Lịch Sử

Lichsu

Bài 1

 NHÀ THỜ HỌ HOÀNG
QUA NHỮNG BƯỚC ĐỔI THAY

Cho đến nay, Họ hoàng Bích Khê đã trải qua 4 “đời nhà thờ Họ”.

  1. Đời 1: khởi thủy từ thời nào không rõ. Nhưng nếu cứ lấy cuộc đời của kẻ viết bài nầy làm mốc để tính toán thì cách đây gần 70 năm khi điều tra viên còn trong bụng Mạ “nhà thờ Họ đời 1” đã có rồi, và trước đó cả trăm năm tổ tiên nhiều đời họ Hoàng ta đã từng chiêm bái ở “nhà thờ Họ Đời 1” ấy.

Theo một lão bối của họ Hoàng cho biết thì bộ “giàn giá” 5 căn truyền thống của “Đời 1 nhà thờ Họ” nguyên được tổ tiên “tậu” lại của một họ Đạo trong vùng. Họ Đạo này tiến lên xây dựng cho giáo xứ mình một giáo Đường theo kiểu Tây và bán bộ giàn giá ấy cho họ Hoàng Bích Khê.

Đến 1972, như chúng ta đã biết; “đời 1 nhà thờ Họ” “qua đời” vì bom đạn chiến tranh.

  1. Đời 2: “Nhà thờ họ Hoàng Đời 2” là gọi cho vui vậy thôi, chứ đó không phải là “nhà” mà là “cái dại” với hai tấm tranh cùn ghép lại trên đống gạch vụn để làm chỗ che mưa đụt nắng cho Linh vị Tổ tiên, lúc ấy chỉ còn sót lại một mảnh gỗ mục với hàng thếp vàng đã lóc gần hết. Sau này con cháu đem cưa lọc lại để gắn vào linh vị mới lưu chút di tích ngày xưa. Đây là hiện tượng từng làm đau lòng con cháu nội ngoại họ Hoàng sau ngày đất nước hòa bình về tìm thăm lại cội nguồn cắt rốn chôn nhau. Ai muốn thấy ảnh “cái dại” ấy xin tìm gặp Đời 16 Hoàng hữu Kham ở Vũng Tàu.

“Nhà thờ Họ đời 2” (xin tạm gọi thế) chấm dứt tuổi thọ não nùng ấy vào mùa thu Quý Hợi 1983 sau 11 năm tồn tại dưới dạng cái “mái dại” ấy.

  1. Đời 3: Đời 3 nhà thờ Họ ra đời vào năm 1983. Nhà thờ Họ Đời này là biểu tượng của tinh thần gia tộc của con cháu họ Hoàng không phân nội ngoại, ở đỉnh cao nhất. Đấy là thời điểm của khó khăn kinh tế mà mỗi người phải làm việc bằng hai, bằng ba mới đủ nuôi sống gia đình. Tuy nhiên, xuất phát từ nỗi xót xa ngậm ngùi đối với tổ tiên khai sáng dòng họ mà một “chiến dịch thắt lưng buộc bụng” đã được các Trưởng bối dòng tộc phát động để con cháu được dịp bày tỏ niềm hiếu nghĩa với cội nguồn. Công lao xin được ghi khắc thật sâu thật đậm cho tất cả mọi người có mang họ Hoàng hay mang họ ngoại đã đổ mồ hôi để đổi lấy vật hạng xây dựng nơi an trú cho anh linh tổ tiên; nhưng cũng xin được biểu dương riêng tích cực của “vận động viên” Hoàng hữu Kham, “nhà tài trợ chính” Hoàng hữu Kiên, kỹ sư thiết kế kiêm chỉ huy công trường Hoàng thạch Cẩm, bộ phận thường trực Trần Cáp – Hoàng thị Thược cùng các cháu ngoại họ Trần, “người anh hùng cô đơn” Hoàng hữu Thục và trên hết là thượng cấp chỉ đạo Hoàng hữu Thước (đã quá cố) – Bên cạnh đó, còn phải nói tới các anh hùng Lao động “vô danh” với thợ nề Hiển đã thi công xây suốt 1 tháng ròng rã để cho nhà thờ Họ Đời 3 có mặt giữa Bích Khê. “Đời 3 nhà thờ Họ Hoàng” ra đời đã “đánh động” tình cảm gia tộc của nhân dân địa phương, khuyến kích cả làng trong việc phục hồi các cơ sở văn hóa truyền thống đã bị mất đi trong chiến tranh và củng cố tinh thần hiếu nghĩa vốn sẵn có từ lâu đời của con dân Bích Khê. Điều đáng tiếc là vật hạn xây dựng hồi ấy đều thuộc loại “tự sản tư tiêu” của Quảng trị “thời bán khai” nên từ đường đời 3 này của Họ Hoàng đã không thể đứng vững được trước những cơn bão lụt thường xuyên của miền Trung nên lại đến lúc phải tái thiết.
  2. Đời 4: “Nhà thờ Họ Đời 4” được khai sinh trong khí thế đóng góp hồ hởi nhất của con cháu nội ngoại họ Hoàng “thời mở cửa” với nét kiến trúc “tân cổ giao duyên”, bê tông hóa toàn bộ cột kèo chống mối mọt. Có tới “tứ long Triều Tổ”, “nhị phụng nghinh phong”, “nhị quy chầu nguyệt” và “Lưỡng Lân phục địa”. Trong nội thất thì tổ họ và hai tổ phát được ngự “ngai vàng” hẳn hoi – Còn có cả Phổ đồ Hoàng tộc và bảng dẫn trình phát tích của dòng Họ cùng bảng thông tin sinh hoạt nội bộ và bảng liệt kê danh sách con cháu đã đóng góp vào công tác tái thiết, thể hiện một “tính văn hóa” rõ ràng. Đến đây, lại xin được phép biểu dương công đức của nhà thiết kế xây dựng Hoàng Thạch Cẩm, kẻ luôn “thả hồn” vào mọi công trình phụng tự của gia tộc, đồng thời ghi nhớ công đức của nhà thầu Nguyễn Thú ở làng Long Hưng, người đã biến bản thiết kế của kỹ sư họ Hoàng thành hiện thực.

“Đời 4 nhà thờ Họ” chính thức được “khai sinh” vào ngày 25/8/1996 nhằm 12/7 Bính Tý trong niềm hân hoan của con cháu họ Hoàng từ Bắc chí Nam về dự – Ngày đó cũng nhằm ngày mùa báo hiếu Vu Lan.

Tuy nhiên, thành tích hiếu nghĩa này được thành tựu mỹ mãn, trước hết là nhờ tài khôn khéo điều động và kỹ năng quản lý “ngân sách” của thủ quỹ: Đời 15 Hoàng hữu Trung – Tài sản tái thiết do bà con đóng góp không những không hề “sứt mẻ” mà trái lại còn “sinh sôi nẩy nở” thêm tới gần 20 triệu! Ấy cũng là nhờ vị hiền nội của ông Trung đã tích cực giúp “đức ông” thiết kế bày mưu đem về lợi lạc cho cả dòng họ nhà chồng, cũng giống như 1 vị hiền nội khác của ông Đại diện dòng tộc ở Huế đã bao năm giữ vững kỷ cương quản lý quỹ hương hỏa Nghĩa trũng, quỹ hương hỏa “cụ cố” Đời 13, cho cánh Họ Hoàng tại Cố Đô. Không có 2 người dâu hiền này e rằng tiền vô nhà khó như gió vô nhà trống.

Ấy vậy, nhưng thử hỏi, tất cả những thành tựu lớn lao ấy và những biểu dương đang còn quá nhiều thiếu sót nầy sẽ thế nào nếu như không được năng nổ đôn đốc, nhiệt tình chăm sóc, điều hòa của những Đời 14 Hoàng hữu Lạc rồi Hoàng hữu Hạch, đời 15 Hoàng hữu Thước, Hoàng thị Hạnh, Đời 16 Hoàng hữu Dai, Hoàng hữu Kham…vv.

Và cũng như những công trình tái thiết khác của họ, của làng sau chiến tranh, bà con họ Hoàng ở  nước ngoài như Mỹ, Anh, Pháp, Úc, Thái Lan… bao giờ cũng bài tỏ nhiệt tình đối với việc lớn của gia tộc. Cái đó là “nước đi ra biển lại mưa về nguồn”.

Sau cùng xin bà con đừng có mới quên cũ. Có được nhà thờ đời 4, phải nhớ đến đời 3, đời 2, đời 1 – đời nào cũng công đức tâm huyết như nhau. Không thể nói đời sau công đức lớn hơn hơn đời trước.

HOÀNG THẠCH TÚ – ( Đ 17)

Nha Tho Ho 1983

Nhà thờ Họ HOÀNG đợt trùng tu năm 1983.

Nha Tho Ho 1993

.                                                                       Nhà thờ Họ-trùng tu năm 1996.

NHÀ THỜ CHI NHẤT A

Nhà thờ chi nhất A của họ Hoàng, thường gọi là nhà thờ Chi nằm ở địa đầu làng Bích Khê, đi trên tỉnh lộ rất dễ nhìn thấy. Nhà thờ do ngài Hoàng Hữu Lợi sáng lập cách nay gần 150                 năm. Kiến trúc ban đầu do chính ngài thiết kế kiểu dáng, phối cảnh, cả những hoa văn, chi tiết trang trí ở đầu cột kèo cũng do ngài tự tay vẽ mẫu để cho thợ mộc chạm trổ. Nhà thờ không lớn lắm, có lẽ do thời ấy, các ngài ở Chi Nhất còn phải gánh vác kinh phí cho những công trình khác như đình, chùa, nhà thờ họ và cả đàn Nghĩa Trũng. Vào khoảng những thập niên giữa thế kỷ 20, người chăm sóc nhang khói ở từ đường là ông Hoàng Hữu Tăng (tên thường gọi là Chắt). Ông Chắt tuy bị câm và điếc nhưng rất có hoa tay. Ông  thường xuyên tô điểm, trang trí vách tường, điện thờ, bố trí hoa cảnh trong sân vườn, nhờ đó nhà thờ luôn luôn được khang trang, ấm cúng. Sau khi ông Chắt qua đời, em trai  là ông Hoàng Hữu Thiềm tiếp tục công việc. Ông Thiềm là người tu tại gia nên bày thêm bàn Phật ở chính điện ngày hai lần công phu tụng niệm. Có thêm tiếng chuông tiếng mõ, nhà thờ càng thêm trang nghiêm. Linh vị của liệt tổ, di cảo của tiền nhân và quan trọng nhất là các bản gia phổ gốc bằng chữ Hán và song ngữ Hán Việt đều được lưu giữ tại nhà thờ Chi. Gian chính điện có bức ảnh chân dung của ngài Hoàng Hữu Xứng khổ lớn do một họa sĩ cung đình ở Huế là ông Nguyễn Văn Nhân vẽ theo lối truyền thần ký ức. Trong trận chiến ác liệt dài ngày năm 1972, nhà thờ bị bom đạn phá hủy. May nhờ ông Hoàng Hữu Kham liều chết quay về nhà thờ cứu được toàn bộ gia phổ, di cảo và các sắc phong. Sau hiệp định Paris, ông Hoàng Phủ Ngọc Tường có lần về thăm nhà thờ. Trong đống gạch vụn, ông Tường đã nhặt được một mẫu ván bể nát, chỉ còn sót lại một chữ HOÀNG viết bằng chữ Hán. Đó chính là tấm bảng đề hai chữ Hoàng môn sơn son thếp vàng gắn trên cổng tam quan của nhà thờ chi. Ông Tường coi chữ Hoàng ấy như tấm gia huy, đem về để trên bàn thờ. Sau năm 1975, chúng ta phải ưu tiên tái thiết nhà thờ Họ nên nhà thờ Chi vẫn chỉ là hình ảnh hoài niệm trong ký ức. Có một người đã biến hoài niệm thành hình ảnh cụ thể. Đó là họa sĩ Hoàng Hữu Chỉ. Ông đã dùng ký họa vẽ lại toàn cảnh nhà thờ Chi vào thời chưa bị chiến tranh hủy diệt. Mấy năm sau, kế hoạch tái thiết nhà thờ Chi được tái khởi động với sự tài trợ chính của ông Hoàng Kiều và với sự đóng góp  công sức của bà con nội ngoại,tích cực nhất là quí ông Hoàng Hữu Hạch,Hoàng Hữu Pha,Hoàng Hữu Kham …Lúc đầu bản vẽ được giao cho một kiến trúc sư tài năng, tốt nghiệp ở Mỹ là ông Hoàng Mai Hãn, con trai ông Hoàng Mai Lĩnh. Nhưng bản vẽ của ông Hãn quá hoành tráng, vượt mức tài trợ của ông Hoàng Kiều, vả lại không phù hợp với bối cảnh nông thôn còn nhiều khó khăn. Vì vậy người chủ trì công trình nầy là ông Hoàng Hữu Hạch quyết định chỉ giữ lại bức bình phong trong bản vẽ của ông Mai Hãn còn kiến trúc chính của nhà thờ Chi thì đành phải thu nhỏ và tinh giản đi nhiều – đó chính là nhà thờ chúng ta thấy hiện nay. Sau khi hoàn chỉnh phần xác, phần hồn – tức là trang trí, thiết kế nội thất phải nhờ đến hai họa sĩ tài năng trong lĩnh vực này là Hoàng Hữu Chỉ và Hoàng Bích Hoài Anh. Đặc biệt, ông Hoàng Hữu Chỉ là người để lại dấu ấn mỹ thuật trên mọi công trình trùng tu của họ Hoàng: nhà thờ Họ, nhà thờ Chi, Lăng mộ, đàn Nghĩa Trũng, thơ văn, ấn phẩm… Nhà thờ Chi  “đời mới” khánh thành vào năm 2005 là niềm vui lớn của bà con họ Hoàng. Năm 2008, khánh thành thêm công trình hồ bán nguyệt rất đẹp ở trước cổng nhà thờ. Công trình này do ông Hoàng Hữu Pha tài trợ đã làm cho kiến trúc nhà thờ càng thêm hoàn chỉnh.

Có một số ý kiến cho rằng các chi phái khác của họ Hoàng ngày nay không còn nhiều người, tuyệt đại đa số đều thuộc chi nhất. Chỉ cần đại tu nhà thờ Họ là đủ. Việc xây lại nhà thờ Chi sẽ làm phân tán tình cảm và hao tốn sức người sức của. Nhưng cũng có nhiều người khác cho rằng lịch sử của họ Hoàng gắn với nhà thờ Chi đã hơn một trăm năm nay. Tâm tư tình cảm, kỷ niệm của bà con họ Hoàng trong nhiều thế hệ gắn với nhà thờ Chi rất thiêng liêng sâu sắc. Bởi vậy việc tái thiết nhà thờ Chi là rất phù hợp với tâm nguyện của bà con. Và tâm nguyện nầy cũng rất chính đáng.

HẠNH HOA

Nha Tho Chi Nhat

                                                                         Nhà thờ Chi Nhất A trước năm 1972

Nha Tho Chi Hh Chi Ve

                                               Toàn cảnh nhà thờ Chi Nhất A  trước năm 1972 -theo tranh vẽ của Hoàng Hữu Chỉ

 

Khanh Thanh Nha Tho (3)

Nha Tho Chi 2008

Nhà thờ Chi Nhất A  sau đợt trùng tu và nâng cấp năm 2008

             MỘT SỐ SỰ KIỆN VÀ THỜI ĐIỂM ĐÁNG NHỚ   

____________________________

* 1972: Nhà thờ Họ và nhà thờ Chi bị bom đạn phá hủy. Làng Bích Khê cùng thị xã Quảng Trị bị san bằng.

* 1975: Một số con cháu họ Hoàng ở trong làng trở về sớm, dựng lại mái nhà thờ Họ bằng tranh tre để ông bà tạm trú.

* 1982: Bà con họ Hoàng góp kinh phí, tính xây lại nhà thờ Chi. Nhưng theo đề nghị của ông Hoàng Hữu Kham đã chuyển sang kế hoạch trùng tu nhà thờ Họ.

* 1983: Khánh thành nhà thờ Họ trùng tu lần thứ nhất – người tài trợ chính trong đợt trùng tu nầy là ông Hoàng Hữu Kiên (Đ.16).

* 1984: Qui táng lăng mộ tiền nhân 4 đời từ Đ.11 đến Đ.14 về khu nghĩa trang Nương Âm.

* 1987: Trùng tu, tôn tạo lăng mộ ngài Thượng thủy tổ Hoàng Công Hội.

* 1989: Đại Hội Họ Hoàng lần I tại Thành Phố Hồ Chí Minh với gần 500 người tham dự.

* 1993: Khánh thành đình làng xây mới.

* 1994: Trùng tu đàn Nghĩa Trũng lần thứ nhất.

* 1996: Trùng tu, nâng cấp nhà thờ họ với sự tài trợ chính của ông Hoàng Kiều. Đồng thời đàn Nghĩa Trũng cũng được trùng tu nâng cấp lần thứ hai với sự tài trợ của ông Hoàng Hữu Kham.

* 1999: Tái thiết chùa Hồng Khê.

* 2001: Đại Hội Họ Hoàng lần II tại TPHCM – Phát hành 2 quyển sách Xương Khê Hoàng Tộc Thống Phổ và đặc san Nếp Nhà.

* 2005: Khánh thành nhà thờ Chi Nhất A được tái thiết trên nền đất cũ với sự tài trợ chính của ông Hoàng Kiều.

 * 2008: Khánh thành hồ bán nguyệt trước nhà thờ với sự tài trợ của ông Hoàng Hữu Pha.

 * 2010: Lễ hiệp kỵ tại nhà thờ Chi Nhất A – thôn Bích Khê.

__

 

Bài 2

TRẤN SƠN NAM- HUYỆN DUY TIÊN
NƠI XUẤT PHÁT NHỮNG BƯỚC CHÂN NAM TIẾN
CỦA TIỀN NHÂN HỌ HOÀNG

     Theo Xương Khê Hoàng Tộc Thống Phổ thì họ Hoàng ta có nguồn gốc xa xưa từ trấn Sơn Nam Thượng, nay thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Đây là một vùng đất văn hóa lớn, vốn nổi tiếng địa linh nhân kiệt. Để hiểu biết thêm về cội nguồn của họ Hoàng, chúng tôi xin cung cấp một số tư liệu và hình ảnh về Trấn Sơn Nam xưa và huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam ngày nay. Trấn Sơn Nam hay xứ Sơn Nam hay là vùng đất phía nam Thăng Long từ thời Hậu Lê đến nhà Nguyễn.

 

  • Lịch sử thay đổi địa giới và tên gọi
    Ngày nay xứ Sơn Nam là các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình và một phần các tỉnh Hưng Yên, Hà Nội (5 huyện phía nam).

Tiền thân của xứ Sơn Nam là thừa tuyên Thiên Trường. Năm Quang Thuận thứ 10 (1469), thời vua Lê Thánh Tông, lần đầu tiên có bản đồ Đại Việt, Thiên Trường được đổi tên là Sơn Nam, bao gồm 11 phủ, trong đó tất cả có 42 huyện

Thời Tây Sơn, đổi lộ thành trấn, xứ Sơn Nam được chia ra Sơn Nam Hạ, Sơn Nam Thượng.

Đến đầu triều nhà Nguyễn cơ bản đất Sơn Nam cũ gồm:
– Địa bàn các tỉnh Hưng Yên, Hà Nam (phủ Lý Nhân thời xưa), và một phần tỉnh Hà Tây ngày nay thuộc Sơn Nam Thượng.
– Địa bàn các tỉnh Nam Định, Thái Bình, và một phần tỉnh Ninh Bình ngày nay (các huyện mới khai khẩn ven biển như: Kim Sơn, …) thuộc Sơn Nam Hạ.
– Ranh giới giữa Sơn Nam Hạ và Sơn Nam Thượng là con sông Luộc (bên tả ngạn sông Hồng), và có lẽ là sông Lý Nhân (bên hữu ngạn sông Hồng).

Đến thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn (1822), trấn Sơn Nam Hạ đổi tên thành trấn Nam Định, còn trấn Sơn Nam Thượng được gọi là Sơn Nam (như vậy cái tên gọi trấn Sơn Nam được dùng hai lần: trấn Sơn Nam ở triều đại nhà Hậu Lê khác với trấn Sơn Nam đầu nhà Nguyễn, thời sau nhỏ bé hơn nhiều thời trước). Năm 1831 ÷ 1832, thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn, thành lập các tỉnh Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình trên cơ sở các trấn Nam Định, Sơn Nam Thượng cũ và thành Thăng Long cũ. Lúc này trấn Nam Định được đổi thành ra tỉnh Nam Định (bao gồm cả hai tỉnh Nam Định và Thái Bình, trừ huyện Hưng Hà Thái Bình và phần phía Tây huyện Đông Hưng Thái Bình ngày nay thuộc tỉnh Hưng Yên lúc đó). Đến năm 1890, thời vua Thành Thái, trên đất Sơn Nam xưa và Thăng Long cũ, thành lập thêm các tỉnh: Hà Nam (phủ Lý Nhân), Thái Bình (tách từ Nam Định và có nhập thêm một phần, ở phía Nam sông Luộc, của tỉnh Hưng Yên), Cầu Đơ (sau đổi là Hà Đông bao gồm cả: Thường Tín và Ứng Hòa của trấn Sơn Nam xưa).

Năm 1965, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quyết định nhập hai tỉnh Nam Định và Hà Nam thành tỉnh Nam Hà.

Đến năm 1975, tỉnh Nam Hà lại nhập với tỉnh Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh, tỉnh này tồn tại tới năm năm 1991 thì lại được tách thành: Nam Hà và Ninh Bình,.

Năm 1996 chia tỉnh Nam Hà thành hai và từ đây có đủ 3 tỉnh riêng rẽ: Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình như hiện nay.

Các di tích và danh thắng

Vùng văn hóa Sơn Nam cùng với xứ Đông là hai vùng giáp biển, do đó có nét văn hóa tương đồng và phân biệt với hai vùng văn hóa Kinh Bắc và xứ Đoài. Ngày nay, trong vùng có khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, các lễ hội nổi tiếng như lễ hội Phủ Dày, lễ hội chùa Bái Đính, các lễ hội khai ấn đền Trần ở Thái Bình và Nam Định, lễ hội cố đô Hoa Lư.

Vùng văn hóa Sơn Nam có nhiều di tích và danh thắng nổi tiếng, phân bố đều ở các tỉnh:
– Ninh Bình: Cố đô Hoa Lư, rừng Cúc Phương, Tam Cốc – Bích Động, nhà thờ Phát Diệm, Tràng An…
– Nam Định: đền Trần, phủ Dầy, vườn quốc gia Xuân Thủy Thái Bình: chùa Keo
– Nam Hà Nội: chùa Hương
– Nam Hưng Yên: Phố Hiến.

HUYỆN DUY TIÊN – TỈNH HÀ NAM

NGUYÊN QUÁN CỦA HỌ HOÀNG BÍCH KHÊ

Xưa kia huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam thuộc trấn Sơn Nam Thượng. Theo Xương Khê Hoàng Tộc thống Phổ thì địa phương nầy chính là nguyên quán của họ Hoàng Bích Khê ta. Vậy nay cũng cần biết đôi nét về địa phương chí của vùng đất  nầy, cũng chính là để hiểu thêm về truyền thống lịch sử của dòng họ ta.

 

       Duy Tiên là một huyện nằm ở phía bắc của tỉnh Hà Nam, phía bắc giáp tỉnh Hà Tây cũ (nay đã nhập vào Hà Nội), phía đông giáp sông Hồng và huyện Lý Nhân, phía nam giáp huyện Bình Lục và thành phố Phủ Lý, phía tây giáp Hà Nội (Hà Tây cũ) và huyện Kim Bảng. Diện tích chủ yếu của huyện là đồng bằng.

Lịch sử
Huyện Duy Tiên ban đầu vốn là huyện Duy Tân, thành lập và đặt tên năm Quang Thuận thứ 10 (1469) đời Lê Thánh Tông. Đến đời Lê Trung hưng, đầu niên hiệu Hoằng Định (1601-1619) do kiêng tên huý Kính Tông Lê Duy Tân, đổi là huyện Duy Tiên

Thắng cảnh và di tích
– Chùa Long Đọi Sơn nằm trên Núi Đọi tại xã Đọi Sơn gắn liền với vị vua Lê Đại Hành và lễ Tịch Điền mới được phục hồi từ 2009
– Đền Lảnh Giang thuộc xã Mộc Nam thờ Tam vị danh thần đời Hùng Vương thứ 18 có công giúp vua Hùng Duệ Vương chống lại Thục Phán
– Đình Lũng Xuyên, nơi Nguyễn Hữu Tiến (nhà cách mạng) đã vẽ  lá cờ đỏ sao vàng ,quốc kỳ Việt Nam.
– Đền Thôn Câu Tử, xây dựng cách đây rất nhiều năm, nay đã được sửa sang, nằm cạnh sông Châu Giang
– Đình Trung Gián Đông nằm trên Thôn Trung Gián Đông tại xã Châu Giang.
– Đình Ngọc Động (xã Hoàng Đông.

NHỮNG TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA LỚN CỦA HUYỆN DUY TIÊN và TRẤN SƠN NAM

Trống Đội Sơn Nhung Nguoi Giu Tieng Vang Cua Lang Nghe Trong Doi Tam Lang Nghe Doi Tam

                                                          Nghề làm trống ở xã Đọi Sơn

Mu Roi Nuoc

MÚA RỐI NƯỚC

                                                       Duyti 1

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc xuống đồng

Doison

Lễ Tịch điền- phục hiện cảnh nhàVua xuống đồng cày ruộng.

 

 

.

 Bài 2bis

CÓ MỘT HỌ HOÀNG BÍCH GIANG
ANH EM RUỘT THỊT VỚI HỌ HOÀNG
BÍCH  KHÊ

      Có lẽ bà con mình ít người biết rằng họ Hoàng Bích Khê của chúng ta có một người anh ruột là họ Hoàng ở làng Bích Giang, xã Cam Hiếu, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.

Theo Xương Khê Hoàng Tộc Thống Phổ Chính Biên do ngài Hiệp Biện Đại Học Sĩ Hoàng Hữu Xứng biên soạn bằng chữ Hán từ năm 1876 thì thủy tổ họ Hoàng vốn xuất phát từ làng Hồng Khê, huyện Duy Tiên, Trấn Sơn Nam Thượng (nay thuộc tỉnh Hà Nam). Vào khoảngthế kỷ thứ 16, thượng thủy tổ họ Hoàng là ngài Hoàng Công Hội cùng với ông anh ruột và hai ông thủy tổ các họ Lê và họ Đỗ vào Nam theo các đợt di dân lập nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng. Đến bờ sông Điếu Ngao ở Đông Hà, ông anh ngược dòng sông lên vùng Cam Lộ, lập nên làng Bích Giang. Còn ngài Hoàng Công Hội thì xuôi theo sông Thạch Hãn, cùng hai vị thủy tổ họ Lê, họ Đỗ lập nghiệp ở làng Bích Khê.

Vào năm 1984, nhóm tu chính gia phổ do ông Hoàng Hữu Thước (Đ.15) đã tìm đến các gia đình họ Hoàng ở làng Bích Giang để kiểm chứng nguồn gốc và nhìn bà con. Đó là lần gặp nhau gần đây nhất giữa hậu duệ của hai nhánh họ Hoàng diễn ra cách đây hơn 25 năm. Lần ấy các vị đại diện của hai bên chỉ chuyện trò giao hữu rồi vui vẻ chia tay mà không có thông tin, hình ảnh nào được ghi nhận. Sau khi các vị ấy qua đời, chúng ta vẫn không biết thêm gì hơn.

 

Tháng 05 năm 2010, trong dịp hành hương về giỗ tổ ở làng Bích Khê, tôi đã thử lặp lại cuộc hành trình của cụ Hoàng Hữu Thước. Trước tiên cần xác định địa bàn sông Điếu Ngao, nơi hai anh em các ngài thượng thủy tổ chia tay nhau. Tôi đã truy cập Google Maps nhưng không thấy từ này trên bản đồ tỉnh Quảng Trị. May sao, ông Hoàng Hữu Bản (Đ16) giới thiệu cho tôi một người bạn tốt nghiệp Viện Hán Học Huế, cư trú lâu năm tại Đông Hà. Ông bạn nầy cho biết: Điếu Ngao là tên cũ của đoạn sông Hiếu chảy qua địa phận Đông Hà. Làng Điếu Ngao xưa kia là phần đất bao gồm các khu phố 1,2,3,4,5 của thành phố Đông Hà ngày nay. Từ làng Điếu Ngao nầy, tôi theo đường 9 lặn lội đi tìm làng Bích Giang trên Cam Lộ. Nói lặn lội cho có vẻ giang hồ chứ đường 9 bây giờ rộng thênh thang và đã tráng nhựa, xe máy chạy êm như ru.Đi từ Thị xã Đông Hà ,sẽ gặp làng Bích Giang ,thuộc địa bàn xã Cam Hiếu nằm bên tay phải trục đường 9, cách thị trấn Cam Lộ khoảng 5km. Đầu làng là một lò gạch lớn của Công Ty gạch ngói tỉnh Quảng Trị, một cơ sở sản xuất đạt danh hiệu “Hàng Việt Nam chất lượng cao”. Đoạn đường đầu làng đúc bê tông, có nơi rộng đến 12 mét. Tôi hỏi thăm bà con ở đầu làng, nhờ giới thiệu cho một gia đình họ Hoàng có người cao tuổi nhất. Theo chỉ dẫn của họ, tôi đi đến cuối làng và tìm được nhà cụ Hoàng Sâu 93 tuổi, tộc trưởng họ Hoàng ở Bích Giang. Cụ không nói chuyện được nhiều nhưng hai người con trai của cụ là các ông Hoàng Văn Kỳ Nam và Hoàng Văn Sí tiếp đón tôi rất niềm nở. Họ rất ngạc nhiên khi biết rằng tôi từ Thành phố Hồ Chí Minh ra đây chỉ với mục đích tìm hiểu mối quan hệ nguyên thủy của hai dòng họ Hoàng cách nay mấy trăm năm. Hiện nay,ở đây cũng không mấy ai  biết rằng họ Hoàng Bích Giang còn có một người em ruột thịt là họ Hoàng Bích Khê. Tôi bèn tặng họ một quyển Xương Khê Hoàng Tộc Thống Phổ (2001) cùng một ít lễ phẩm để thắp nhang cúng bàn thờ và xin được xem quyển gia phổ của họ Hoàng Bích Giang. Quyển gia phổ của họ được cất giữ cẩn thận trong một chiếc hộp gỗ, in bằng chữ quốc ngữ, ghi rõ từ đời 1 đến hết đời 19. Tôi đọc thấy tên vị Tiền khai khẩn là Hoàng Bá Ngụ – tước hiệu TiềmLong Hầu – mất ngày 21 tháng tư (âm lịch) nhưng không ghi rõ năm nào. Họ Hoàng Bích Giang lấy ngày này làm ngày giổ tổ hằng năm. Ngài Hoàng Bá Ngụ còn có mấy người em là Hoàng Bá Lão, Hoàng Bá Đại và một vị tên là Hoàng Công Chẩn. Danh tự này rất gần với tên ngài Thượng thủy tổ Hoàng Công Hội của họ Hoàng Bích Khê ta. Như thế Hoàng Bá Ngụ là tên người anh cả đã chia tay với ngài Hoàng Công Hội ở bên bờ sông Điếu Ngao. Rất tiếc là quyển gia phổ này không có ghi phần thuật nghiệp nhưng tước Tiềm Long Hầu của ngài Hoàng Bá Ngụ là một quan chức rất lớn, ngang với tước Lễ Thành Hầu của Nguyễn Hữu Cảnh, người khai phá vùng Đồng Nai Bến Nghé ở Nam Bộ. Tiền nhân thì lẫy lừng như thế nhưng hậu duệ của họ Hoàng Bích Giang lại không hiển đạt bằng hậu duệ ở làng Bích Khê. Bà con họ Hoàng Bích Giang chủ yếu làm nghề nông. Sau năm 1975, làng Bích Giang phát triển thêm một cộng đồng cư dân sống bằng công nghiệp gạch ngói, lập ra làng mới gọi là Tân Giang. Họ Hoàng ở làng cũ lẫn làng mới hiện có đến hàng trăm nhân khẩu, đông đảo hơn nhiều so với người họ Hoàng sinh sống ở làng Bích Khê.

Làng Bích Giang nằm bên bờ sông Hiếu, khí hậu mát mẻ, đất rộng người đông, phong cảnh hữu tình, giao thông thuận lợi. Bích Khê và Bích Giang cũng không cách xa nhau mấy. Nên chăng từ nay hai bên tăng cường mối quan hệ sâu rễ bền gốc để cuộc sống của con cháu chúng ta ngày càng vui vẻ, tốt đẹp hơn?

                                                                                                                                                    BÍCH NHÂN

 

Ho Hoang Bich Giang

                                                            Nhà thờ họ Hoàng Bích Giang-trùng tu năm 2023

Z4414910107629 Db216f70fc2831d28e2c8e2329092af4

                             Đại diện họ Hoàng Bích Khê về tham dự lễ khánh thành nhà thờ họ Hoàng Bích Giang

Bichgiang 1

 

 

 

Bài 3

NÓI THÊM VỀ

HỌ HOÀNG Ở VIỆT NAM

     Họ Hoàng ở Việt Nam có từ lâu đời. Thời Hai Bà Trưng có nữ tướng  Hoàng Thiều Hoa. Cuối đời Đường có bà Hoàng Thị Chúc, vợ của quan thứ sử Vũ Hồn. Từ thời Lý trở về sau người họ Hoàng đã có mặt khá đông đảo. Theo tư liệu thông tin của Ban Liên Lạc họ HOÀNG – HUỲNH ở Việt Nam số 6 (Hà Nội – tháng 6-2008) thì ở Việt Nam hiện có 6 dòng họ Hoàng có bề dày lịch sử hơn 600 năm. Riêng dòng cụ tổ Hoàng Tá Thốn ở Nghệ An có bề dày lịch sử trên 700 năm. Phần lớn các họ Hoàng ở miền Bắc đều ghi trong gia phổ nguồn gốc của họ là ở Giang Hạ – Trung Quốc. Điều này chắc cũng chỉ là  suy đoán. Nếu đã nhận mình là hậu duệ họ Hoàng ở Giang Hạ  thì cũng có thể suy luôn một hơi tới thời Tam Hoàng Ngũ Đế mà nhận thủy tổ mình là Hoàng Đế Hiên Viên trong thần thoại Trung Hoa cho luôn?

Có thuyết cho rằng một số dòng họ Hoàng có lịch sử khoảng 400 năm gần đây là  hậu duệ của họ Mạc. Nhà Mạc bị Trịnh Tùng dứt ngôi vào năm 1592. Con cháu họ Mạc phân tán khắp nơi, thay tên đổi họ để tránh họa diệt tuyệt của họ Trịnh. Vì thấy chữ Hoàng viết rất gần giống chữ Mạc (chữ Hán) nên một số người họ Mạc đổi ra họ Hoàng. Điều này không phải là truyền thuyết mà một thực tế lịch sử. Họ Hoàng Bích Khê rất có thể là hậu duệ của họ Mạc theo Nguyễn Hoàng vào Đàng Trong để tị nạn chính trị. Các nhà gia phổ học còn phát hiện thêm rằng họ Mạc không chỉ đổi ra họ Hoàng mà còn đổi ra nhiều họ khác như Bế, Bùi, Cát, Chữ, Đoạn, Đoàn, Đặng, Đỗ. Như thế, giữa người họ Hoàng và người các họ nói trên có khi cũng là cây một gốc đấy thôi. Ở Nam bộ, họ Hoàng thường được gọi là họ Huỳnh. Nhiều tác giả cho rằng do ông tổ nhà Nguyễn là Nguyễn Hoàng nên dân Nam bộ phải kiêng tên ông ấy mà đổi họ Hoàng trại đi một chút thành họ Huỳnh. Nếu thế thì các dòng họ Hoàng ở Quảng Trị, Thừa Thiên – trong đó có họ Hoàng Bích Khê vốn rất gần gũi với các vua chúa nhà Nguyễn và cũng rất biết phép kiêng cử – sao vẫn giữ nguyên họ Hoàng chứ không đổi ra Huỳnh? Về mặt ngữ học, các phương ngữ được hình thành dưới rất nhiều dạng biến đổi khác nhau, đôi khi rất ngẫu hứng chứ không nhất thiết là chỉ vì phải kiêng tên. Ví dụ ở nông thôn Quảng Bình và Quảng Trị, nhiều người hay dung từ “eng tam” thay cho từ “anh em”. Người Bắc thường gọi cầu Trường Tiền ở Huế là Tràng Tiền. Ưa gọi ra kiểu gì thì gọi chứ đâu cần phải có một lý do chính đáng?

Hiện nay các dòng họ Hoàng đã có mặt khắp các tỉnh thành trong nước. Cũng như nhiều dòng họ khác, tuy là chung một gốc nhưng trên cành có trái chua, trái ngọt, trái sâu. Họ Hoàng có những nhân vật anh hùng như Hoàng Hoa Thám, Hoàng Diệu… nhưng cũng có cả những tên phản dân hại nước như Hoàng Cao Khải, Hoàng Trọng Phu, Hoàng Gia Mô,Hoàng Văn Hoan… Trong trường hợp nầy, dù có truy ra cùng nguồn gốc mà nhìn bà con e cũng chẳng thú vị gì. Điều quan trọng của một dòng họ là ở gia phong. Biết gìn giữ gia phong, vun trồng gốc rễ thì mới có thể trở thành một danh gia, vọng tộc.

                                                                                                                      HOÀNG  HỮU TƯƠNG NHƯ.

 

Mạc

CHỮ MẠC của họ MẠC

Ho HoangCHỮ HOÀNG của họ HOÀNG (HÙYNH) VIỆT NAM

 

Bài 4

THAM KHẢO VỀ HỌ HOÀNG

 

Hoang

Ở CÁC NƯỚC CHÂU Á 

Họ  HOÀNG (hay HUỲNH) là một dòng họ rất phổ biến ở Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc và Triều Tiên. Họ Hoàng trong tiếng Trung có thể phiên âm Latinh thành HuangWongVongBongNgUyWeeOiOei or OoiOngHwang, hay Ung theo phương ngữ từng vùng. Họ Hoàng trong tiếng Triều Tiên được phiên âm thành Hwang hay Whang. Họ Hoàng là họ phổ biến thứ 7 ở Trung Quốc. Tổng số người họ Hoàng ở Trung Quốc và Đài Loan ước tính 29 triệu người, ngoài ra còn có hơn hai triệu người Hoa kiều mang họ này. 4,3 triệu người Việt và 1 triệu người Triều Tiên có họ Hoàng. Điều tra dân số năm 2000 của Hàn Quốc cho thấy đây là họ của 644.294 người, xếp thứ 17.

  1. TÌM NGUỒN GỐC HỌ HOÀNG
  2. Một số cách phát âm khác nhau của từ họ Hoàng
    Huang, Hwang                                (Mandarin – Quan thoại)
         Wong                                               (Quảng Đông/Yue, Fuzhou, Hakka/Kejia, Gan)
         Bong                                                (Hakka/Kejia)
         Huỳnh, Hoàng                                 (Việt Nam)
         Hwang                                              (Korean, Triều Tiên)
         Ng                                                     (Phúc  Kiến/Min, Teochiew/Chaoshan)
         Oei, Ooi, Oi, Wee                            (Hokkien/Min)
         Ong                                                  (Phát âm chệch của “Ng”)

Trích lọc thông tin từ trang WEB http://www.geocities.com/bx_huang/ xác định gốc tích họ Hoàng như sau:

  1. Gốc tích họ Hoàng
    Họ Hoàng ở Trung Quốc xếp thứ 8 trong các dòng họ và có dân số (tính trên toàn thế giới) khoảng 31 triệu người (năm 2000). Trong bản bách tính gia (百家姓), họ Hoàng chép ở số thứ tự 96.

Từ đời nhà  Shun (帝舜)(Thuấn đế), Hui Lian 惠连 (Huệ Liên), con trai của Lu Zhong 陆终 (Lục Chung), hậu duệ của Hoàng Đế (黄帝) đã thành công trong việc chế ngự lũ lụt, vua Shun (Thuấn) ban đất Can’hu (参胡) (Tham Hồ), ngày nay là đất Fenyang (汾阳) (Phần Dương) tỉnh Shanxi (山西省) (Sơn Tây). Vào năm 2200 trước công nguyên, vua Shun đổi tên đất Can’hu thành đất của nước Hoàng (黄国)và ban họ cho Hui Lian thành họ Hoàng (黄), tên là Yun (云) (Vân). Từ đấy, con cháu họ Hoàng cai trị đất này cho đến thời Xuân Thu (春秋时代) (722- 481 trước công nguyên). Sau đó rơi vào tay nước Jin (晋国) (Tấn Quốc).

Như vậy, từ đời Hoàng Đế đến Hui Lian tất cả 12 đời như sau: (1) 黄帝 Hoàng  Đế (Huang Di), (2) Chang Yi 昌意(Xương Ý), (3) Zhuan Xu (Emperor) 帝颛须,(Chuyên Tu đế) (4)Qiong Chan 穷蝉 (Cùng Thiền), (5) Nu Xiu 女修,(Nữ Tu), (6) Lao Tong 老童 (Lão Đồng), (7) Shao Xin 少辛 (Thiểu Tân), (8) Juan Zhang 卷章 (Quyển Chương), (9) Zhong Li 重黎 (Trọng Lê), (10) Wu Hui 吴回 (Ngô Hồi), (11) Lu Zhong 陆终 (Lục Chung), (12) Hui Lian 惠连 (Huệ Liên). Tính đến nay đã là 4200 năm kể từ ông tổ Hui Lian (Huang Yun – 2253TCN).

  1. Sự phát triển

Vào năm 891 trước CN, Chu Thảo Vương (Zhou Xiao Wang) 周孝王 phong Hầu cho Hoàng Hi (黄熙) (con trai (aka) của Huang Shi 黄石 – Hoàng Thạch), hậu duệ thứ 53 của Huệ Liên (惠连) và phong đất vùng phiá đông sông Hán (汉水) (ngày nay thuộc vùng Nghi Thành (Yicheng) (宜城) tỉnh Hồ Bắc (湖北) gọi là đất Hoàng (lưu ý đất này khác với nước Hoàng ở Phần Dương, tỉnh Sơn Tây). Lãnh địa này gồm 4 nước: Giang (江), Hoàng (黄) – được gây dựng do hậu duệ của Bá Ích (伯益), Đạo (道), Bá (伯), nằm trong thung lũng sông Hoàng (潢水). Nước Hoàng ở Nghi Thành, Hồ Bắc được xem như nước Tây Hoàng (西黄) trong lịck sử. Vào năm 845 trước CN, Hầu Văn (文侯)  Hoàng Mạnh (黄孟), aka của  Hoàng Chương (黄璋)  dời  đô nước Hoàng từ Nghi Thành về Hoàng Xuyên (Huangchuan) (潢川), tỉnh Hà Nam và lập nên nước Hoàng mới. Hậu duệ của Hoàng Hi (黄熙) thống trị đất Hoàng cho đến năm 648 TCN sau đó bị nước Sở, một chư hầu của Nhà Chu chiếm mất. Hầu Mục (穆侯) Hoàng Xí Sanh (黄企生) chạy thoát sang lánh ở nước Tề (齐国) (ngày nay thuộc Linzi, tỉnh Sơn Đông (山东省)). Thần dân nước Hoàng buộc di chuyển về đất nhà Chu ngày nay thuộc tỉnh Hồ Bắc, nơi mà được gọi là Giang Hạ quận (Jiangxia 江夏郡) thời nhà Hán (汉朝) (nay là Vũ Hán). Ngày nay, nhiều nơi ở vùng này vẫn còn có tên là Hoàng như Hoàng Cương (黄冈), Hoàng Pha (黄陂), Hoàng Mai (黄梅), Hoàng Thạch (黄石). Một phần lớn thần dân Hoàng cũng dời đến vùng phía Nam sông Trường giang/Giang Tế (Dương tử) (长江),  dần dần đồng hoá với dân địa phương mà thành dân thiểu số họ Hoàng không thuần Hán đang sống ở vùng nam Trung Quốc ngày nay.

Từ Giang Hạ, dần dần họ Hoàng đi khắp Trung Hoa và trên thế giới. Từ đây, Giang Hạ được xem như là cái nôi của họ Hoàng. Ngày nay, họ Hoàng được gọi là Hoàng Giang Hạ và tên gọi Giang Hạ tương đồng với họ Hoàng.

Sau 3 thế kỷ suy tàn, họ Hoàng được phục hưng khi Hoàng Hiết (黄歇), một hậu duệ của gia đình quý tộc họ Hoàng đã được tiến cử làm tể tướng nhà Chu. Hoàng Hiết được phong là lãnh chúa Xuân Thân (春申君) sống vào năm (314-238 TCN). Thời nhà Hán, Hoàng Bá (黄霸) (130 – 51 TCN) lại được phong làm tể tướng. Họ Hoàng bước vào thời kỳ cực thịnh trong thời nhà Hán.

Vào thời nhà Tấn (晋朝) (265-420), rợ Hồ xâm lấn phía Bắc Trung Hoa, nhiều dân cư sống phía bắc (đặc biệt là các gia đình quan lại) di chuyển xuống phía nam cùng với nhà Tấn. Đây chính là thời gian dân họ Hoàng nhập cư vào Phúc Kiến (福建省). Từ đời nhà Đường (618-907 sau CN) về  sau, dân họ Hoàng nhập cư vào Quảng đông (广东省) từ Phúc Kiến.  Họ Hoàng  phát triển trở nên dòng họ lớn và đứng thứ 3 ở Nam Trung Hoa ngày nay.

Thời gian giao thời giữa nhà Minh (明) (1368-1644) nhà Thanh (清) (1644-1912), nhiều quan lại họ Hoàng theo lực lượng Nhà Minh chống nhà Thanh dưới sự lãnh đạo của Trịnh Thành Công (郑成功) đã vượt biển sang Đài Loan. Dân họ Hoàng vượt biển xuống Đông Nam Á chủ yếu vào đầu thế kỷ 14 thời nhà Minh.

Theo gia phả họ Hoàng ở Trung Quốc, đến thời quân Nguyên Mông xâm lược Trung Hoa (1279), dựng nên triều Nguyên (Yuan-1279-1368), đây là thời kỳ bước ngoặt lớn cho họ Hoàng, từ thời kỳ huy hoàng cực thịnh bước vào thời kỳ suy tàn mà không thể nào khôi phục được.

Lần theo gia phả họ Hoàng, đến đời 131, Hoàng Bá Nghiêu / Giao 黄伯尧 (1340-1398), dời đến ở Cao sơn (Gaoshan), Zhangpu (nay thuộc làng Gaoshan thị trấn Shaxi, huyện Zhangpu, tỉnh Phúc Kiến),

Đến đời 134, Hoàng  Thiêm Hải (黄添海), tên riêng là Hoàng Cung (黄恭), chuyển đến Jiaotou, Dongbo, Dongshan (nay là Dongling, huyện Dongshan, tỉnh Phúc Kiến – Fujian), thời vua Hongzhi (1488-1505) đời nhà Minh. Một  cháu nội của ông ta tên là Hoàng Kế 黄继, dời đến Cao Khanh (高坑) (nay là thị tứ Meiling), huyện Zhao’an hình thành nên dòng họ Hoàng Cao Khanh. Như vậy, Huang Tianhai được xem như là ông tổ của dòng họ Hoàng Cao Khanh, huyện Zhao’an, tỉnh Phúc Kiến. Đời 136, Huang Ji (黄继) Hoàng Chi, thuộc nhà Minh vua Minh Gia Tĩnh (明嘉靖:1522-1567), ông là cha của 6 người con (con út là con nuôi thuộc dòng Hoàng Ziyun). Từ đây hình thành nên 6 nhánh lớn họ Hoàng gọi là 6 nhánh họ Hoàng ở Cao Khanh. Đời thứ 137, Huang Tu (黄徒 Hoàng Đồ), tiếp tục sống tại Cao Khanh Zhao’an. Đời thứ 138 (không rõ tên), chuyển đến ở làngTianpan, Cao Khanh lập nên đền Thiệu Kế Đường (绍继堂). Từ đây đến đời 145 (thuộc cuối nhà Minh đến nhà Thanh) gia phả bị mất hoàn toàn do cuộc đại cách mạng văn hoá (1966-1976).

  1. CÁC LUỒNG DI CƯ CỦA DÂN CƯ HỌ HOÀNG Ở PHÚC KIẾN VÀ QUẢNG CHÂU

Bản đồ chỉ đưa ra 4 nhánh lớn của họ Hoàng di cư ở Phúc Kiến và Quảng Đông bao gồm:

  1. Nhánh  Gangzhou 冈 州 派 -Cương Châu phái (hậu duệ của Hoàng Thao – 黄滔 – Huang Tao 840-911)
    2. Nhánh Heping 禾 坪 派 – Hoà Bình phái (Hậu duệ của Hoàng Tiễu Sơn 黄峭山 – Huang Qiaoshan)
    3. Nhánh Qingshan Huqiu 青 山 虎 丘 派 – Thanh Sơn Hổ Khâu phái (Hậu duệ của Hoàng  Khánh Đôn 黄庆敦 – Huang Qingdun, con trai của Hoàng Đôn 黄敦 – Huang Dun 740-797).
    4. Nhánh Ziyun 紫 云 派- Tử Vân phái (Hậu duệ của  Hoàng Thủ Cung 黄守恭 629-712

III. TỘC ƯỚC CỦA HỌ HOÀNG GIANG HẠ (HOÀNG THỊ GIA HUẤN)

  1. Luôn luôn kính trọng người già, đây là đức hạnh quan trọng bậc nhất. Đừng có bao giờ làm trái lại mà phương hại đến bản tính của mình. Mong rằng con cháu họ Hoàng luôn giáo dục điều này trong mỗi gia đình.
    2. Đối xử với họ hàng như người trong gia đình mình, vì chúng ta là cùng một cội rễ, thậm chí là họ hàng xa. Đừng bao giờ xem như là kẻ thù mà hãy xem như trong một gia đình và thương yêu lẫn nhau.
    3.Đối xử tốt với hàng xóm vì chúng ta sống trong cùng một cộng đồng, cùng uống chung một nguồn nước. Luôn luôn xem hàng xóm là bè bạn, giúp đỡ lẫn nhau, đừng bao giờ hại nhau. Hãy gần gũi với hàng xóm như thịt xương, xem đây là bổn phận của mình.
    4. Luôn lịch thiệp, sẵn sàng giúp đỡ mọi người vì đây là phương sách ứng xử trong nhân gian; đừng bao giờ chỉ hạ mình và tự kiêu tự đại, luôn luôn tỏ ra khiêm nhường.
    5. Chăm chỉ làm việc, trau dồi kỹ năng nghề nghiệp dù cho mình đang làm nghề gì, ở điạ vị nào. Có như vậy mới trở thành chuyên gia giỏi, tạo dựng nên sự nghiệp và luôn là người không chịu lệ thuộc.
    6. Kính trọng các quân nhân, đánh giá đúng, đầy đủ công ơn của họ vì họ là người đã hy sinh thân mình cho chúng ta. Hãy luôn nhớ lấy điều này.
    7. Học hỏi từ cách cách đối xử với nhân gian, đây là nền tảng của giáo dục.
    8. Chăm sóc mồ mả, hàng năm cần phải thăm nom mồ mả tổ tiên, và cúng bái đầy đủ.
    9. Đặt tên con cháu tránh kỵ huý, xúc phạm với tổ tiên, người cao tuổi.
    10. Tránh tranh dành, kiện tụng trong cùng một gia đình dẫn đến mất anh em, tan nát gia đình.
    11. Mỗi hành động của mình phải minh bạch, chính đáng. Đừng tham lam tiền bạc và bày đặt những việc xảo trá…Hãy suy nghĩ thật kỹ lưỡng trước khi thấy mối  lợi.
    12. Tránh xúc phạm tổ tiên. Đây là truyền thống có từ lâu đời để phân biệt sang hèn. Hãy noi gương và tiếp bước cha anh.
    13. Tránh đi lầm đường lạc lối. Toàn thể hộ tộc một lòng đề phòng và chống lại điều này. Khi nghe người khác nói những lời xấu xa độc ác thì hãy tránh xa để tránh nguy hại.
    14. Tuân thủ pháp luật.
    15. Gìn giữ, trân trọng tộc ước vì đã được soạn do tổ tiên xa xưa để lại. Hãy luôn để bên mình và trong gia đình mình. Tộc ước nói lên giá trị đích thực của họ tộc.

HOÀNG MINH TUYỂN sưu tầm và lược dịch.     

Bài 5

NHỮNGVƯỜN ĐÀO KẾT NGHĨA

TRÊN QUÊ HƯƠNG QUẢNG TRỊ

     Cho đến nay chắc không mấy người biết rằng trên quê hương Quảng Trị của chúng ta từng có những tổ chức hoạt động bí mật hưởng ứng phong trào Cần Vương,chống thực dân Pháp mang cái tên bán công khai là VƯỜN ĐÀO KẾT NGHĨA.Vườn đào kết nghĩa là điển tích xuất xứ  từ tiểu thuyết lịch sử Tam quốc chí của La Quán Trung nói về việc ba nhân vật hào kiệt là Lưu Bị,Quan Vũ và Trương Phi kết nghĩa anh em,thề đồng sinh đồng tử,đánh giặc Khăn Vàng ,tôn phù nhà Hán.Giới sĩ phu yêu nước đương thời ở quê ta mượn điển tích nầy để nêu cao tinh thần trung quân ái quốc khi đất nước đang bị giặc Pháp giày xéo.

Vườn đào ở đây là những nhà vườn có trồng cây đào – loại cây để ăn trái (còn gọi là cây mận,cây roi) chứ không phải là cây hoa đào vì thổ nhưỡng nước ta từ miến Trung vào Nam bộ không thích hợp với loài hoa này.Những nhà sáng lập và lãnh đạo Vườn Đào Kết Nghĩa thường chọn một khu nhà vườn có mặt bằng thoáng mát,địa hình thuận lợi để họp mặt-công khai thì xướng họa văn chương thi phú mà bí mật thì bàn chuyện quốc sự.Đằng sau những câu thơ,chén rượu cuộc cờ của kẻ sĩ phong nhã còn có sự xuất hiện kín đáo của những người nghĩa dũng,những phụ nữ tần tảo lo khâu hậu cần phục vụ chồng con em làm việc lớn.

Theo các tài liệu sưu tầm được thì ở Quảng Trị từng có ít nhất là 6 Vườn Đào Kết Nghĩa sau đây:

  • Vườn Đào ở làng Tường Vân-Triệu Phong của cụ Lê Thế Vỹ-thân phụ của hai nhà cách mạng tiền bối là Lê Thế Hiếu và Lê Thế Tiết.
  • Vườn Đào ở làng Lam Sơn-Cam Lộ của cụ Nguyễn Khóa Bảo (Nguyễn Hữu Đồng)
  • Vườn Đào làng Linh Yên-Triệu Phong của Đề đốc Nguyễn Thành Đốc.Về sau vị đại quan này bị giặc Pháp xử trảm ở bãi bồi làng Nhan Biều-Triệu Phong.
  • Vườn Đào làng Bồ Bản-Triệu Phong của cụ Ấm Muộn.
  • Vườn Đào làng Bích Khê-Triệu Phong của Hoàng Giáp Hoàng Hữu Bính.
  • Vườn Đào làng Mai Xá-Gio Linh của cụ Tú tài Trương Quang Cung

Như trên đã nói,những Vườn Đào nói trên có thể xem là chân rết của phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi hiệu triệu và hai vị đại quan yêu nước,chủ chiến là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết chủ trì đại cuộc.Phong trào nầy khởi đầu với việc vua Hàm Nghi ban hịch đánh Tây tại căn cứ Tân Sở (Cam Lộ-Quảng Trị)  ngày  13.7.1985.Suy ra niên biểu hoạt động của các Vườn Đào ở Quảng Trị cũng bắt đầu từ thời điểm nầy.Mỗi Vườn Đào có một thủ lãnh riêng,hoạt động độc lập,chỉ kết nghĩa chứ không bị lệ thuộc vào Vườn Đào khác.Trong số các thủ lĩnh, nhân vật có danh vọng cao nhất là Hoàng giáp Hoàng Hữu Bính (còn gọi là Hoàng Bính -1857-1900) của Vườn Đào Bích Khê.Ông đậu thủ khoa của khoa thi đình năm Kỷ Sửu (1889) được khắc tên vào bia đá ở khu Văn Thánh và ở Ngọ môn Huế.  Năm 1891,ông được bổ nhiệm làm Tri phủ Tuy An (Bình Định).Nhưng chỉ làm quan được một năm,ông không chịu nỗi dự chèn ép của người Pháp.Trong một lần giao tiếp với viên Công sứ Pháp,bị nó xúc phạm,ông đã ném cái ghế vào tên quan hỗn xược ấy rồi tự ý bỏ chức quan,đi đường bộ về Huế chịu tội với triều đình.Từ đó ông ghét lũ Tây dương đến độ không cho chụp hình,không chịu chích thuốc Tây khi đau ốm.( Cũng giống như nhà Nho Nguyễn Đình Chiểu ở Nam bộ,ghét Tây đến nỗi không thèm dùng sản phẩm của Tây là cục xà bong để tắm giặt).

Ở vùng Quảng Trị từng có câu hát:

Trái đào non rơi ngoài vườn hạnh

Chàng ơi chàng chàng định mần răng?

Vườn đào kết nghĩa trăm năm

Hỏi người quân tử đục trong lẽ nào?…

     Những câu trên không chỉ là lời hát ru con mà còn ngụ ý thăm dò,thả thính để tìm người bạn đời đồng tình, đồng chí .Quả thực đã có không ít mối lương duyên chính trị kết hợp từ các tổ chức Vườn Đào.Ông Hoàng Hữu Bính có người trưởng nữ là bà Hoàng Thị Đường.Từ mối quan hệ kết nghĩa với Vườn Đào Mai Xá,ông Bính gả bà Đường cho ông Trương Quang Dự, con trai của Tú tài Trương Quang Cung,thủ lãnh Vườn Đào Mai Xá.Họ Hoàng Bích khê cũng vừa kết nghĩa Vườn Đào vừa kết tình thông gia với họ Lê  của cụ Lê Thế Vỹ ở làng Tường Vân.Rồi từ làng Tường Vân,cụ Lê Thế Vỹ lại liên lạc với cụ  Khóa Bảo để vừa kết tình thông gia  vừa phát triển thêm Vườn Đào ở làng Sơn Nam- Cam Lộ.

Đặc biệt,Vườn Đào ở làng Mai Xá thường họp mặt vào dịp đầu Xuân nên còn có danh xưng là Mai vàng tụ nghĩa Cần Vương. Bấy giờ, trong làng có ông Trương Quang Đông, đi lính Cần Vương, được phong hàm bát phẩm. Hàng đêm, cả nhà ông tự nguyện nấu cơm, vắt thành hàng trăm vắt nhỏ trộn muối mè để phát cho những người đang đánh giặc.

Sau khi ban hịch Cần Vương,vua Hàm Nghi và đoàn tùy tùng đã bôn ba gần khắp tỉnh Quảng Trị.Những nơi có dấu chân của nhà vua đi qua,thường mọc lên những Vườn Đào Cần Vương.Vì vậy số Vườn Đào ở Quảng Trị chắc phải còn nhiều hơn chứ không hẳn chỉ có 6 vườn nói trên.Năm 1885,vua Hàm Nghi bị tên Trương Quang Ngọc phản bội,bắt giao cho Pháp.Nhưng phong trào Cần Vương với hàng loạt cuộc khởi nghĩa võ trang vẫn dấy lên ở khắp ba miền đất nước.Năm 1896,giai đoạn 2 của phong trào Cần Vương coi như kết thúc với sự tan rã của nghĩa quân Phan Đình Phùng,Cao Thắng ở Hương Khê.Năm 1916,vua Duy Tân mượn việc đi nghỉ mát và câu cá ở Cửa Tùng. Nhân dịp nầy ,một số   thành viên Vườn Đào bấy giờ đã chuyển sang hoạt động trong tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội liên lạc với vua để chuẩn bị cùng các lãnh tụ Thái Phiên,Trần Cao Vân  lo việc chống Pháp. Sau đó lịch sử chuyển mình qua những cuộc vận động mới-Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội rồi Đảng Cọng sản ra đời.Sự thực là cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc ta chưa khi nào ngừng nghỉ,thoái trào trong dòng chảy lịch sử.

Trong dòng chảy ấy,hậu duệ của các lãnh tụ Vườn Đào Kết Nghĩa vẫn tiếp tục truyền thống yêu nước của tiền nhân.Các dòng họ lớn của Vườn Đào đều xuất hiện những chiến sĩ  cọng sản xuất sắc xuất sắc như các đồng chí Trương Quang Phiên ở Mai Xá,Lê Thế Hiếu ở Sơn Nam,Hoàng Thị Ái,Hoàng Hữu Huy ở Bích Khê…Ngày nay tuy chúng ta không còn tìm được  nhiều tư liệu về tổ chức và hoạt động của các Vườn Đào Kết Nghĩa Cần Vương ở Quảng Trị nhưng hãy tin rằng trong khí thiêng của Non Mai sông Hãn hẳn phải có một phần chính khí Vườn Đào mà các bậc sĩ phu tiền bối đã lưu truyền cho con cháu- từ thế hệ này đến thế hệ khác và  vẫn còn mãi đến bây giờ.

Nha Tho Chi Nhat

 

Nhà thờ Chi Nhất A họ Hoàng ngày xưa từng  được ngài Hoàng Hữu Bính sử dụng làm cơ sở  “Vườn đào kết nghĩa” ở làng Bích Khê

 Bài 6

NHỮNG SUY DIỄN SAI LẦM VỀ THỜI ĐIỂM LỊCH SỬ:

600 NĂM THÀNH LẬP LÀNG BÍCH KHÊ  

(1417 – 2017)”

     Ở làng Bích Khê có ngôi miếu nhỏ gọi là Miếu TAM TỘC  thờ ba vị khai canh họ Lê, họ Đỗ, họ Hoàng. Theo nghiên cứu của ông Đỗ Thiên Thạch thì:

“Thủy tổ của họ Lê là ngài Lê Trừ; của họ Đỗ là ngài Đỗ Thiên Mẫn; của họ Hoàng là ngài Hoàng Công Hội. Cả ba ngài đều đến khai phá làng Bích Khê cùng một lúc và cùng được sắc phong cùng một cấp như nhau là “Tiền khai canh, Dực bảo trung hưng linh phò tôn thần”. Tuy nhiên ngài Lê Trừ thuộc dòng dõi nhà Lê – ngài Đỗ Thiên Mẫn là một vị quan văn nên khi lập hương ước, họ tên của hai ngài được ưu tiên kể trước. Về sau chúng ta quen gọi ba họ theo thứ tự Lê – Đỗ – Hoàng”. 

Ba vị khai canh đều đã được sắc phong là Thần hoàng, được thờ phụng theo hương ước từ hàng trăm năm nay. Điều này thì các bậc trưởng bối trong làng đều biết. Còn những điều tôi sắp nói sau đây thì không phải ai cũng biết.

 

  1. NHỮNG SUY DIỄN SAI LẦM

Khoảng cuối tháng 5-2017, tôi nhận được thông báo về việc tổ chức đại lễ kỷ niệm 600 NĂM THÀNH LẬP LÀNG BÍCH KHÊ – (1417- 2017) và đón nhận danh hiệu LÀNG VĂN HÓA XUẤT SẮC CẤP TỈNH. Đây là lần đầu tiên tôi được nghe nói về thời điểm thành lập làng với những cột mốc thời gian chắc như đinh đóng cột này. Không chỉ đời tôi mà các bậc tiền nhân mười mấy đời trước chắc cũng chưa ai  nghe nói như thế.

Trước tiên tôi đem thắc mắc này hỏi bề trên của tôi là ông Hoàng Hữu Hạch. Ông Hạch lại hỏi những người trong ban tổ chức lễ hội thì được ông Đỗ Khắc Duệ giải thích: “Căn cứ theo gia phả họ Lê thì ngài thủy tổ họ Lê vào khai canh trước. Vài trăm năm sau, họ Đỗ, họ Hoàng mới vào”.

Tôi bèn gửi mail hỏi ông Đỗ Thiên Thạch ở làng Bích Khê là người có khả năng tiếp cận với các tài liệu Hán Nôm và quan tâm tới các vấn đề văn sử học.

Trong thư ông Thạch trả lời cho tôi có đoạn như sau:

Tôi là người may mắn được BCH họ Lê làng miềng tin tưởng, nhờ tôi trùng tu gia phổ của Họ. Đây là bản gia phả được ông Lê Quang Thế (đời thứ 17 của họ Lê) sưu tầm và viết lại, trên cơ sở bản gia phả gốc của họ Lê (bản này chỉ còn rất ít thông tin do bị mục nát và bị cháy) và những tư liệu, kiến thức mà ông Thế sưu tầm được.

* Tôi cho rằng:

– Những thông tin mà ông Thế sưu tầm đều có căn cứ lịch sử, những tư liệu sưu tầm đều có sử tích.

– Tuy nhiên để nói rằng ngài Thủy tổ họ Lê vào sáng lập làng Bích Khê vào năm nào thì bản gốc gia phả họ Lê không ghi, ông Thế cũng không viện dẫn rõ tài liệu nào nói lên điều này.

– Ở mục “Nguồn gốc họ Lê”trong gia phả họ Lê cũng không có chỗ nào nói họ Lê và làng miềng có từ năm 1417. Tất cả chỉ là ước tính và suy đoán chủ quan mà thôi.

Và ông Thạch kết luận: 

– Tôi rất bất ngờ khi nghe làng miềng tổ chức “kỷ niệm 600 năm thành lập làng Bích Khê” (chỉ có nghe thông tin là làng đón nhận danh hiệu Làng Văn hóa xuất sắc cấp tỉnh mà thôi). ”

Ông Thạch cũng gửi cho tôi xem phần lịch sử NGUỒN GỐC HỌ LÊ liên quan đến lịch sử của làng Bích Khê mà bên họ Lê nhờ ông Thạch hiệu đính và nay tôi xin mạn phép giới thiệu lại toàn văn để tiện tham khảo:

NGUỒN GỐC HỌ LÊ

Ca dao có câu:

“Uống nước ta phải nhớ nguồn 

Được ăn quả chín nhớ ơn người trồng”.

“Nguồn”là nguồn nhân, “Quả”là quả phúc. “Quả phúc”, “Nguồn nhân” do Tiên Tổ chúng ta đã tích lũy từ xa xưa, lưu truyền cho ta.

Chúng ta, trãi ba mươi năm sống trong cảnh mưa bom lửa đạn giờ được sum họp gia đình; bao nhiêu sự khổ cực, tai bay, vạ gởi đều tránh thoát. Sự may ấy, nghĩ rằng: đó là sự tài trí, khôn ngoan, lanh lợi phấn đấu của bản thân ta, chứ phúc ấm Tổ Tiên có liên quan gì. Nghĩ như vậy tức là phủ nhận tất cả, so với Tịch Đàm không hơn không kém.

Chúng ta không muốn đời sau tặng cho cái tên Tịch Đàm, tất nhiên chúng ta phải tìm biết nguồn gốc giòng họ chúng ta. Bởi vậy, chúng ta cần khảo cứu lịch sử và di tích do Tiên Tổ di lưu.

Căn cứ Tộc – Phổ xưa, thấy chép biên Tiên Tổ họ ta xưa gốc ở huyện Thụy Nguyên tỉnh Thanh Hóa, đơn giãn vậy thôi chứ không ghi chép căn nguyên rõ ràng. Mong được biết rõ hơn chúng ta cần sưu tầm lịch sử để xác định.

Triệu Tổ, Khải Tổ họ ta gốc ở huyện Thụy Nguyên thuộc Thanh Đô trấn (tức Thanh Hóa) đều làm quan chức đời nhà Trần. Lúc bấy giờ các Ngài chán ghét chế độ mục nát, hà khắc của vua nhà Trần và việc tham lam lộng quyền của Hồ Quý Ly, đều bỏ quan về quê nhà mở rộng phạm vi dinh điền Lam Sơn trại đến Mộc Châu, vào đến Hoan châu, đến tận Trà Lâu (biên giới Lào).

Theo Ngọc Phổ thời Lê và Lê Triều Tạp Kỷ, các vị ấy là: Ông Lê Trừ, Lê Chích, Lê Lợi, Lê Lai, Lê Ngân, Lê Nổ, Lê Thạch, Lê Khôi v.v… đều là bác, là chú, là anh em thân thuộc.

Các Ngài đều là bậc thức thời, có chí lớn, bởi nguyên do thân thuộc, sau khi dẹp xong giặc Minh, trong bài “Bình Ngô”có câu: “Đầu giao hưởng sĩ, phụ tử chi binh nhất tâm” tạm dịch “Mở tiệc quân, khắp tướng sĩ một lòng phụ tử”.

Các Ngài đoán được vua nhà Trần suy nhược, thế nào cũng bị quyền thần Hồ Quý Ly chiếm đoạt và để cũng cố địa vị, Hồ Quý Ly sẽ đem quân đánh Chiêm Thành, nhân cơ hội đó con cháu họ Trần sẽ cầu cứu quân Minh, nước Việt Nam sẽ bị giặc Minh cướp đoạt.

Quả nhiên, sau khi thanh toán ngôi vua nhà Trần, Hồ Quý Ly liền sai tướng Đỗ Mãn đem quan đánh Chiêm Thành, bắt vua Chiêm phải nộp đất Chiêm động lập thành phủ Thăng Bình (Quảng Nam) đất cổ lủy, lập bốn châu: Châu Thăng, Châu Hòa, Châu Tư, Châu Nghĩa (Quảng Nghĩa), di dân Việt vào dinh điền, đặt quan Việt Nam cai trị. Nhân dịp ấy, để mở rộng căn cứ, bám sát các thành thị, tích trử lương thực, các Ngài Khải Tổ họ ta đã vào lập dinh điền sở tại Thuận Châu và Hóa Châu, quy mộ dân lập thành thôn, xã.

Làng Bích Đàm (Bích Khê), làng Hà Khê (Xuân Hòa) đều là cơ sở dinh điền, đồn chứa lương thực, bám sát thành thị của các Ngài Tiên Tổ họ ta trong khoảng (1406 – 1418).

Để chứng minh việc lập chiến khu dinh điền chuẩn bị đánh Nghệ An, Hà Tịnh, tại núi thuộc huyện Hương Sơn, Thanh Chương, từ dãy núi Tây Bắc ngã ba tuần Tam Xoa, từ hai sông Ngàn Lâu, Ngàn Phố hợp dòng là một công trình tính toán rộng lớn để đóng quân, không phải chỉ có mục đích duy nhất dinh điền. Đời sau ông Bùi Cương Lịch có thơ vịnh rằng:

“Đất giáp ba sông hiểm; 

Núi hình vạn ngựa phi 

Chương Dương chia hai ngã 

Lam phố hiệp ba chi 

Hoan đức khoe trấn hiểm 

Trà cao giữ biên thùy

(Hoan là Hoan châu; Đức là phủ Đức Thọ; Trà là Trà Lâu; Cao là Trích cao giáp Lào).

“Bình Ngô ngày thủa nọ

Phá giặc dựng quốc ky (cơ)”

(Câu này nói vua Lê Lợi đóng quân đánh giặc Minh).

Vị trí làng Bích Đàm thì bám sát Thuận thành:

“Bích Đàm, An Việt, Bố Liêu 

Trúc giang sóng gợn gấm găng ruộng vườn 

Quán xá bọc quanh Thuận thành…”

Sách Thuận Hóa Địa dư và Ô Châu địa lý tả chợ Thuận rằng: “Chợ ở địa phận huyện Vũ Xương và Hải Lăng, có một ngành sông con từ sông cái chảy vào Tây nam, trên sông bắc dịp cầu dài, những hàng quán, nào thành, nào huyện đối nhau, hai phía đi thủy, đi bộ đều tới, chính là nơi đông đúc của Thuận châu vậy”.

Trên đây là di tích lịch sử, sau đây là hành động của các Ngài có liên hệ với các vị Khải Tổ họ ta, để rồi chúng ta đứng về phương diện khách quan suy xét, và minh định.

Năm 1406, quân Minh kéo sang nước ta truyền hịch chỉ đánh Hồ Quý Ly giúp vua nhà Trần, nhưng sau khi đã bắt được cha con Hồ Quý Ly rồi vẫn tiến quân chiếm đánh nước ta. Vua Thái tổ Lê Lợi khởi nghĩa năm 1418, khi ấy các vị Khải tổ chúng ta là Lê Trừ, Lê Chích và các vị khác đều tụ họp tại Lam Sơn. Năm Kỷ Hợi (1419) trọng binh quan Minh đóng ở Nghĩa Liệt thành gần làng Triều Khẩu và thành Nghệ An, phía nam căn cứ dinh điền Hoan Đức. Vua Lê Lợi đánh thành Nghệ An, chia quân đánh cả thành này. Nghệ An, Nghĩa Liệt bị hãm, nghĩa quân toàn thắng, tướng quân Thái Thúc tử trận.

Quân Minh sai Đại hành – Khiển Phùng Năng đi đường thủy vào đánh lén Hóa thành và Thuận thành bị nghĩa quân ta chặn đánh liền thua chạy theo đường bộ đến xã Duy Liệt bị tướng nghĩa quân Thuận Thành là Phạm Đăng (Phạm Thế Đăng) đánh úp, Phùng Năng tử trận.  Năm 1427,  Lê Ngân, Lê Nổ và Trần Nguyên Hãn đem quân thủy – bộ vào đóng ở Hà Trung, trấn thủ Thuận thành, ông Lê Thức đem 3000 quân (Nghĩa dũng) và 2000 hộc (thăng, đấu) gạo và lương khô ra giúp. (Lam Sơn chiến sự; Lê triều dã sử).

Căn cứ vào sự hiện diện của các vị Khải tổ họ ta và việc ông Lê Thức (vị tổ thứ tư họ ta) đem quân lương trợ chiến. Xét nếu không phải tình thân thuộc thì việc gì phải lo nghĩ và ân cần giúp đỡ, xong pha trên đường ngàn dặm ?

Sách Ô châu nhân vật ký và sách Ô châu cận lục do Sùng nham bá Dương Văn An nhuận sắc năm Ất sửu (1553) mục bạn vua viết: “Ông Lê Văn ở làng Hà Khê, bạn học với vua Lê Thánh Tôn lúc vua chưa lên ngôi – mục này chỉ viết một húy hiệu ông Lê Văn. Chúng ta nghĩ xem, thời đại quân chủ thịnh hành một người con thường dân đâu có được hạnh phúc học cùng một trường với Hoàng tử (con vua) và làm bạn thân với con vua, ông Lê Văn đã được cùng học và kết bạn thân duy nhất với vua Lê Thánh Tôn, trong việc ấy phải có nguyên nhân quan hệ thân thích. Văn sĩ thời đại ấy đã tặng ông Lê Văn bài thơ: “Nhất duyên, nhì phận, ba phong thơ, bốn tích âm công đến học hành”(ông Lê Văn là vị tổ đời thứ năm họ ta). Trong bài thơ, chữ duyên phận, học hành chủ ý khen “phần mộ, Tổ đức, Tông công”không riêng gì ông Lê Văn mà cả vua Lê Thánh Tôn.

Ngày 04 tháng Chạp, Lê Thánh Tôn đem quân vào đánh Chiêm Thành đến Nghệ An nghĩ quân, vào thăm đền thờ Ngài Lê Khôi tại xã Triều Khẩu, đề thơ điếu, làm lễ tế và phong tặng phong tước ngài Lê Khôi là Chiêu Trưng đại vương (Đ.N.N.T.C).

Ông Lê Thúc Thông có đăng việc này ở Nam Phong số 101 trang 454. Trong bài báo, Lê Thúc Thông viết rõ rằng: “Vua Lê Thánh Tôn, niên hiệu Hồng Đức nguyên niên (1470) thân chinh Chiêm thành có hai mục đích: mục đích chính là mở rộng nước Nam về phương nam, mục đích thứ hai là phục thù thay việc ông Lê Khôi đánh Chiêm tuy thắng trận, nhưng ông Lê Khôi bị thương về đến núi Nam giới (Kỳ Anh) thì mất, vì ông Lê Khôi với vua Lê Thánh Tôn có tình huynh đệ đồng đường.

Tháng 02 niên hiệu Hồng Đức thứ 02 (1471), vua đem quân đến Thuận châu đóng quân ở Thuận Thành đi thăm địa thế khen: “xã Bích Đàm nước pha màu biếc, nền củ Cổ thành vẫn còn”và truyền đổi Hồng Khê xã, thay vì Bích Đàm xã (Ô châu địa dư chí).

Chúng tôi tự hỏi: Theo quy chế xưa, chữ húy vua và niên hiệu vua không được dùng vào văn kiện và đặt tên. Vậy mà vua Lê Thánh Tôn dùng chữ niên hiệu của vua đặt tên xã hiệu “Hồng Khê”thay Bích Đàm. Việc dùng chữ niên hiệu của chính vua mà đặt đổi tên xã Bích Đàm thành xã Hồng Khê, vua Lê Thánh Tôn đã làm một kỷ niệm không phải ngẫu nghiên, suy cho sâu thì rất ý nhị, đầy cảm tình lưu luyến, cảm thông tưởng niệm công nghiệp của tiền nhân cùng dốc hết khả năng xây dựng nước nhà, xây dựng tôn mon tộc thuộc;

Tóm tắt việc xưa, tích củ chúng ta khách quan nhận xét không cần biện luận thêm, vì những hoạt động và di tích lịch sử nêu trên đã trả lời; chúng ta đã tìm thấy, biết rõ lai lịch nguồn gốc giòng dỏi họ chúng ta rồi vậy.

Làm trong mùa Hạ năm Đinh Tỵ.
Bổn tộc đồng duyệt ký

                                         Về tài liệu nói trên, tôi xin có vài nhận xét sơ bộ như sau:

– Văn bản trên không có giá trị Gia phổ học vì nó chỉ mới được ông Lê Quang Thế, hậu duệ đời 17 của họ Lê – Bích khê suy diễn và chế tác trong vài năm gần đây. Phải là gia phả chữ Hán cổ, viết tay trên giấy bỗi mới có thể xem là bản gốc. Hiện nay có những quyển gia phổ chế tác bằng loại chữ Hán đời mới do công cụ vi tính Google Translate phiên dịch cũng không đáng tin cậy.  

– Thỉnh thoảng ông Thế trích dẩn những quyển sách mà ông gọi tên là Thuận hóa địa dư, Ô châu địa lý, Ô châu dư địa chí, Ô châu cận lục… Trong số những quyển kể trên, chỉ có Ô châu cận lục của Dương Văn An đã được dịch ra tiếng Việt và phổ biến rông rãi. Còn những quyển kia không biết ông Thế kiếm đâu ra, tác giả là ai, viết vào năm nào…? Liệu có thể làm rõ được không? Nếu không thì những trích dẩn gì đó không có giá trị sử dụng.  

Cứ theo văn bản nguồn gốc lịch sử họ Lê do ông Thế suy diễn thì: 

– Thượng thủy tổ của họ Lê Bích khê là các ngài LÊ TRỪ, LÊ CHÍCH – anh em bà con với vua Lê Lợi đã cùng các tướng tham gia khởi nghĩa Lam Sơn.  

– Các Ngài khải tổ họ Lê đã vào lập dinh điền sở tại Thuận Châu và Hóa Châu, quy mộ dân lập thành thôn, xã. Làng Bích Đàm (Bích Khê), làng Hà Khê (Xuân Hòa) đều là cơ sở dinh điền, đồn chứa lương thực, bám sát thành thị của các Ngài Tiên Tổ họ ta trong khoảng (1406 – 1418).

– Danh sĩ LÊ VĂN là vị tổ đời thứ 5 của họ Lê – Bích khê.

Tôi đã tham khảo các tài liệu đáng tin cậy và thấy sự suy diễn của ông Lê Quang Thế về nguồn gốc họ Lê – Bích khê có nhiều điều sai lầm không thể chấp nhận:

+ Trong sử liệu đúng là có tên ông Lê Trừ là anh thứ hai của Lê Lợi và là cha của vị công thần danh tướng Lê Khôi

Thân thế của ông Lê Trừ rất rõ ràng: “Tục truyền, Lê Khôi, thụy là Võ Mục, con ông Lê Trừ là anh thứ hai của Lê Lợi. Cha mẹ mất sớm, Lê Khôi ở với chú ruột là Lê Lợi, tham gia nghĩa quân, có tên trong Hội thề Lũng Nhai gồm 35 công thần tụ nghĩa. (Báo Hà Tĩnh điện tử)

Trang web của một hậu duệ họ Lê là Lê Anh Chí nói về Lê Khôi cũng khẳng định Lê Trừ mất sớm:

Vua Lê Thái Tổ có hai người anh: ông Lê Học và ông Lê Trừ. Vua ta được người anh cả, ông Lê Học, giáo dục và thừa hưởng sự nghiệp Lam Sơn (phụ đạo Lam Sơn) cũng từ người anh cả tài ba lỗi lạc này. Đình thượng hầu Lê Khôi là con trai trưởng của ông Lê Trừ. Ông Lê Trừ mất sớm, từ nhỏ LK sống với vua, học võ học văn từ vua, là học trò ruột của Vua Lê Thái Tổ – (Trang nhà Lế Anh Chí). 

Người ta nhắc đến tên ông Lê Trừ chỉ vì ông là cha của Lê Khôi. Ngoài ra không thấy ghi chép thêm hành trạng nào của ông cả. Ông Lê Trừ không có tên trong danh sách 19 người thân thích tham gia Hội thề Lũng Nhai năm 1416 lại cũng không có trong danh sách 35 tướng sĩ tham gia khởi nghĩa Lam Sơn năm1418. Khi ông Lê Khôi trưởng thành để tham gia khởi nghĩa thì ông Lê Trừ đã qua đời từ lâu, vậy làm sao có thể vào khai hoang để trở thành ông khai canh của làng Bích Khê vào khoảng năm 1417?

+ Tài liệu của ông Thế khẳng định ông Lê Văn, bạn của vua Lê Thánh Tông là tổ đời thứ 5 của họ Lê – Bích Khê. Nhưng theo Ô châu cận lục, (Ts Nguyễn Khắc Thuần dịch và hiệu đính – Quyển thứ 6 – Nxb Giáo Dục) nói về Nhân vật) thì các ông Lê Văn,Lê Tiềm đều là người huyện Kim Trà, nay là huyện Hương Trà thuộc tỉnh Thừa Thiên. Nếu từ ông tổ đời thứ 5, họ Lê – Bích Khê đã đổi quê quán từ Bích Khê – Quảng Trị thành Hương trà – Thừa Thiên thì ông Lê Quang Thế Đ.17 cũng đâu có còn là người Bích Khê – Quảng Trị mà phải là người Hương Trà – Thừa Thiên.

+ Theo trang web LÊ ĐẠI TỘC tức bản tiếng Việt dựa trên ngọc phả triều Lê thì các ngài Lê Trừ, Lê Học, Lê Lợi là con của ông Lê Khoáng – thuộc đời 15 của họ Lê. Thế mà ông Lê Văn bạn của vua Lê Thánh Tông lại được kể là đời thứ 5 rồi đến ông Lê Quang Thế hiện nay là đời 17. Sao cái cây phổ hệ của ông Thế lại lộn xộn quá vậy ?

+ Ông LÊ KHÔI con ông Lê Trừ là một danh nhân lịch sử. Ông Khôi được phong tước hiệu Chiêu Trưng đại vương, có đền thờ uy nghi từ hàng trăm năm nay. Cha ông là Lê Trừ cũng được vua ban tước là Hoằng Dũ đại vương và thờ trong đền thờ ấy. Đã được phong vương ở đấy rồi không lẽ ông Lê Trừ còn được sắc phong thần hoàng ở làng Bích Khê?

+ Riêng ông Lê Chích thuộc họ Nguyễn – tên thật là Nguyễn Chích sau khi Lê Lợi làm vua, ông được ban cho quốc tính nên đổi thành họ Lê. Theo qui định xưa, đặc ân quốc tính chỉ có hiệu lực trong một đời người đó. Những người đời sau phải trở về với họ thật của mình để khỏi mất gốc. Vậy đừng kể ông Lê Chích vào hộ khẩu họ Lê – Bích Khê. Trước khi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Chích đã xây dựng được một căn cứ chống giặc Minh vững mạnh ở Vạn lộc (Đông sơn -Thanh Hóa) nên càng không rời bỏ căn cứ này để vào Thuận Hóa làm “kinh tế mới”.

(Trích Gia phả Lê Đại Tộc tức bản dịch ngọc phả dòng họ Lê Lợi)

LÊ TRỪ – Hoằng Dũ đại vương  –  Đời thứ: 15

Là con của: LÊ KHOÁNG – Tuyên Tổ Phúc hoàng đế

Vợ LÊ THỊ LĂNG – Trinh Cẩn Thái phi

Các anh em, dâu rể:
LÊ HỌC 
– Chiêu Hiếu đại vương
LÊ LỢI – Vua Thái Tổ Cao Hoàng Đế
LÊ THỊ NGỌC TÁ
LÊ THỊ NGỌC VINH
LÊ THỊ NGỌC TIÊN

Con cái:
LÊ KHÔI
 – Chiêu Huy Đại Vương
LÊ KHANG – Hiển Công Vương
LÊ KHIÊM – Xương Quốc Công
LÊ ĐẠO – Thiếu Úy

Đến đây chúng ta có thể khẳng định: Ông Lê Trừ, anh của vua Lê Lợi không phải là ông Lê Trừ đã khai canh làng Bích Khê. Đồng thời các ông Lê Chích, Lê Khôi, Lê Văn cũng không liên quan gì đến lịch sử khai hoang của làng ta.

Vậy thì phải chăng có một nhân vật Lê Trừ nào khác trùng tên đã vào khai canh làng Bích Khê vào khoảng năm 1417? Theo tôi, người trùng tên thì chắc là có nhưng người này không thể vào khai hoang vùng Bích khê trong thời điểm 1417 vì lẽ:

+ Vùng Thuận Hóa từ cuối đời Trần đã bị người Chiêm Thành tái chiếm nhiều lần. Tuy có lúc Hồ Quý Ly ra quân bình định lại được nhưng đến năm 1406, nhà Hồ bị diệt. thì vùng đất này bị đặt dưới sự bình định rất ngặt của quân Minh. Theo Minh sử, Trương Phụ bắt được vua Trùng Quang nhà hậu Trần ở Ái Tử, chính là vùng này vậy.

+ Để tăng cường quản lý Giao Chỉ, nhà Minh tổ chức lại hệ thống xã thôn thành lý và giáp. Cứ 10 hộ thành 1 giáp do Giáp trưởng đứng đầu; 110 hộ thành 1 lý do lý trưởng đứng đầu. Các tên làng xóm cũ đều bị xóa bỏ, đặt tên mới. Chức năng chính của Lý trưởng và Giáp trưởng là thu thuế cho chính quyền đô hộ. Họ thường bị ép bức và đánh đập nên khi được giao chức đều rất lo sợ.

Trong khi đó, từ Thanh Hóa vào nam, quân Minh cấm dân trồng lúa để cắt nguồn lương thực của các phong trào kháng chiến, khiến nghĩa quân phải làm những chuyến phiêu lưu ra bắc tìm thực phẩm. Từ đầu năm 1408, Hoàng Phúc còn cho lệnh khai thác mỏ vàng, mỏ bạc ở bảy tiểu khu. Giao cho hai đô ty và bốn phó đô ty, cùng 21 án sát huyện và hai tri phủ điều khiển. – (Theo tài liệu: Đại Việt dưới ách đô hộ của nhà Minh – Giao Chỉ Đô Thống Sứ Ti-5/7/1407-3/1/1428 của Vũ Ngự Chiêu – Nghiên cứu lịch sử.com – Madison, Wisconsin, 4/1979 – Houston, Texas 7/2015)

Từ đó suy ra: Không thể có họ Lê hay bất kỳ họ nào đến khai hoang lập nghiệp, lập ra làng Bích Khê trong suốt thời gian giặc Minh còn cai trị vùng đất này. Trong tình hình như vậy, mà nói ông Lê Trừ đến đấy khai hoang, lập ra làng Bích Khê ngay trước mũi giặc Minh vào năm 1417 để làm căn cứ tiền tuyến hậu phương gì đó thì thật là hoang tưởng.

+ Ngoài ra còn thêm một nghi vấn khác. Hiện nay có hai cộng đồng họ Lê khác chỉ cách cộng đồng họ Lê Bích Khê vài km. Đó là họ Lê ở Triệu Đông và họ Lê ở Hậu Kiên. Làm sao chứng minh được rằng ngài Lê Trừ vào khai hoang ở Bích Khê chứ không phải ở địa bàn của hai họ Lê kia?

Tóm lại nói: “600 năm lịch sử thành lập làng Bích Khê – (1417-2017)” là hoàn toàn sai, không thể chấp nhận. Vậy xin đề nghị bà con, nhất là các chức sắc trong họ trong làng, nhà văn, nhà báo… từ nay đừng nhắc lại điều sai lầm nầy trong các văn bản, văn kiện đối nội và đối ngoại.

                                                   LỊCH SỬ LÀNG BÍCH KHÊ QUA GIA PHỔ HỌ HOÀNG

Chúng tôi hiện đang bảo quản quyển gia phổ gốc của họ Hoàng có tên là Xương Khê Hoàng tộc thống phổ, bản chữ Hán với thủ bút của tác giả là ngài Thượng thư Hiệp biện Đại học sĩ Hoàng Hữu Xứng biên soạn vào năm 1876. Trong phần nói về nguồn gốc họ Hoàng có một đoạn liên quan tới lịch sử thành lập làng Bích Khê như sau:

“Vào khoảng thế kỷ thứ 16, thượng thủy tổ họ Hoàng là ngài Hoàng Công Hội cùng với ông anh ruột và hai ông thủy tổ các họ Đỗ và họ Lê vào Nam theo các đợt di dân lập nghiệp của chúa Nguyễn. Đến bờ sông Điếu Ngao ở Đông Hà, ông anh ngược dòng sông lên vùng Cam Lộ lập nên làng Bích Giang. Còn ngài Hoàng Công Hội chia tay anh, xuôi theo dòng sông Thạch Hãn và dừng lại, cùng hai vị khai canh họ Đỗ, họ Lê lập nghiệp ở địa phận làng Bích Khê ngày nay”

Tài liệu của ngài Hoàng Hữu Xứng không nói rõ ba vị khai canh lập nghiệp ở Bích Khê vào năm nào. Bởi vì vào khoảng thế kỷ 16 có nhiều đợt di dân theo Nguyễn Hoàng. Lần đầu tiên rầm rộ nhất là vào năm 1558, Nguyễn Hoàng đi công khai hợp pháp theo mệnh vua vào trấn thủ đất Thuận Hóa. Trong những năm tiếp theo có thể có những đợt di dân kín đáo khác để tránh tai mắt của chúa Trịnh.

Ngài Hoàng Hữu Xứng là một tác gia làm sách Sử ký và Địa lý dưới triều vua Đồng Khánh. Ngài được triều đình sai biên soạn bộ sách địa lý Đại nam quốc cương giới vựng biên. “Sau gần nửa năm biên soạn, bộ sách được hoàn tất vào tháng 5-1887. Sách gồm 7 quyển và một bản đồ cả nước. Thấy sách soạn thảo thành công tốt đẹp, nhà vua cho Hoàng Hữu Xứng được hưởng thực phái, mọi người đều được khen thưởng. Rồi nhà vua lại cho ông được sung chức Toản tu ở Quốc Sử Quán. Tờ tấu của Hoàng Hữu Xứng đề ngày mồng 9 tháng 4 năm Đồng Khánh thứ hai, tức ngày 1-5-1887 nói về việc làm sách này có đoạn: “Nếu có chỗ chưa biết được rõ thì để khuyết chứ chẳng dám làm một cách khiên cưỡng hoặc lấy ý mình mà điền thế vào. Tùy theo nơi, nếu cần thì làm phần cẩn án phụ thêm ở dưới mỗi khoản, đợi sau sẽ khảo đính. ”. (Theo Phan Thuận An  Hoàng Hữu Xứng, tác gia Sử ký – Địa lý VN thế kỷ XIX).

Đó là tác phong khoa học, nghiêm túc và cẩn trọng của người làm sử sách. Tất nhiên ngài cũng đã viết lịch sử và gia phổ họ Hoàng với tinh thần: “Cái gì biết thì nói rằng biết. Không biết thì nói rằng không. Ấy là biết vậy”. Do đó, một khi chưa có tư liệu về năm thành lập làng Bích Khê thì ngài Hữu Xứng không dám suy diễn, bịa đặt. Giả sử trong gia phổ họ Hoàng có chỗ nào suy diễn chủ quan, khiên cưỡng hoặc chế tác sai sự thực mà có kẻ đàn hặc đến tai nhà vua thì cả bộ sách lớn là Đại Nam quốc cương giới vựng biên cũng bị nghi ngờ chất lượng. Chẳng những không được thưởng mà có khi còn bị tội nặng.

Sau này quyển gia phổ bản gốc chữ Hán của ngài HHX được các cụ Đời 15 là Hoàng Hữu Thước, Hoàng Hữu Cảnh, Hoàng Hữu Vỹ dịch ra chữ quốc ngữ. Hễ gặp chữ khó hoặc nghi vấn thì các cụ trao đổi, tra cứu cẩn thận chứ không hề dám chủ quan. Năm 1984, ngài Hoàng Hữu Thước đã lên tận làng Bích Giang – Cam Lộ để xác minh nhánh họ Hoàng của ông anh ngài Hoàng Công Hội. Năm 2010 đến lượt tôi cũng lên gặp các gia đình họ Hoàng ở làng Bích Giang để tìm hiểu thêm. Tôi đã được xem quyển gia phổ của họ Hoàng Bích Giang thấy trang đầu ghi tên vị tiền khai canh là Tiềm long hầu Hoàng Bá Ngụ. Đây là một chức tước khá lớn và rất quen thuộc trong thời kỳ Lê mạt -Nguyễn sơ. Ví dụ: An hòa hầu Nguyễn Kim, Hạ khuê hầu Nguyễn Hoàng, Lộc khuê hầu Đào Duy Từ, Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh… Trong sách Phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn, quyển I (Bản dịch của Ngô Lập Chí – Đại Học Tổng Hợp Hà Nội –1959) còn thấy rải rác những vị chỉ huy có tước hiệu Vạn long hầu, Thắng long hầu, Chấn long hầu… Từ đó tôi suy diễn: Tước hiệu Tiềm long hầu của ngài Hoàng Bá Ngụ là có thật. Với chức tước như vậy nếu theo Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa thì ông sẽ đi công khai trong thành phần lãnh đạo chuyến di dân rầm rộ vào năm 1558 chứ không đến nỗi phải đi lén lút như dân nhập cư ẩn lậu trong các chuyến sau. Khi đến Điếu Ngao (địa bàn tương ứng Thành phố Đông Hà ngày nay) ông Hoàng Bá Ngụ đi về phía Cam Lộ để xây dựng địa bàn có tầm quan trọng chiến lược. Còn ngài Hoàng Công Hội là em của ông và có lẽ cũng là vai em của cả hai ông họ Lê họ Đỗ – ba vị này đi về phía đồng bằng để khai canh làng Bích Khê. Vậy nếu nói làng Bích Khê được thành lập vào khoảng năm 1558 thì còn có thể chấp nhận. Nhưng đây cũng chỉ là suy diễn của cá nhân tôi và đã là suy diễn thì không thể tùy tiện đưa vào chính sử của dòng họ.

Tuy nhiên có một bằng chứng không cần suy diễn. Đó là ngôi miễu Tam Tộc thờ ba vị khai canh của làng Bích Khê. Nếu công nhận tài liệu nguồn gốc họ Lê của ông Lê Quang Thế, cho rằng ngài Lê Trừ vào khai canh làng Bích Khê trước hai vị họ Đỗ họ Hoàng đến gần 200 năm thì hai họ Đỗ – Hoàng chỉ là dân nhập cư, làm gì có tư cách được thờ phụng ngang hàng với ông khai canh họ Lê? Trong trường hợp đó, phía hai họ Đỗ – Hoàng nên tự giác thỉnh bát nhang của dòng họ mình ra khỏi miếu Tam tộc.

Ngược lại, nếu ai đó cứ suy diễn một cách tùy tiện, vô tình hay cố ý phủ nhận sắc phong của triều đình, xúc phạm tới sự tôn nghiêm của các vị thần hoàng, phá vỡ hương ước của Tam Tộc, và không khéo văng miểng cả vào cái “sắc phong” mới đây là danh hiệu “Làng văn hóa xuất sắc cấp tỉnh”… thì đây không phải là lỗi nhỏ. Ngày xưa những lỗi nặng như thế là bị phạt vạ, phải cúng heo cúng bò để tạ tội với làng họ đấy.

                                                                                   HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN

Images