuyên viên ở Trường Viễn Đông bác cổ của Pháp ngày xưa. “Tháng 10 năm 2014, tại Trường Toyama International College of Crafts & Art (Nhật Bản), họa sĩ Nguyễn Thượng Hỷ (nguyên cán bộ Bảo tàng Quảng Nam) được trao giải thưởng DAIFUMI International Award. Đây là giải thưởng lấy tên của người thơ mộc xuất sắc Fumio Tanaka từng được Nhật hoàng vinh danh.

Họa sĩ Nguyễn Thượng Hỷ được trao giải về công việc đo vẽ để tu bổ, bảo tồn các công trình kiến trúc tại miền Trung Việt Nam. Dịp này, họa sĩ Nguyễn Thượng Hỷ có cuộc trao đổi về quá trình trùng tu kiến trúc cổ với các nghệ nhân, kiến trúc sư, kỹ sư có tay nghề và chuyên môn cao của Nhật; góp phần đúc kết kinh nghiệm để áp dụng các phương pháp tiên tiến trong quá trình công tác tại Việt Nam” – (Báo QNO)…

Nguyễn Thượng Hỷ có nếp sống rất nghệ sĩ. Râu tóc, áo quần rất bụi. Chỗ ăn chỗ ở, làm việc đều là không gian thấm đẫm văn hóa Champa vì vậy anh được mệnh danh là “họa sĩ Ma Hời”.

+ Em trai của Nguyễn Thượng Hỷ là NGUYỄN THƯỢNG HUY – tên nhà gọi là Rông – (Pigeon), cử nhân Hội Họa nhưng lại say mê sáng tác ca khúc. Hiện định cư tại Mỹ.

Ngoài ra những anh em khác mỗi người đều có tài riêng. Nguyễn Thượng Hân, tốt nghiệp Sư phạm làm nghề dạy học nhưng có giọng ca rất hot. Cuối năm 2018, Hân đã 64 tuổi, từ Huế vào TPHCM dự đám cưới của cháu gái, rất tự tin lên sân khấu hát nhạc ngoại quốc để tặng quan khách. Nguyễn Thượng Hiền ở Huế và Nguyễn Thượng Hoạt ở TPHCM đều là nghệ nhân chơi hoa kiểng có tay nghề cao.

NguyỄn ThƯỢng HẢi 1.

     Đột xuất có NGUYỄN THƯỢNG HẢI – sinh năm 1950 (tên lúc nhỏ là Phinô) – Tốt nghiệp Cử nhân Luật ở Huế, vào Sài gòn làm chuyên viên Thương mại của Công Ty ống Thủy tinh Sài Gòn từ năm 1973. Từ năm 1975, công ty ngưng hoạt động, Hải thất nghiệp phải lăn lộn ngoài chợ trời ở TPHCM để kiếm sống. Cái khó ló cái khôn. Hải tích lũy kinh nghiệm, làm chủ được thị trường dây đồng, dần dần tự mình mở công ty TNHH Xuất nhập khẩu và trở thành đại gia trong lãnh vực kinh doanh này. Năm 1986, Hải kết hôn với một người đẹp là Trần Trang Cẩm Tú. Nhờ nàng dâu trên cả tuyệt vời này, công việc kinh doanh ngày càng phát đạt. Hải giao cho bà xã quán xuyến công ty còn mình đi sâu vào hội họa. Dù không hề qua trường lớp mỹ thuật nào nhưng miệt mài sáng tác, Nguyễn Thượng Hải đã tự khẳng định được tên tuổi và tầm vóc của một họa sĩ thực thụ. Từ Festival Huế 2006 đến nay, Nguyễn Thượng Hải đã hàng chục lần triển lãm tranh ở nhiều tỉnh thành trong nước – từ TPHCM lên đến Hà Giang.

+ Sau cùng còn phải kể thêm một nhân vật quan trọng là mẹ tôi – bà Diệu Ngọc NGU YỄN THỊ THANH – (1908-1989). Bà là chị ruột cùng cha cùng mẹ của cậu Nguyễn Thượng Cửu. Bà thông thạo hầu hết các môn nữ công gia chánh. Từ đan, thêu, mứt bánh đến nấu nướng các món ăn, nhất là món Huế. Ba tôi làm viên chức hỏa xa, nhiều năm thất nghiệp. Mẹ tôi phải xoay xở tảo tần làm đủ chuyện để nuôi anh chị em chúng tôi. Những năm chiến tranh, có lúc bà trồng bông để dệt vải và nấu rượu để bán. Chúng tôi cũng vô tình, chưa bao giờ hỏi mẹ học được những nghề ấy từ đâu, vào lúc nào. Chỉ biết rằng vào những năm trước cách mạng tháng Tám, ở Huế có Trường Nữ Công Học Hội của Hội Phụ Nữ do Đạm Phương nữ sử làm Chủ tịch. Mẹ tôi được bà Đạm Phương mời về quản lý, cùng gia đình ăn ở luôn trong trường và làm giáo viên dạy hầu hết các bộ môn nữ công gia chánh nói trên cho học viên là các cô gái trẻ có xu hướng duy tân. Rồi cách mạng tháng Tám bùng lên. Nhà trường đóng cửa, thầy trò thất tán. Những năm tản cư mẹ tôi phải cuốc đất trồng khoai sắn hoặc đi buôn đường ngắn đường dài. Khoảng năm 1949, gia đình chúng tôi trở lại Huế, sống nương nhờ trên khu đất vườn nhà cậu Nghè- tức là mảnh nhà vườn từng được mệnh danh là “Tuyệt tình cốc” của những người tranh đấu ở Huế. Năm Nhâm Thìn (1952), nhân ngày kỷ niệm Hai Bà Trưng ( 6-2 Âm lịch), thành phố Huế tổ chức cuộc thi nữ công gia chánh tại Hội Quảng Tri. Mẹ tôi dự thi với món bánh Đào tiên và đoạt giải nhất. Từ đó món bánh Đào tiên của mẹ tôi hồi sinh và thường xuất hiện ở những đám tiệc sang trọng. Một mình làm không kịp các đơn đặt hàng, mẹ tôi phải tìm đệ tử để phụ tá. Có hai người được xem là truyền nhân của món bánh đào tiên của mẹ tôi: một là chị tôi, bà Hoàng Thị Ngọc Thương hiện ở TPHCM. Hai là Nghệ nhân dân gian Hoàng Thị Như Huy ở Huế. Cả hai đều đã nhiều lần triển lãm món bánh Đào tiên rất thành công trong các lễ hội ẩm thực. Cũng nhờ học được nghệ thuật ẩm thực của mẹ tôi mà bà Thương trở thành Nghệ nhân ẩm thực trong nhóm Bếp Việt ở TPHCM. Năm 2017, bà có cơ hội ra nước ngoài dự lễ hội ẩm thực quốc tế tại Philippines. Vào tháng 9 năm 2018 có cuộc hội thảo của UNESCO tại dinh Thống Nhất, TPHCM. Món bánh Đào Tiên của bà Thương (đúng hơn là của mẹ tôi) được ban tổ chức chọn đưa vào trưng bày giới thiệu và làm quà tặng cho quan khách trong phái đoàn quốc tế. Dinh Thống nhất là “cố cung” của các nền Cộng hòa chế độ Sài gòn. Bánh Đào Tiên được bà Hoàng Thị Ngọc Thương đưa vào không gian nầy cũng ví như một phẩm vật “tiến cung” và có thể gọi bánh Đào Tiên là bánh Đào Tiến. Tiếc rằng mẹ đã qua đời, không được thấy ngày vui này, mẹ ơi!

Tôi nói về họ ngoại của mình hơi nhiều nhưng có thể vẫn chưa đủ. Bởi vì trong lớp hậu duệ của dòng họ Nguyễn – Như Sơn chắc vẫn còn những tài năng và tiềm năng mà tôi chưa biết hết. Ngày Xuân nhớ mẹ, tôi chỉ xin ghi lại đôi điều gọi là bày tỏ lòng ngưỡng mộ, tự hào và biết ơn một dòng họ ngoại tài hoa.

Ngoài ra còn nhiều họ ngoại khác cũng có rất nhiều điều tự hào để kể cho con cháu. Rất mong được tiếp tục giới thiệu những dòng họ ngoại khác trên trang web này.

Banhdao Tien Htnt

Bánh đào tiên                                                                                                                                                                                                                                                                                                          HPNP

 

 

Bài 8

 LÊ THỊ HIỀN LƯƠNG

 CÔ SINH VIÊN ĐOẠT NHIỀU GIẢI THƯỞNG HÙNG BIÊN

                                              (Lê Thị Hiền Lương là cháu nội bà Hoàng Thị Đóa (Đ.15)

Hl

Ts.Lê Thị Hiền Lương

Cuộc thi “Olympic các môn học Mac-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” do Bộ GD-ĐT tổ chức, đã kết thúc vào đầu tháng 5 năm 2000. Một trong hai giải xuất sắc nhất của cuộc thi, thuộc về Lê Thị Hiền Lương – SV Trường Đại học An ninh phân hiệu phía Nam.

Ngay từ những năm còn là học sinh tiểu học, Hiền Lương đã sớm bộc lộ năng khiếu văn chương. Lớp 5, cô đã “ẵm” về cho trường giải 3 môn văn toàn quốc. Cả 3 năm lớp 9, lớp 11 và 12, trong cuộc thi học sinh giỏi văn cấp tỉnh, Hiền Lương đều giành thứ hạng cao nhất. Từ khi còn học PTTH, Hiền Lương đã tự mình đi đặt báo Nhân Dân, Văn Nghệ về để đọc và học hỏi. 12 năm liền, Hiền Lương luôn là học sinh giỏi của lớp.

Khi vào đại học, ngôi trường mà cô chọn đã làm không ít người ngạc nhiên, vì nó dường như đối lập với “chất văn” trong cô: Đại học An ninh. Hiền Lương cười giải thích: “Vì nhà mình là gia đình cách mạng “nòi” mà. Ông nội mình từng bị tù ở Côn Đảo mười mấy năm trời. Hơn nữa, vào học ở đây, mình được rèn luyện thêm rất nhiều về tư tưởng, lý tưởng sống và làm việc”. Vào đại học, mỗi thứ bảy, chủ nhật, trong khi bạn bè dành thời gian giải trí thì Hiền Lương “làm một cọc sách dày” mượn từ thư viện về đọc. Mỗi tác phẩm đọc xong, cô đều có ghi chú, nhận xét vào sổ kỹ lưỡng.

Hiền Lương đặc biệt thích những tác phẩm của Liên Xô viết về chiến tranh vệ quốc, bởi: “Nhân vật trong những tác phẩm ấy ảnh hưởng rất nhiều đến lý tưởng sống của mình”. Năm đầu Hiền Lương là sinh viên tiên tiến, 2 năm sau là sinh viên xuất sắc. Tháng 9 – 1999, trong cuộc thi “Tuổi trẻ với di chúc Bác Hồ” giữa 28 đội gồm các trường đại học và các quận đoàn, Trường Đại học An ninh (phân hiệu phía Nam) là đội vô địch. Riêng Hiền Lương đoạt liền 2 giải: giải cá nhân xuất sắc nhất và giải người thi thuyết trình hay nhất.

Dự cuộc thi “Olympic các môn học Mac-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”, Hiền Lương là người đạt số điểm cao nhất trong vòng thi tại trường, rồi tại Bộ Công an. Vòng chung kết với các thí sinh từ 62 trường đại học về tham dự, Hiền Lương là một trong hai sinh viên xuất sắc nhất cuộc thi. Với chủ đề “Nhận thức và suy nghĩ về câu nói của Bác Hồ: Đảng ta thật là vĩ đại”, Hiền Lương đã chinh phục không ít ban giám khảo, mà cả những khán giả khó tính nhất.

NGÔ HOÀI GIANG (Báo Phụ Nữ T.P. HCM)

  • Hiện Lê Thị Hiền Lương là Tiến sĩ,Chủ nhiệm Khoa Lý Luận-Đại học An Ninh –Khu vực II tại TPHCM.Cô đã có gia đình .Chồng cũng là Tiến sĩ,công tác chung tại trường Đại Học.

 

 

Bài 9

THƠ DƯƠNG HOÀNG HUỆ

  • Dương Hoàng Huệ là cháu ngoại ông Hoàng Hữu Trứ (Đ 15).Bà làm thơ rất nhanh,bút lực sung mãn.Thơ bà thường được giới thiệu trên Zalo Họ Hoàng Bích khê.Sau đây là một vài bài gần đây nhất.
DƯƠng HoÀng HuỆ

Thơ DƯƠNG HOÀNG HUỆ

TẠM BIỆT THÁNG 12

Tạm biệt nhé tháng mười hai dịu ngọt

Cuối đông rồi nắng vàng vọt hanh hao

Đợi xuân qua đón giây phút ngọt ngào

Hoa khoe sắc xuyến xao từng ngọn gió

Tạm biệt nhé áng mây hồng bên ngõ

Ánh bình minh rực đỏ cuối chân trời

Ta lặng mình trong niềm nỗi chơi vơi

Góc quán nhỏ nghe lời ca êm ái

Ta tạm biệt những mảnh tình xa ngái

Những ý vần tồn tại mãi không phai

Đón xuân sang chìm đắm bóng nguyệt đài

Mưa lất phất ru hoài câu thương nhớ

Tạm biệt nhé đêm đông buồn nức nở

Ta đón chào nét rạng rỡ ngàn hoa

Tạm biệt rồi mùa cũ khẽ trôi qua

Mùa xuân tới mặn mà câu duyên nợ

31.12.2023- DƯƠNG HOÀNG HUỆ

 

Bài 9bis

DÒNG SÔNG QUÊ NGOẠI

_______________________

VÕ HOÀNG MY HẰNG

Myhang 4

VÕ HOÀNG MY HẰNG

  • Võ Hoàng My Hằng là con gái của bả Hoàng Thị Hoa (Đ 15)-cháu gọi ông Hoàng Hữu Trung bằng cậu ruột-tốt nghiệp đại học Ngữ Văn,Đại Học Huế.

Thật tự hào khi được sinh ra bên dòng sông của hai quê hương nội ngoại và lớn lên trong vòng tay yêu thương của người thân.Cho đến một ngày bước vào giảng đường đại học,xa mái ấm gia đình,xa trường cũ,xa bạn bè để chuẩn bị hành trang vào đời.Nhưng tuổi thơ của tôi,dòng sông tôi yêu sẽ mãi mãi là quá khứ không phai mờ…

Cứ vào dịp hè tôi lại cùng gia đình về quê ngoại ,thả hồn vào những kỷ niệm ấu thơ,về những ngày lẽo đẽo sau hình dáng mõi mòn của ngoại với đôi dép mòn tần tảo sớm hôm.Được cậu tôi dành cho chiếc võng dù ngoài gốc cây khế,tôi nằm lắng nghe tiếng chim hót trên cành và tiếng chổi quét lá xào xạc.Ngoại thường quét lá vào buổi sáng,khi cây cò trong vườn còn ướt đẫm sương đêm,khi những tia nắng đầu tiên vừa le lói trên ngọn cây và vai trò của tôi là đốt những đống lá mà ngoại đã vun sẵn.Đôi khi tiếng lá khô cháy nổ lách tách cũng làm tôi bật cười thích thú. Hầu như mọi cây cối trong vườn đều do một tay ngoại trồng và chăm bón.Dù xuân sang hạ đến, cây vẫn đâm chồi nẩy lộc.Vườn của ngoại hội tụ những đặc sản miền quê ,đúng nghĩa là :cây nhà lá vườn:.

…Và như thế,ngày lại ngày,dòng sông như quá đổi thân quen.Dòng sông Vĩnh Địng ngày nào tôi vẫn nhớ.nó trong xanh đến kỳ lạ.Tôi thường soi mình xuống dòng sông và tìm kiếm những ngụm nước mát lành.Dòng sông như in hình bóng của bà cháu tôi vào mỗi buổi chiều tà.Nó cũng như tôi lặng yên trong những câu chuyện về một thời xa xưa mà ngoại tôi thường kể khi ra bến sông,cùng ngắm nhìn những chuyến đò ngang chở khách qua lại.Nhớ về dòng sông Vĩnh Định tôi lại hồi tưởng về hình ảnh của ngoại..Dòng sông ai đã đặt tên (1) …Tôi yêu ngoại vô cùng.Thời gian cứ d6àn trôi đi và con người rồi cũng phải trở về   với cát bụi.Nay ngoại tôi cũng đã không còn nữa.Nhưng ngoại còn để lại cho tôi “dòng sông của tuổi thơ”…

VÕ HOÀNG MY HẰNG   

(1).- Sông Vĩnh Định là một phân lưu của sông Thạch Hãn,nằm trên địa bàn hai huyện Triêu Phong và Hải Lăng .