
Thư pháp của Linh Đàn Nguyễn Hữu Kiểm
Bài 1
LÀNG BÍCH KHÊ
Thạc sĩ LÊ THỊ THU THANH
Dâu họ Hoàng-(Đ 16)

Bản đồ Làng BÍCH KHÊ
- Hành chánh.
LÀNG (đơn vị hành chánh hiện nay gọi là THÔN) BÍCH KHÊ là một trong 8 thôn thuộc xã Triệu Long,huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị.(Tám thôn này là:An Định, Bích Khê, Bích Lộc Triêu, Cồn Bồi Kiệt, Đại Thượng Hạ, Đùng Hói Bàu, Lưu Nghĩa, Phương Ngạn.)
Làng Bích Khê hiện nay có diện tích thổ cư: 38 ha. Đất nông nghiệp: 35 ha. Trong làng có 200 hộ dân, 185 nóc gia, gần 1000 nhân khẩu. Làng có 3 đội sản xuất: đội 1, đội 2, đội 3. Phần lớn cư dân là người thuộc ba họ Lê, Đỗ, Hoàng. Họ Đỗ chia làm hai nhánh gọi là Đỗ Thiên –(Đỗ lớn) và Đỗ Khắc-(Đỗ nhỏ). Họ Hoàng người nhiều thế mạnh nhưng hầu hết đều làm ăn sinh sống ở xa quê – đông đảo nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay có tất cả 16 hộ nội ngoại họ Hoàng đang sinh sống ở làng Bích Khê.
Làng Bích Khê diện tích tuy nhỏ nhưng đất đai màu mỡ nên hoa màu bốn mùa xanh tốt. “Đất lành chim đậu” dân các nơi kéo về sinh sống mỗi ngày mỗi đông. Lúc đầu có 3 họ lớn là Lê, Đỗ, Hoàng. Sau này có dân các nơi đến sinh sống và lập nghiệp nên có thêm các họ như họ Đặng, họ Nguyễn, họ Mai, họ Đào. Trong các dòng họ hiện cư trú tại làng Bích Khê thì họ Đỗ có nhân khẩu nhiều nhất, rồi đến họ Lê, họ Hoàng, các họ khác thì đếm trên đầu ngón tay.
Người đứng đầu chính quyền ở thôn gọi là Trưởng Thôn. Ngoài ra trong làng còn có các hội: Hội phụ nữ, Hội người cao tuổi, Hội cựu chiến binh, Hội khuyến học.
- Đời sống kinh tế.
Xưa kia dân làng Bích Khê chủ yếu sống bằng nghề nông, một năm làm 2 vụ lúa và hoa màu. Nói về nghề nông có lẽ trong ký ức nhiều người không thể nào quên cái máy quạt lúa. Ngày xưa nhà giàu mới có máy này, còn lại quạt lúa thủ công hoặc nhờ gió, xong rồi phơi lúa cho khô. Để có gạo ăn thì phải đưa vào cối xay lúa. Xay lúa rất mệt phải dùng sức để kéo, đẩy cái tay cầm. Lúa xay xong phải đưa vào cái giần sàng nay mà tách ra từng loại: trấu, gạo… Dần sàng này chỉ có các mẹ, các chị khéo tay mới làm được. Xong rồi đưa vào cối cối đá và giã bằng chày cầm tay giã gạo để giã cho trắng ra mới rồi lại dùng dần, sàng, tách các loại cám, tấm, gạo. Thế đấy ngày xưa vất vả thế mới có được hạt gạo trắng thơm ngon. Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ có bài hát Gạo trắng trăng thanh chính là những hạt gạo được sản xuất theo kiểu tiểu thủ công này. Không phải như bây giờ chỉ đưa ra máy xay gạo 10 phút sau là có gạo. Quá hiện đại, ngày xưa phải mất thời gian gấp 100 lần mới có được gạo (có nghĩa là hơn 15 giờ – hơn một buổi – cùng số gạo tương đương).
Ngày nay nghề nông không phải là nghề chủ yếu ở làng Bích Khê, vì người dân chỉ làm đủ gạo, rau để ăn. Mức sống của người dân Bích Khê nay dựa vào nhiều nguồn thu khác. Làng có nhiều người thành đạt, được học hành đào tạo cơ bản. Họ trở thành cán bộ nhà nước, các nhà doanh nghiệp xa quê nhưng có tiền gửi về phụ giúp bố mẹ và gia đình. Hiện nay làng có thêm nhiều nghề mới: nghề mộc, nề, cơ khí, sữa chữa xe máy, buôn bán kinh doanh, dịch vụ. Kinh tế của làng ngày càng được nâng cao, đời sống no đủ.
- Mối quan hệ giữa ba dòng họ lớn ở Bích Khê: Họ Hoàng, Họ Lê và Họ Đỗ.
Hiện nay trên địa bàn làng Bích Khê có trên 5 dòng họ, nhưng lớn nhất vẫn là 3 dòng họ Lê, Đỗ, Hoàng. Mỗi dòng họ tuy có khác nhau nhưng phần lớn sống dựa vào ruộng đất, một số ít tham gia nghề thủ công, một số ít thì tham gia thương nghiệp kèm với nghề nông chăn nuôi, nhưng tất cả họ đều gắn bó với nhau, noi gương các gia đình, cá nhân tiêu biểu trong dòng họ và đều chung một truyền thống tốt đẹp là luôn ý niệm về gốc gác tổ tiên để thành tâm thờ kính. Những gia đình, cá nhân tiêu biểu được các dòng họ noi theo đều có ảnh hưởng to lớn đối với làng xã và thường là chỗ dựa và là niềm từ hào của cả dòng tộc.
Bao đời nay, ở làng Bích Khê người dân làm ăn, sinh sống cùng với nhiều dòng tộc khác và cũng từ đó mới nảy nở các mối quan hệ giao lưu tình cảm, giao lưu văn hoá giữa các thế hệ thanh niên trong các tộc họ mà mình hình thành nhân duyên. Cho nên nhiều đời, đã dựng vợ gả chồng giữa nam, nữ thanh niên các tộc họ trong làng với nhau. Từ đó hình thành mối quan hệ Nội-Ngoại. Ở đâu cũng là bà con, phía nào cũng là anh em, tạo cho tình làng, nghĩa xóm, quan hệ giữa 3 dòng tộc Lê – Đỗ – Hoàng thành mối quan hệ thân thiện, đoàn kết keo sơn, tình làng nghĩa xóm sâu đậm. Vì tất cả đều là anh em, là bà con nội ngoại, mọi quan hệ, mọi bất đồng xảy ra dựa trên cơ sở mà giải quyết.
Mỗi người con làng Bích Khê phải rèn luyện nhân cách, phải có đạo đức, có tài. Đối với bản thân với gia đình, ông bà, cha mẹ, vợ chồng, dòng tộc… tất cả đều phải lấy “Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí- Tín” làm gốc. Là con cháu của dòng tộc phải có trách nhiệm chung lo cho mọi việc trong các ngày xuân thu lễ hội, cúng chạp, xây dưng mồ mả. trong các việc tang hiếu. Mọi sự bất hoà nên dàn xếp trong dòng họ thấm tình máu mủ, ruột rà, lấy truyền thống nhân nghĩa mà giải quyết việc bất hoà. Phải luôn xây dựng một gia đình lành mạnh, văn hoá coi đó là nền tảng vững chắc cho dòng tộc. Trong họ tộc mọi người trong gia đình bất kể ai cũng phải có trách nhiệm đóng góp, phải dạy cho con cháu biết được trách nhiệm với dòng họ là quan trọng, trân trọng các mối quan hệ trong cuộc sống như: tang ma, cưới hỏi, giỗ chạp, thăm hỏi lúc đau ốm khó khăn hoạn nạn… Các thế hệ dòng họ Lê – Đỗ – Hoàng đều nhận rõ điều này để giữ gìn cho tộc họ một nét đẹp truyền thống.
Với mỗi dòng họ ở làng Bích Khê, nhà thờ họ hay từ đường luôn có vị trí đặc biệt trong tâm thức của mỗi thành viên trong họ. Nhà thờ hay Từ đường của mỗi dòng họ thường là nơi thờ các cụ tổ tiên, các anh hùng dân tộc, những người có công với đất nước và làm rạng danh dòng họ. Đồng thời cũng là nơi để con cháu tề tựu trong ngày giỗ họ được bày tỏ lòng thành kính trước tổ tiên và cũng là nơi bàn bạc những công việc chung của dòng họ. Đây cũng là truyền thống văn hóa vốn có bao đời của các dòng họ Lê – Đỗ – Hoàng. Hàng năm vào ngày giẫy mã chạp họ tháng 11 âm lịch, con cháu nội ngoại từ khắp nơi hội tụ về từ đường để thắp hương, dâng lễ tạ ơn tiên tổ, trời đất. Đây cũng là dịp để các chi xa, chi gần tìm về nhận họ hàng, phân định trên dưới, anh em, đồng thời cũng là dịp gặp gỡ ấm tình huyết thống, truyền cho nhau nghe về lịch sử dòng tộc, nhắc nhở con cháu về mối quan hệ thiêng liêng gắn bó với họ hàng.
Hiện nay, nhiều dòng họ ở làng Bích Khê hiện vẫn còn lưu giữ được những cuốn gia phả, bia đá và các đạo sắc phong có niên đại hàng trăm năm. Đây chính là tài liệu, là báu vật quý giá ghi lại lịch sử hình thành và phát triển của dòng họ và những điều dăn dạy của tổ tiên với con cháu đời sau. Việc ghi rõ ngày sinh, ngày mất trong cuốn gia phả chính là những tài liệu quý giá cho con cháu đời sau biết được gốc tích, nề nếp gia phong cũng như biết được ngày mất của ông cha mình mà kính cẩn hành lễ.
Ở Bích Khê, các dòng họ đang giữ vai trò quan trọng trong giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, đồng thời là chủ thể giải quyết kịp thời và có hiệu quả các xích mích bất hòa và tham gia vào những công việc lớn như: cưới xin, tang lễ, hoạn nạn hay xây dựng nhà cửa của các thành viên trong dòng họ, qua đó tăng cường mối gắn kết trong dòng họ với cộng đồng làng xã, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, bài trừ các tệ nạn xã hội, bảo tồn và phát huy các công trình thờ các danh nhân của các gia tộc, dòng họ. Ngày nay, bằng việc giữ gìn và phát huy truyền thống gia đình dòng họ, nhiều loại quỹ được lập ra nhằm nâng cao tinh thần đoàn kết, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau. Từ những nguồn quỹ này, các dòng họ đã để kịp thời thăm hỏi các thành viên trong họ ốm đau, mừng thọ cho các cụ cao tuổi và khen thưởng các cháu có thành tích cao trong học tập.
Phong trào khuyến học, khuyến tài trong các dòng họ ở Bích Khê đang phát triển mạnh, góp phần cổ vũ, động viên phong trào học tập suốt đời trong nhân dân và tăng cường sự đoàn kết tương thân, tương ái trong dòng họ. Ví dụ dòng họ Đỗ Thiên làm công tác khuyến học – khuyến tài từ nhiều năm nay và có số quỹ khuyến học lớn ở Bích Khê. Với quy chế hoạt động rõ ràng, Hội đồng gia tộc họ Đỗ Thiên đã xây dựng được quỹ khuyến học đạt 100 triệu đồng, lập được sổ vàng ghi danh những người đỗ đạt cao. Trong 10 năm qua, quỹ khuyến học của dòng họ đã tuyên dương được nhiều em đạt học sinh giỏi. Như đã thành thông lệ, cứ vào ngày giẫy mã tháng 11 âm lịch hàng năm, họ Đỗ Thiên lại tổ chức trao thưởng cho con em mình có thành tích cao trong học tập tại nhà thờ họ. Đây là nét đẹp văn hóa các dòng họ khác có thể học tập.
LTTT.

Bài 2
LÀNG TA
Trước năm 1954,làng Bích Khê gọi là Xã Bích Khê thuộc tổng Bích La, huyện Thuận Xương,Phủ Triệu Phong Tỉnh Quảng Trị . Sau 1954,đơn vị hành chánh gọi là Tổng bị xóa bỏ .Làng gọi là thôn. Cấp Phủ đổi là Quận.Sau năm 1975,có một thời gian dài ,tỉnh Quảng Trị nhập với Quảng Bình và Thừa Thiên – Huế gọi là tỉnh Bình Trị Thiên.Huyện Triệu Phong nhập với Huyện Hải Lăng,gọi là Huyện Triệu Hải.Cấp thôn cũng bị xóa bỏ,gọi là Đội Sản Xuất .Cách gọi nầy rất phản cảm vì nó không chỉ xóa bỏ ranh giới địa lý mà còn xóa bỏ cả truyền thống văn hóa,lịch sử và tình cảm thiêng liêng của người dân đối với nơi quê cha đất tổ.
Hiện nay ,làng ta được phục hồi lại tên cũ- gọi là thôn Bích Khê,thuộc xã Triệu Long,Huyện Triệu Phong,tỉnh Quảng Trị. Theo tài liệu mới nhất vào tháng 6 năm 2010 thì ranh giới địa lý của làng Bích Khê như sau: Bắc giáp láng Bích La.Nam giáp Tân Định.Đông giáp Hậu Kiên.Tây giáp Xóm Tiêu của làng Đầu Kênh.Diện tích thổ cư:38 ha.Đất nông nghiệp:35 ha.Trong làng có 200 hộ dân-185 nóc gia-950 nhân khẩu. Người đứng đầu chính quyền ở thôn gọi là Trưởng Thôn.Tuy nhiên dân chúng vẫn ưa dùng từ Làng Trên cổng chào cũng ghi là Làng Bích Khê.
.Phần lớn cư dân là người thuộc ba họ Lê,Đỗ ,Hoàng .Họ Đỗ chia làm hai nhánh gọi là Đỗ lớn và Đỗ nhỏ.Họ Hoàng người nhiều thế mạnh nhưng hầu hết đều làm ăn sinh sống ở xa quê.-đông đảo nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh.Trong làng chỉ còn 14 hộ với mấy chục nhân khẩu mà thôi
Làng Bích Khê nằm bên bờ sông Thạch Hãn.Sông Thạch Hãn có dòng chảy quanh co khúc khuỷu ,gây tình trạng bên bồi bên lở từ bao đời nay.Cứ đến mùa mưa lũ thì phần đất trên bờ sông phía làng Bích Khê bị sạt lở đến bốn,năm mét.Đất ấy bồi vào bên bờ ,phía làng Trung Kiên làm cho làng nầy càng ngày càng rộng mà diện tích làng Bích Khê mất đi hàng trăm mét vuông.Tình trạng nầy đã xẩy ra từ hằng trăm năm trước.Mãi đến những năm đầu thế kỷ 20,dưới triều vua Bảo Đại,ngài Thái Thường Tự Khanh Hoàng Hữu Bỉnh ( Đ. 13)làm điều trần gửi Bộ Hộ để xin định lại ranh giới để giữ cho dân làng Bích Khê phần đất đã bị trôi dạt sang làng Trung Kiên .Cuộc đấu tranh nầy mang đến thắng lợi cho dân làng Bích Khê .Một cột mốc được cắm bên phía làng Trung Kiên .Từ đó dân làng Bích Khê có quyền sang canh tác trên phần đất bồi của làng mình.Trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ,dân chúng ở cả hai làng đều thất tán.Cột mốc cũng xiêu lạc đâu mất.Đất bồi của làng Bích khê bên kia sông có chiều rộng lên đến cả ngàn mét nhưng không ai buồn tranh chấp.
Đầu tháng 5 năm 2010,nhân dịp về làng dự lễ hiệp kỵ tôi đã có dịp phỏng vấn ông LÊ QUỴ -trưởng thôn Bích Khê về vấn đề nầy.Ông trưởng thôn cho biết,theo luật lệ ngày nay thì đất đai ở đâu cũng là của nhà nước .Dân làng Bích Khê không thể nói rằng đất bồi kia là của mình.Tuy nhiêntheo hương ước, chính quyền ở làng Trung Kiên cũng sẵn sàng công nhận quyền sử dụng đất của dân làng Bích Khê trên phần đất bồi nầy .Nhưng trong thực tề không thấy có người dân nào ở làng Bích Khê qua đầy canh tác hay cư trú.Hình như phương án tối ưu của dân làng Bích là…bỏ làng mà đi. Vào khoảng năm 2000, ranh giới sạt lở chỉ còn cách đình làng ,nhà thờ họ Hoàng và nhà thờ họ Lê chưa đầy 100 mét.Lúc này chính quyền địa phương bắt đầu triển khai công trình xây kè chống lở.Công trình nầy tỏ ra có hiệu quả.Hơn 10 năm nay,nạn sạt lở cơ bản đã được chặn đứng ở trước đình làng.Còn về lâu về dài thì chưa biết ra sao.Riêng nhà thờ Chi Nhất A của họ Hoàng may mắn còn rất xa bờ sông,hy vọng không nằm trên đường đi của con giao long Thạch Hãn.
Làng ta ngày xưa có nghề trồng dâu nuôi tằm,quay tơ,dệt vải.Dọc bờ sông là nương dâu xanh ngát.Với nạn sạt lở nghiêm trọng như vậy,ngàn dâu đã biến mất trong vòng chưa đầy năm mươi năm.Than ôi! Tang thương biến đổi .
HOÀNG LÊ ĐỖ





Nhà thờ Chi Nhất A-Họ HOÀNG


SÔNG THẠCH HÃN BÊN BỒI BÊN LỞ.
Bài 3
ĐÌNH và CHÙA
LÀNG BÍCH KHÊ
Ca dao ta có câu:
“Qua đình ngả nón trông Đình
Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”
Đình là biểu tượng của của văn hóa làng xã “có từ lâu đời, mà như câu ca dao trên đã nói lên phần nào sự thiết thân của Đình đối với tình cảm quê hương của người dân Việt. “Đình bao nhiêu ngói…” vậy nhưng Đình của làng Bích Khê thì rất “Lạ đời”: Đình không có ngói – tức là không có cột, kèo, rui, mái – Đình lộ thiên! Toàn bộ hệ thống thờ cúng như hương án, bệ thờ, bát nhang, cặp hạc đạp lưng rùa v.v… đều đã được bê-tông-hóa nhân lần tái thiết mới đây và để phơi nắng phơi mưa quanh năm. Hỏi, thì các “chức sắc” làng cho biết: “Truyền thống của Đình Làng ta là vậy.”
Theo gia phả của Họ Hoàng, trong phần nói về vị trí ngôi mộ của ngài Hoàng Hữu Xứng, thì nguyên trước khi cải táng lần 2 là đã được chôn nơi “nền Đình cũ” ở xứ Điếm. “Xứ Điếm” là một địa danh của Làng nằm phía đông cách đập thủy lợi bây giờ khoảng 200 mét. Như vậy, trước đây, dình Làng ta đã có thời gian tọa lạc nơi chỗ ấy, nhưng chẳng rõ sau vì nguyên cớ nào lại chuyển về địa điểm hiện nay.
Trong chiến trận 1972, cùng với đa phần các di sản văn hóa khác của Làng bị bom đạn tàn phá. Đình Làng cũng chung số phận, chỉ còn lại một mặt nền với vài ba phần thành, trụ, bệ thờ… nham nhở với gạch lên “màu xanh thời gian”.
Năm 1990, với niềm tha thiết yêu quê mến tổ, được cổ vũ bởi chính sách phục hồi văn hóa truyền thống của nhà nước ban hành, dân làng đã chung góp tài lực tái thiết lại Đình.
Qua 1993, Đình Làng được làm mới với vóc dáng. Có một vài đổi thay trong các chi tiết cấu trúc, nhưng không phải do cố tình “cải tiến” mà vì “bộ nhớ” con dân chỉ có giới hạn, nhất là “bộ nhớ” của người trực tiếp chỉ đạo công trình. Lễ Lạc thành tái thiết được tổ chức vào ngày tế truyền thống 14, 15/6 Âm lịch (Quý Dậu) nhẳm 1.9.1993, lần đầu tiên sau mấy mươi năm Đình ở trong trạng huống của một phế tích – Đây là ngày Hội lớn của Làng với hình thức tế lễ như xưa, có cờ xí, lồng đèn, trang phục,trống chiêng, lễ nhạc… và vói một con bò thui to đặt nghiêm trang trên bệ xi măng hình chữ nhật ngay trung tâm Đình, trước các hương án thờ thần.
Năm ấy, dân làng thật đông vui, hội về đủ mặt những đứa con gần xa từ Khe sanh Lao Bảo, đồng bằng sông Cửu, Long Khánh, Vũng Tàu, Bà Rịa, Biên Hòa, Tây nguyên, Thanh Nghệ, Quảng ninh, Phan Rang, Phan thiết, Đà nẵng, Huế, Hànội, Saigòn… và cả những con dân lưu vong tận bên kia nửa vòng trái đất cũng về. Còn có mặt cả nhà sử học Trần quốc Vượng, được nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường “móc nối” về dự. Dịp này, nhân lễ rước sắc phong từ chùa Hồng Khê (thực chất chỉ là làm cho đúng nghi thức truyền thống chứ sắc phong đã thành tro bụi với bom đạn từ lâu), nhân dân thôn Bích Khê đã được sáng mắt mở lòng với nhũng giải thích cả giáo sư Trần quốc Vượng về nội dung 2 tấm văn bia chữ Hán còn lại để trước phần tiền đình đổ nát của chùa. Hóa ra Chùa Làng đã có những thế kỷ thứ XVII xa lắc xa lơ, và hàng chục vị Hòa thượng, thượng tọa, thiền sư Phật giáo thuộc nhiều hệ của các họ Đỗ, Hoàng, Đào… đều xuất thân từ Hồng khê cổ tự, trong đó có ngài Giác Phong, tức Hoàng Hữu Đàn, đời 14 Hoàng tộc, một liệt sĩ cách mạng thời chống Pháp, Thượng Tọa Thích Thiện Minh, tức Đỗ Xuân Hàn, một thời là Tổng Trị Sự thanh niên sinh viên Phật tử của miền Nam đấu tranh chống chinh quyền Diệm – Nhu, hay Hòa thượng Thích Trí Quảng, tức Đỗ Khắc Dũ mà bà con Phật tử Làng vẫn thân mật gọi là “Ông Từ Ân”… Vị trụ trì cuối cùng của Chùa Làng là Thiền sư Trừng Đức, tức Đỗ khắc Phức, cũng là một y sĩ Đông y nổi tiếng địa phương. Hiện nay, chùa được giao cho thầy Lê Tại, người Làng làm chủ tự.
Cứ theo văn bia cổ ấy thì Chùa nguyên trước làm bằng tranh tre, phên nứa thô sơ. Sau có nữ Phật tử Lê thị Chiêu, người Châu Ái, phát bồ đề tâm bỏ tiền của ra chỉnh trang lại chùa. Chùa được xây bằng vật liệu nặng, khuôn viên có La thành hẳn hoi. Bà con bỏ tiền tậu đất ruộng cúng dường để Chùa có huê lợi làm quỹ tế tự hàng năm. Năm 1896, (Thành Thái 8) Chùa bị thiên tai vùi dập. Ngài Hoàng hữu Tuệ tiền nhân đời 13 họ Hoàng, thân phụ của Hòa thượng Giác Phong, đã cùng thôn dân Bích Khê bỏ tiền của, đóng góp nhân công đại trùng tu lại Chùa. Và, kể từ kh con cháu 3 họ trong Làng làm ăn phát triển, đỗ đạt, làm quan văn, quan võ, Chùa người thắc mắc, nhất là lớp trẻ. Các vị bô lão của Làng bị con cháu phương xa hạch hỏi đến chóng mặt, nhưng tất cả các Cụ đều rất “ú ớ” trước vấn nạn này.
Tôi được sinh ra và ở với Làng từ nhỏ, đã lớn lên cùng làng từ mũi giáo hầm chông, từ rau rìu rau má, từ con tép con đam nay ruộng cạn mai đồng sâu, đã cùng dân làng bữa khoai bữa sắn lêu bêu đói rách… nên tôi biết nhiều, hiểu sâu về làng, vậy mà chỉ với một cái “truyền thống đặc dị” này của Đình làng cũng chẳng có ai cho tôi được đáo tường gốc ngọn kể cũng “ức” thật. Nếu cố công, chắc chắn tôi có thể lý giải được “căn do” của hiện tượng Lộ thiên này của đình làng, nhưng, để làm gì kia chứ, khi việc thay đổi một truyền thống đã bắt rễ quá sâu trong đời sống dân gian qua hàng chục thế hệ đời người đâu phải là chuyện dễ dàng? Ôi, “Phép vua thua lệ làng”.
Chẳng biết bao giò tơi mới được ngắm nhìn Dình làng tôi với một kiến trúc trang trọng, đúng mẫu mực mô hình truyền thống chung của dân tộc vói nái ngói cong, trên có rồng phụng tung mây, lân qui chầu phục, để mà thoải mái hát lên:
“Qua đình ngửa nón trông Đình
Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”
Bây giờ, làng Bích ta, dẫu sao cũng đã phục hồi được Đình Miếu Tam Tộc, đền Văn Chỉ, đền Âm hồn… trên các địa chỉ cũ trước đây. Và mới đây nhất, Chùa Làng – Hồng-khê-cổ-tự – cũng đã được tái thiết – Hồng khê cổ tự là một ngôi chùa cổ nhất trong những ngôi chùa lâu đời của Quảng trị, ngang tầm với chùa Sắc tứ Tịnh Quang ở Ái tử. Di sản văn hóa này của làng luôn gắn liền với Đình trong các mùa lễ hội truyền thống quê hương. Các phật tử từ An Mô, Tân Định cũng đến đây chiêm bái học Phật.
Hồng Khê cổ tự đã dược dặt đá khởi công tái thiết từ năm ngoái (1999) và đến nay đã hoàn chỉnh phần chánh điện. Con cháu họ Hoàng phương xa gánh vác một phần lớn tài khoản tái thiết cho chùa. Phần tiền đình cũ tuy đã có chuẩn bị ngân sách nhưng vẫn chưa đủ theo dự án nên chưa thể hiện hạ phần phế tích còn lại để làm mới cho trọn vẹn thế liên hoàn của công trình mà thiết kế kiến trúc đã đề ra. Phần khác, cũng do mùa vụ hạn chế nhịp vụ xây dựng rất nhiều.
Cũng như với đình làng, việc chùa làng lại xuất hiện, vươn lên trên mảnh đất xưa chùa đã tọa lạc là nhờ tấm lòng ưu ái của con dân làng thể hiện qua sự tích cực đóng góp; đặc biệt là sự hỗ trợ tinh thần của Giáo hội tỉnh và của chính quyền địa phương.
Viết đến đây thì tôi được tin Bích khê ta vừa khai sinh “Hội khuyến học” của Làng. Một chuyện đáng mừng. Chính từ khởi điểm này, Bích khê sẽ chuẩn bị đủ vốn liếng hành trang cho mình để tiến lên một “làng văn hóa”, nối bước cha ông xưa…
Rồi đây, Lễ Tế Đình vào nhũng mùa thu tới sẽ là dịp qui tụ đủ mặt “quần hào”của cả 3 họ Hoàng, Lê, Đỗ để vinh danh cho Bích khê – “Địa Linh Nhân Kiệt”
HOÀNG THẠCH TÚ– (Đ 17)
Bài 4
VỀ HAI TẤM BIA ĐÁ TẠI CHÙA HỒNG KHÊ
Tháng 8 năm 2010, trong quá trình điều tra thám sát khảo cổ học dọc đôi bờ sông Thạch Hãn chúng tôi đã có dịp ghé qua chùa Hồng Khê của làng Bích Khê xã Triệu Long. Sau khi tìm hiểu được biết chùa ra đời vào khoảng nửa cuối thế kỷ XVI và được coi là một trong những ngôi chùa cổ của vùng đất Triệu Phong – Quảng Trị.
Lúc sơ khai, chùa có tên Hồng Ân, được tạo dựng bằng tranh tre nứa lá với quy mô nhỏ hẹp, tạm bợ. Trải qua thời gian, chiến tranh và sự khắc nghiệt của khí hậu miền Trung, ngôi chùa này đã bị hư hại và phải tạo dựng lại không biết bao lần. Vào năm Cảnh Hưng thứ 23 (1762), chùa bị hư hỏng nặng, dân làng không có tiền để tu sửa. Lúc bấy giờ gặp cơ duyên có một người phụ nữ tên là Lê Thị Chiêu người Ái Châu đi ngang qua chứng kiến cảnh chùa hoang tàn đổ nát. Vốn là người mến mộ đạo Phật, bà phát lòng từ bi đứng ra quyên góp tiền của xây dựng lại chùa và đổi tên thành Hồng Khê Tự. Qua thời gian, bão lụt làm hư hại, đến năm Thành Thái thứ 4 (1892), được sự tài trợ và phát động của ông Hoàng Hữu Tuệ, nhân dân làng Bích Khê tiếp tục nâng cấp trùng tu lại chùa một lần nữa với quy mô rộng lớn và kiên cố hơn.
Đến năm 1957, chùa được mở rộng thêm phần tiền đường và nhà tăng khang trang bề thế hơn. Năm 1972, chiến tranh tàn phá khiến chùa bị sụp đổ gần như hoàn toàn, chỉ còn lại một phần tiền đường và sườn gỗ ở bên trong. Đến năm 1976, dân làng dựng lại chùa tạm để sinh hoạt. Năm 1999, một trận lũ lịch sử lần nữa lại tàn phá làm chùa bị hư hỏng nặng, cát bùn vùi lấp cả nền chùa. Nhân dân Bích Khê đã vận động quyên góp tiền của từ khắp mọi miền đất nước và được sự tài trợ của con em thuộc dòng họ Hoàng trong làng đã xây dựng lại chùa mới như hiện nay. Tháng 3 năm 2003, chùa bắt đầu có trụ trì về coi sóc và thờ tự.
Theo sư cô Nguyễn Thị Nhu trụ trì chùa cho biết thì trước đây chùa vốn thờ tiền Phật hậu Thần. Tuy nhiên, ngày nay cách thức thờ tự đó đã được thay đổi. Phối trí thờ tự trong điện thờ hiện nay gồm: gian giữa thờ Thích Ca Mâu Ni toạ thiền trên đài sen, hai bên tả hữu thờ Quán Thế Âm Bồ Tát và Địa Tạng, hậu liêu phía sau thờ tổ Bồ Đề Đạt Ma và các vong linh kí tự. Hiện tại chùa vẫn còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị như chuông đồng thời Cảnh Hưng thứ 23 (1762). Đặc biệt ở hai bên tiền đường còn 2 tấm bia đá có khắc nội dung chữ Hán. Sau khi xem xét, nhận thấy đây là những tư liệu quý giá gắn liền với lịch sử xây dựng, tồn tại và phát triển của ngôi chùa, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu và giải mã 2 tấm bia này.
Trước đây hai tấm bia vốn được đặt trên hai đế bia lớn dựng ở hai nhà bia phía hai bên chùa. Về sau do chiến tranh tàn phá, nhà bia bị hư hỏng, nhân dân xây dựng lại chùa và đem hai tấm bia này gắn vào vách tường trước tiền đường. Cả hai tấm bia đều được làm bằng đá thanh.
* Tấm bia thứ nhất có kích thước cao 76cm, rộng 41cm. Trán bia cao 11cm được trang trí bởi hoa văn “Lưỡng long triều nhật”, hai bên trang trí hoa văn hình dây lá hoá long, phía bên dưới là hình một đài sen. Lòng bia cao 58cm, rộng 28cm có khắc chìm một bài văn chữ Hán với nội dung cụ thể như sau:
Bia đá chùa Hông Khê (Ảnh Yến Thọ)
Phiên âm:
Nam mô phật:
Quảng Trị Hồng Khê cổ hữu tự, viết Hồng Ân. Kỳ chế lậu ấm, dĩ mao phong chàng vũ hám. Cái dĩ hữu niên hương nhân mưu tân chi lũ bất quả. Hữu Lê Thị Chiêu giả, Ái Châu nhân dã, nghệ kỳ tự hâm thiện quả phát, bà tâm nguyện vị hương nhân quyên ti trợ chi. Viên sùng kỳ đống vũ dịch dĩ ngoả chuyên, duyệt nghị chu nhi công tất. Kim lạc thành, hương nhân đức thị chi tuyên, nhân yêu thị chi thân hậu dữ thị chi song thân tuế thời tòng tự. Thiểu dĩ đáp thù, tương bi chi trưng văn. Ư dư phù tự phế nhi hưng, tích nhân sở khái, mao dịch nhi ngoã, hà sự ư ngôn. Tuy nhiên, thiên hạ chi vật mạc bất hữu sổ tồn yên. Hương chi hữu tự phi nhất nhật mưu chi giả, phi nhất triêu nhi đại thành chi, nãi tại ư kim nhật. Ý giã, thiên bất niên dĩ tiền, kỳ tương hữu sở tự khải phồn thị chi tích. Tuy lưu ư thiền nhi kỳ tâm tắc bản ư hiếu thiện, hiếu thiện quân tử chi sở thủ dã. Hương nhân nhân dĩ vi báo diệt lạc kiến. Kỳ tục chi vi mỹ, thị khả thư dã. Nhược phù thụ điểu táo kinh giang ngư thính hát, triêu chung mộ đạc điểm tỉnh trần tâm, giai tự gian vô cùng chi cảnh trí. Cố bất thăng kí hĩ. Đãn thuật kỳ sự hựu vi chi minh viết:
Hồng Ân chi tự, cổ tại Hồng Khê, viễn sơn cận mộc, tự dĩ nhân hưng, hữu dĩ tự đề , phỉ kim y tích, hoàn nhiễu đông tây, thuỳ bất hủ hề.
Thiệu Trị tam niên quý hạ nguyệt thượng hoán thự thương tràng tự thị lang mụ sầm Nguyễn Giới Như ký.
Dịch nghĩa:
Làng Hồng Khê tỉnh Quảng Trị xưa có một ngôi chùa gọi là Hồng Ân, chùa còn nhỏ hẹp, lợp bằng tranh để che mưa nắng. Trải qua nhiều năm, nhân dân nhiều lần muốn làm mới nhưng không có kết quả. Có người phụ nữ tên là Lê Thị Chiêu, người Ái Châu đến chùa cầu thiện, bà phát lòng từ bi nguyện vì dân làng mà quyên góp tiền của để giúp đỡ xây dựng lại chùa. Chùa được trùng tu lại, thay bằng gạch ngói. Hơn hai tháng thì hoàn công. Ngày khánh thành chùa mới, dân làng ngưỡng mộ công đức của bà nên sau khi bà mất đã mời khánh vị của bà và song thân bà vào chùa để phụng thờ cùng năm tháng, mong tỏ chút lòng đền đáp công ơn đối với bà, khắc vào bia để mà ghi nhớ. Ôi! chùa đã bị bỏ đi rồi được làm lại mới, người xưa ngậm ngùi thay vì việc đó. Tranh tre mà được thay bằng gạch ngói, chẳng biết nên nói sao đây. Tuy nhiên, vật chất trong thiên hạ, không có cái gì là tồn tại mãi mãi. Làng có được một ngôi chùa, không phải một ngày mà mưu toan được; cũng chẳng phải một sớm mà hoàn thành ngay như ngày hôm nay. Cái ý đó, hàng trăm nghìn năm về trước đã mong có dấu tích của bà để mở mang sự phồn thịnh. Dù rằng đạo Phật ở cửa Thiền mà trong lòng luôn yêu thích điều thiện, việc yêu thích điều thiện thì người quân tử đã luôn thủ sẵn vậy. Người trong làng nhân vì việc báo đáp cũng thấy vui mừng. Đó là phong tục tốt đẹp có thể ghi chép lại. Ví bằng chim hát trên cây, cá nghe dưới nước, sớm chuông tối mỏ, thức tỉnh lòng người trong trần thế, đều do cảnh trí không cùng trong nhà chùa, chẳng thể ghi chép nổi vậy. Chỉ thuật lại những việc đó để khắc vào bia rằng: Chùa Hồng Ân, xưa là Hồng Khê, xa xa là núi ở gần là cây, chùa làm cho con người hưng khởi, tên chùa được nêu lên, chẳng phải nay mà đã có từ xưa, vòng khắp đông tây, sáng mãi không mờ.
Bia được dựng vào thượng tuần tháng 6 cuối mùa hạ, niên hiệu Thiệu Trị năm thứ 3 (1843) Nguyễn Giới Như ký.
* Tấm bia thứ hai cao 64cm, rộng 33,5cm. Trán bia trang trí hoa văn “Lưỡng long triều nhật”, hai bên và phía dưới bia trang trí hình dây lá hoá long. Lòng bia cao 55,5cm rộng 25cm, có nội dung chữ Hán như sau:
Bia đá chùa Hông Khê (Ảnh Yến Thọ)
Phiên âm:
Ngô hương hữu tự cựu viết Hồng Khê, cái dĩ nguyên xã danh, danh chi dã diệc viết Hồng Ân. Cổ cái dĩ mao, Thiệu Trị tam niên thuỷ dịch dĩ ngoã. Kỳ lai lịch dĩ lặc chi tiền bi. Tự nguyên toạ quý hướng đinh kiêm sửu mùi. Tự chính đường chi tiền hữu tiền đường nhất kinh. Ngũ thập dư niên nhật thậm kỳ….hủ. Ngô hương điền địa thiểu kiệm vu tài, kỳ thế bất năng, nhưng cựu bổ tập. Thành Thái tứ niên đại tập thương nghị các triệu hạ tỉnh tiền đường dĩ đống bổ hậu chính đường nhi tăng quảng chi. Ư thị đồng hương thượng hạ liễm cúng khẩu phần điền hứa tá tam niên thủ tiền dữ tuỳ lực tăng cúng giả cận thiên ngũ bách mân. Dĩ thời trị cổ phí thượng thậm khuyết yên. Nhưng uỷ nguyên hương mục kim hiện thị sự Hoàng Hữu Tuệ chuyên đổng kỳ sự. Dĩ khứ niên xuân trọng khởi công. Cai hương mục am ư công gia thực tòng sự. Phàm sự dữ viên giả lý dịch hiệp thương nhi lao khổ, tắc thân tiên chi. Mộc tiết trúc đầu các thích sở dụng. Bình kỳ cố dịch nhân lạc phó chi. Tài sổ nguyệt gian công thuân, kỳ quy chế vị trí. Cập tăng chế sàng kỉ tự khí. Giảo tiền phả vi hoàn. Lịch bị công phí chỉ thử số nhi các túc yên. Lạc chi nhật hương nhân giai thiện chi. Viên chúc trí tài Lê Cảnh Hoán lược thuật dĩ kí kỳ sự. Chí như chư tăng cúng ngân tiền hoặc tài bản túc mễ trừ trị bất cập tam thập mân giả. Lánh tồn bộ dư tự tam thập mân dĩ thượng giả, diệc tính liệt vu bi hậu dĩ biểu chi thời.
Thành Thái lục niên Giáp Ngọ quý hạ trung hoán Bích Khê bổn xã đồng cẩn kí.
Dịch nghĩa:
Làng ta có một ngôi chùa xưa gọi là Hồng Khê, đó vốn là tên gọi của làng, cũng còn gọi là Hồng Ân. Xưa chùa lợp bằng tranh, Năm Thiệu Trị Thứ 3 (1843) thì thay bằng ngói. Gốc tích lai lịch của chùa đã được khắc vào trước bia. Chùa vốn toạ quý hướng đinh và sửu mùi. Trước chính đường của chùa có một gian tiền đường. Trải qua hơn 50 năm đã bị hư hại. Ruộng đất trong làng vốn ít ỏi, tiền bạc sức lực lại thiếu, không đủ khả năng để tu sửa, cho nên cứ để như vậy. Đến năm Thành Thái thứ 4 (1892), trải qua một cuộc hội họp bàn bạc lớn đều đi đến thống nhất chung là tháo dỡ tiền đường để tu bổ phần chính đường thêm rộng rãi. Từ đó tất cả dân làng đều góp ruộng khẩu phần cho thuê 3 năm để lấy tiền, cùng với tiền cúng hàng năm chỉ được 1.500 quan. Khi đó, xét thấy kinh phí còn thiếu nhiều nhưng vẫn giao phó cho hương mục Hoàng Hữu Tuệ đảm trách việc coi sóc quá trình xây dựng chùa. Giữa mùa xuân năm trước thì bắt đầu khởi công. Hương mục thấu hiểu được sự khó khăn chung nên đã hết lòng vì công việc. Ông cùng với lý dịch bàn bạc mọi việc và cùng chịu khó nhọc gánh vác công việc. Thống nhất thuê người làm và mọi người đều vui vẻ đến. Vừa được mấy tháng thì công việc hoàn tất, định ra quy chế vị trí. Liền đóng thêm giường ghế, đồ thờ tự. So với trước thì cũng vẹn toàn chu tất. Chi phí cũng vừa đủ. Ngày khánh thành mọi người đều khen. Bèn dặn dò tú tài Lê Cảnh Hoán làm chúc thư để ghi lại ngắn gọn sự việc đó. Đến như các chư tăng cúng tiền bạc hoặc gỗ ván, lúa gạo tính thành tiền được 30 quan, riêng còn lại trong sổ sách từ 30 trở lên, cũng biệt vào bia để biểu dương về sau.
Bia được lập vào trung tuần cuối mùa hạ Giáp Ngọ niên hiệu Thành Thái năm thứ 6 (1894). Nhân dân Bích Khê kính cẩn ghi nhớ!
Qua nội dung hai tấm bia đã cung cấp cho chúng ta nhiều dữ liệu quan trọng và có ý nghĩa gắn liền với lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của chùa Hồng Khê. Trước hết, nó phản ánh quá trình xây dựng và những lần trùng tu lại chùa qua các giai đoạn từ lúc sơ khai cho đến cuối thế kỷ XIX. Mặt khác, văn bia còn đề cập đến công lao của những người đã từng đóng góp tiền của và tâm huyết của mình đối với chùa. Nội dung văn bia còn thể hiện tinh thần mộ đạo và lòng hướng thiện của dân làng Bích Khê trong quá khứ. Vượt qua khó khăn gian khổ họ vẫn một lòng hướng về đạo Phật với ước mong nguyện cầu cho cuộc sống luôn tốt đẹp hạnh phúc. Sự tồn tại của hai tấm bia này còn là một minh chứng rõ rệt cho quá trình tồn tại và phát triển của Phật giáo trên vùng đất Triệu Phong – Quảng Trị trong lịch sử. Về chất liệu, kiểu dáng và những đường nét trang trí được thể hiện trên hai tấm bia còn cho thấy sự phát triển rực rỡ của nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn lúc bấy giờ.
Trải qua thời gian, cùng với sự thăng trầm của lịch sử xã hội và sự tàn phá nặng nề của thiên tai, chùa Hồng Khê được trùng tu tôn tạo không biết bao lần. Và cho đến hôm nay diện mạo của chùa đã đổi thay khang trang bề thế hơn trước rất nhiều, trở thành chùa của khuôn hội, là nơi sinh hoạt Phật giáo của làng Bích Khê và cả nhân dân trong vùng. Có thể nói rằng, hai tấm bia đá còn lại cho đến ngày nay là hai hiện vật có ý nghĩa rất lớn về mặt khoa học và lịch sử cần được bảo tồn và phát huy giá trị, góp phần giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của nhân dân Bích Khê nói riêng và vùng đất Triệu Phong – Quảng Trị nói chung.
Trịnh Cao Nguyên ( https://trungtamquanlyditichvabaotangquangtri.vn/baotang/)

Chùa Hồng Khê được trùng tu năm 1999.
Bài 5
Văn bia Đàn Nghĩa Trủng do nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường phụng soạn.
- ( Lưu ý: Từ Hán Việt : Trủng nghĩa là khu mồ mả –phải viết với dầu hỏi.Viết với dấu ngã là sai chính tả )
Ngày xuân về viếng
ĐÀN NGHĨA TRỦNG
– nghĩa trang liệt sĩ đầu tiên của Việt Nam
Bằng công nhận Đàn NGHĨA TRỦNG là di sản văn hóa cấp Tỉnh-Thành Phố.
HOÀNG HỮU QUYẾT (Đ 17)
05/02/2022, 11:11
Nghĩa Trủng đàn là tên gọi của một nghĩa trang được xây dựng vào năm 1872 do ngài Hoàng Hữu Lợi, tước Trung nghị đại phu Phó Đô ngự sử, tiền nhân đời 12 của Hoàng tộc, làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị lập. Đây là nghĩa trang liệt sĩ đầu tiên của Việt Nam – nhà sử học Phan Huy Lê và nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khẳng định như vậy khi nhắc nhớ về Nghĩa Trủng đàn.
- Nghĩa trang liệt sĩ đầu tiên của Việt Nam.
Chúng tôi về đúng ngày những người con, cháu họ Hoàng đang tổ chức cúng Nghĩa Trủng đàn như thường niên. Gặp lại tôi, những bậc bề trên ôm choàng lấy tôi mừng rỡ, rồi những câu chuyện rôm rả, sau đó chúng tôi đi thắp hương từng nơi, nhìn hương khói nghi ngút, những mâm đồ cúng chỉn chu, trang nghiêm lòng mình thấy ấm lại, Nhìn các mộ phần, bia, nhà thờ phụng vừa được sơn lại vôi, vẫn còn mới tinh, một số vật liệu đã được tập kết về đây chuẩn bị trùng tu lại trên phần đất Nghĩa Trủng đàn.
Dù ở giai đoạn lịch sử nào đi nữa thì người lính vị quốc vong thân khi ra chiến trận giữ gìn đất nước, hẳn xứng đáng được người đời xưng danh là liệt sĩ. Và ai biết đến Nghĩa Trủng – nơi yên nghỉ của hơn 600 người lính Tây Sơn áo vải cờ đào theo Nguyễn Huệ ra Bắc chinh phạt quân Thanh – hẳn sẽ không tiếc lời gợi nhớ.
- Dấu tích xưa cũ
Vào đầu những năm 1870 triều Nguyễn trị vì đất nước, Trung nghị đại phu Phó đô ngự sử Hoàng Hữu Lợi, đời thứ 12 của Hoàng tộc ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị nhiều lần tuần thăm vùng dọc sông Thạch Hãn.
Ông chứng kiến nhiều mả mồ vô chủ trên các biền bãi và bị lũ quét trơ cả cốt hài, vị quan này đã thấy dâng lòng trắc ẩn. Năm 1872 (năm Tự Đức thứ 25), ông mở lòng từ tâm bỏ tiền của ra mua 7 sào đất ruộng của dân làng Thạch Hãn, cắt lại 3 sào khai lập một nghĩa trang để quy táng lại các hài cốt “âm hồn” ấy. Rồi các lượt lưu dân trong hành trình Nam tiến theo Chúa Nguyễn, không may gặp kiếp nạn, thác xác thân nơi gốc tre, bãi cỏ triền sông Thạch Hãn cũng được con cháu họ Hoàng quy tụ về đây. Nghĩa Trủng đã bắt nguồn từ đó…
Trưởng tử của Hoàng Hữu Lợi là Hiệp biện Đại học sĩ Hoàng Hữu Xứng, khi làm quan Tuần vũ Hà Nội, hành hạt quanh thành Thăng Long lại gặp di chỉ của lớp lớp mộ hoang không ai thờ tự. Ông liền diện vấn các kỳ lão trong vùng mới ngộ ra, đó là cốt này của nghĩa quân Tây Sơn miền Thuận Quảng (Huế – Quảng Trị ngày nay) đã ngã xuống khi theo Nguyễn Huệ ra Bắc chinh phạt giặc Thanh xâm lược vào mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789.
Hiệp biện Hoàng Hữu Xứng chợt nghĩ ra rằng, nắm xương tàn giặc quân Thanh chết trên chiến trận nước Nam khi mưu đồ xâm lược còn được quy táng thành gò Đống Đa, huống chi là di hài của các chiến sĩ đã vì nước quên mình? Ông bèn thuê người thu tập được hơn 600 bộ hài cốt, rồi cho ghe bầu đưa các vong linh từ đất Bắc ngược trở về đất mẹ quê hương xứ sở, cải táng ở Nghĩa Trủng.Ngài Hoàng Hữu Xứng Xứng còn bỏ công cất dựng Nghĩa Trủng khang trang hơn với chiều dài 70m, rộng 17m, cao 1m so với mặt đất ruộng, quây thành bao bọc và xây thêm đàn Nghĩa Trũng để thờ cúng các vong linh. Và đến đây, Nghĩa Trủng đã thành một nghĩa trang đặc biệt – chốn yên nghỉ của hơn nghìn vong linh bơ vơ trong đất trời. Và hơn phân nửa số đó, là xác thân những liệt sĩ không biết tên của đoàn quân Tây Sơn áo vải cờ đào.
Cứ 25 tháng Chạp Âm lịch hàng năm, một lễ tế trang trọng sẽ được tổ chức tại Nghĩa Trủng, quan lớn địa phương là chủ tế, cùng các con cháu Hoàng tộc. Đến đời Thành Thái, nghĩa trang này được đưa vào quy chế quốc gia, ban ruộng, miễn thuế sưu để người làng tận tâm chăm lo hương tự…
- Vùng đất thăng trầm… trải qua nhiều cuộc chiến
Lịch sử đã ngẫu nhiên hay sắp đặt mà đất Quảng Trị luôn là nơi để liệt sĩ chọn chốn nằm lại? Trăm năm sau, ngay trên vùng đất lập Nghĩa Trủng, xảy ra cuộc chiến ròng rã 81 ngày đêm – trận chiến khốc liệt mà oai hùng của quân ta đánh Mỹ, Thành cổ Quảng Trị – mùa hè rực lửa 1972. Trận chiến ấy đã phá nát Thành cổ và thị xã Quảng Trị thành đống bình địa hoang tàn. Nghĩa Trũng cũng không là ngoại lệ…
Hòa bình lập lại, cái khoảnh đất vùi xương cốt ngàn sinh linh ấy bị người đời quên lãng. Cụ Phạm Bá Khanh (86 tuổi), một trong những lão làng Thạch Hãn hiếm hoi còn biết về Nghĩa Trũng, kể rằng: “Phong trào hợp tác hóa, ủi san đất khai điền và cái gò đất này cũng không ngoại lệ, nhưng cứ bao lần xe xích, xe ủi chĩa máng vào Nghĩa Trủng là… chết máy, nằm ì ra”.
Đám tài xế hoảng quá, hỏi kỳ lão trong làng mới biết là nơi an táng những nắm xương bạc mệnh. Thời cuộc xây dựng quê hương, những điều mê tín dị đoan đã không còn có chỗ đứng, nhưng may mắn, hàng chục lần máy móc vào mà không thể biến Nghĩa Trũng thành đất cấy cày của hợp tác xã.
Mãi năm 1996, tất thảy con cháu Hoàng tộc bôn ba khắp mọi miền lại góp sức qua hai đợt trùng tu, hoàn tất ngày 26/08. Tấm văn bia Nghĩa Trũng do nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, dòng dõi họ Hoàng đời thứ 16 chấp bút, có đoạn: “Tìm một mảnh đất để nắm xương lạc loài có chỗ quy về, ấy là đạo lý của người sống đối với những sinh linh bất hạnh đã khuất. Nghĩa Trũng đàn được lập nên là bởi điều nhân dù nhỏ nhưng không thể không làm vậy”…
Từ năm 2002 – 2011, Nghĩa Trủng lại được tu bổ thêm 03 lần để khu thờ tự khang trang, ấm cúng hơn. Ngày 16/12/2010, UBND tỉnh Quảng Trị công nhận Nghĩa Trũng là di tích lịch sử cấp tỉnh. Tháng 7 tri ân, nườm nượp khách về tưởng niệm Thành cổ, Nghĩa trang Đường 09, Trường Sơn… Nhưng chẳng mấy ai biết rằng, còn đó Nghĩa Trủng nơi góc làng Thạch Hãn là một nghĩa trang quốc gia của những nghĩa binh áo vải cờ đào và đến bây giờ cũng chỉ do một dòng họ lo chăm hương khói.
Lần sau cùng ,nhờ sự tài trợ lớn của ông Hoàng Kiều (Đ.15),doanh nhân,tỉ phú Việt Kiều,Đàn Nghĩa Trủng đã được mở rộng,nâng cấp để có một diện mạo xứng tầm di tích lịch sử như ngày nay.
Đứng từ Nghĩa Trủng nhìn về hướng làng xóm, cánh đồng quê yên bình, chúng tôi tin có một phần cốt hài của những liệt sĩ đã vị quốc vong thân 03 trăm năm trước đã hòa theo dòng phù sa sông Hãn về tưới tắm cho những cánh đồng, những làng quê trù phú. Dẫu biết đã qua mấy trăm năm dâu bể, thêm mấy mươi năm bom đạn chiến tranh muôn phần tàn phá, dẫu biết không gì vĩnh cửu trước thời gian, nhưng nhìn Nghĩa Trủng có phần cô quạnh và ít người lai vãng, chợt buồn thấy chạnh lòng trách hậu thế đã hững hờ…
Lần này tôi trở lại Nghĩa Trủng đã được trùng tu lại, khá đẹp, khang trang hơn mọi năm trước đây, lòng mình thấy ấm lại khi mùa xuân đang về trên quê hương Quảng Trị quê tôi…

Nhà báo HOÀNG HỮU QUYẾT
Nội dung văn bia NGHĨA TRỦNG
“Tìm một mảnh đất để nắm xương lạc loài có chỗ qui về, ấy là đạo lý của người sống đối với sinh linh bất hạnh đã khuất. Nghĩa Trủng này được lập nên là bởi điều Nhân dù nhỏ không thể không làm vậy.
Vị sáng lập Nghĩa Trủng là Ngài Hoàng Hữu Lợi, tước Trung Nghị Đại Phu Phó Đô Ngự Sử, tiền nhân đời 12 của Hoàng Tộc làng Bích Khê, Quảng Trị. Nguyên thường năm chứng kiến nhiều mộ phần vô chủ dọc sông Thạch Hãn bị lũ lụt xói lở rất thương tâm, Ngài cùng phu nhân liền phát nguyện, mua khu đất này của làng Thạch Hãn làm nơi qui táng. Nghĩa Trủng được kiến lập năm Tự Đức thứ 25 (1872).
- Trưởng nam Ngài Hữu Lợi là Hiệp Biện Đại Học Sĩ Hoàng Hữu Xứng, thời làm Tuần phủ Hà Nội, nhân thấy nhiều di chỉ mộ hoang ở vùng quản hạt hỏi kỳ lão được biết đều là của nghĩa quân Tây Sơn hồi chinh phạt quân Thanh. Thiết nghĩ, đến xương tàn của giặc còn được qui tán thành gò, huống đây là di hài của các chiến sĩ vì nước quên mình, bèn thu tập đưa về an táng ở Nghĩa Trũng này. Trước sau, Nghĩa Trủng là nơi yên nghỉ của hơn nghìn vong linh vốn dĩ bơ vơ trong trời đất, hơn phân nửa lại là liệt sĩ vô danh của đoàn quân áo vải cờ đào.
- Thời vua Nguyễn, Nghĩa Trủng được ban hưởng qui chế quốc gia, do chính quyền tỉnh Quảng Trị đảm nhiệm, cấp ruộng tự điền, miễn sưu, phong hàm cho những người trực tiếp coi sóc. Các Tuần phủ sở tại như Lê Từ, Đào Thái Hanh hàng năm từng đến chư tế. Nội tộc họ Hoàng nối đời chăm việc khói hương.
Vào năm 1972, Nghĩa Trủng bị đổ nát. Con cháu họ Hoàng trong nước và hải ngoại chung góp tài lực lo việc tái thiết, thêm công đức của kỳ lão và hương dân Thạch Hãn, Nghĩa Trũng được trùng tu qua hai đợt, hoàn tất vao ngày 26 – 8 – 1996.
Tổ tiên ươm trồng, hậu bối từng ngày vun đắp, để cây Đức mãi mãi xanh tươi. Đó là nghiêm huấn của các tiên hiền đao lao khổ dựng nghiệp nơi quê hương linh kiệt. Con cháu Hoàng tộc khắc cốt mang theo dù phải sống ly hương khắp bốn phương trời.”
Tiết Đông Chí năm Bính Tý – 1996
Hoàng tộc Bích Khê cẩn chí
Phụng soạn văn bia!
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
Đời thứ 16


Toàn cảnh Đàn NGHĨA TRỦNG sau đợt trùng tu nâng cấp năm 2022
Bài 6
CON SÔNG QUÊ HƯƠNG
và CÂY CẦU NỐI NHỊP BỜ VUI
LÊ THỊ THU THANH
“Quê tôi ai cũng có một dòng sông bên nhà. Con sông quê gắn bó với tuổi thơ đời tôi. Bao năm xa quê ấy trong mơ tôi vẫn thấy. Hôm nay tôi trở về lòng chợt vui thấy sông không già…” (Bài hát “Trở về dòng sông tuổi thơ”, nhạc sĩ Hoàng Hiệp).
Nước Việt Nam vốn lắm sông nhiều suối, hình ảnh “con đò nhỏ, êm đềm khua nước ven sông” đã ăn sâu vào tiềm thức người Việt đến thành định nghĩa quê hương. Ai cũng có một dòng sông để mà thương mà nhớ, để tìm về ký ức tuổi thơ. Và tôi cũng vậy, ký ức tuổi thơ tôi gắn liền với dòng Sông Thạch Hãn êm đềm. Về với quê hương, thả hồn mình xuống dòng sông Thạch là vơi đi những nhọc nhằn vất vả, tạm quên đi những lo toan đời thường thấy tâm hồn thanh thản biết nhường nào. Bởi sông quê đã tưới tắm cho tâm hồn tôi, như dòng sữa mẹ ngọt lành nuôi tôi khôn lớn và chắp cánh cho những ước mơ, hoài bão được bay cao, bay xa. Tôi yêu sông và yêu đến thiết tha một bãi sông nằm soải dài phơi mình trong nắng gió đồng nội.
Sông THẠCH HÃN

Nhà tôi ở ngay làng Bích Khê có con sông Thạch Hãn uốn mình qua làng. Theo sử sách Sông Thạch Hãn là con sông dài và đẹp nhất tỉnh Quảng Trị. Sông bắt nguồn từ phía Đông dãy Trường Sơn ở phía Tây Nam của tỉnh. Dòng sông uốn lượn từ hướng Đông và Đông Bắc rồi đỗ ra biển Cửa Việt. Thời nhà Nguyễn, vua Minh Mạng đã chọn sông Thạch Hãn là một trong 9 thắng cảnh của đất nước để đúc vào Cửu Đinh bày ở sân rồng coi như quốc bảo. Vì thế ở Quảng Trị xưa đã có câu ca dao:
“Chẳng thơm cũng thể hương dàn
Chẳng trong cũng nước nguồn Hàn ( 1) chảy ra”
Quê tôi Bích Khê nằm dọc theo triền sông Thạch Hãn thơ mộng. Đây là con sông có dòng chảy quanh co khúc khuỷu, gây nên tình trạng bên lở bên bồi từ bao đời nay. Đáng thương thương thay! Quê tôi – làng Bích Khê (2) lại ở bên lở. Trước đây, cứ đến mùa mưa lũ kéo về thì phần đất bên bờ sông phía làng Bích Khê bị sạt lở đến bốn, năm mét. Đất ấy bồi vào bên kia bờ – làng Trung Kiên (3) xã Triệu Thượng làm cho làng này càng ngày càng rộng hơn mà diện tích làng tôi thì ngày càng bị thu hẹp lại, người dân mất dần đất canh tác. Tình trạng này đã xẩy ra từ hằng trăm năm trước. Do đó những ngôi nhà gần bờ sông đều di cư đi nơi khác, tìm chỗ an toàn hơn. Đất đai của làng tôi phần lớn nằm lại bên kia sông phần đất Trung Kiên, tôi không còn cách nào để tìm lại cột mốc định giới phần đất quê xưa mà các cụ họ Hoàng Bích Khê là Hoàng Hữu Bỉnh cùng các ông Nghè Đàn, Ấm Cảnh, Đội Xán, Xạ Vỹ đã từng tốn bao tâm huyết đấu tranh giành lại cho làng và đạt kết quả. Vì vậy Ngài Thái thường Tự Khanh Hoàng Hữu Bỉnh đã làm bài thơ nhân thắng vụ kiện đất làng Bích Khê bị lỡ và bồi qua làng Trung Kiên:
“Trải nửa năm trăm mới hội đồng
Ấy ai làm chủ có ai không?
Non sông chống lại thuyền trên nước,
Sóng gió ghê chưa cột giữa dòng!
Hai phía lở, bồi cơ tạo hóa,
Ngàn năm gìn giữ nghiệp Cha Ông
Khi nên trời cũng chiều người vậy
Hết rũi thời may thấy lẽ công. (4)
Cùng với cột mốc ranh giới của làng thì dòng sông cũng đã xoá đi nhiều dấu tích kỷ niệm thân thương của bao thế hệ, làm biến đổi cơ bản hình dạng địa giới nguyên thuỷ của làng. Những cái tên thân quen như: Bến Đò Ông Cổ, Bến Tranh, Bến Máy, Rào Bại, Miếu Bà, Giếng Cây Sanh… tất cả chỉ còn trong tiềm thức. Để rồi mỗi lần nhìn sang bên kia sông, cả một bãi phù sa bạt ngàn màu mỡ mà lòng thấy xót xa, tiếc nuối vô cùng. Nếu ai từng được sinh ra và lớn lên ở làng Bích Khê, sẽ thấy ngay sự dâu bể mà thiên nhiên đã gây ra ở nơi này. Vì thế có người đã cảm tác viết nên rằng:
“Giếng xưa chừ đã chìm sông
Mai sau về lại: một dòng sông xuôi…
Mai sau nữa – đến phiên người,
Cũng theo dòng chảy về nơi mịt mù” (5)
“Bao giờ giếng gạch qua sông
Thì dân làng Bích gánh gồng thiên cư”. (6)
Sau năm 1975, người dân làng Bích Khê cũng qua bên kia sông canh tác trên phần đất của làng. Nhưng do cách trở đò ngang, buộc phải đi vòng bằng đường bộ rất khó khăn mới qua bên kia sông nên dần dần họ bỏ đất không canh tác nữa. Theo thời gian đất ấy giờ thuộc làng Trung Kiên, Triệu Thượng.
Bến Sông Thạch còn là nơi chứng kiến biết bao sinh hoạt cuộc sống của làng tôi. Nội tôi bảo con sông này, ngày xưa có bến nước dân làng tôi thường ra gánh nước và giặt giũ, hò vè đối đáp giữa trăng thanh. Những câu chuyện tình đẹp hay man mác buồn trên bến nước này đã để lại những hình ảnh thân thương, ký ức đẹp trong lòng mỗi người. Nhưng do sự sạt lở nên bến nước này không còn nữa. Điều này đã trở thành ký ức của nhiều người trong đó có nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, người con của làng quê tôi đã viết nên rằng:
“Đường xưa lối cũ, có ánh trăng, ánh trăng soi đường đi
Đường xưa lối cũ, có tiếng ca, tiếng ca trên sông dài…”
Cũng như bà nội tôi, con sông Thạch đã trở thành một người bạn tâm giao của tôi suốt cả thời thơ ấu. Nước sông Thạch Hãn quê tôi trong xanh mát lạnh. Mùa hè, chúng tôi thường đi tắm sông. Cả bọn tha hồ bơi lội, quẫy đạp lung tung tiếng cười đùa lanh lảnh giữa làn nước xanh khấy động cả một khúc sông chiều. Xa xa, những chiếc thuyền đánh cá đang buông chài, tung lưới. Giữa sông những chiếc xà lan chở đầy cát vàng đang lừ lừ chạy. Tiếng động cơ nổ vang dội cả hai bờ.
Chiều ngang của dòng sông Thạch rất rộng, muốn qua lại chỉ có một phương tiện duy nhất là đi đò. Nhưng đó cũng là việc bất đắc dĩ khi không còn cách nào khác. Ngày xưa khi đưa dâu về nhà chồng ở bên kia sông thì cũng bằng phương tiện “thuyền hoa”, chứ không có “xe hoa” như bây giờ. Vì thế nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã viết nên nhạc phẩm nổi tiếng “Đưa em xuống thuyền”:
“Đưa em xuống thuyền, ối a
Đưa em xuống thuyền
ngày quê hương yên vui, gió trên trời chim đưa lời
họ hàng em tiễn em thuyền hoa
đưa đời em đến nơi êm đềm”.
Con sông này còn in dấu bến đò ngang, xưa kia cách trở bởi một chuyến đò ngang, cắt chia dòng sông làm hai bờ thương nhớ. Đứng bên ni sông là làng tôi, ngó qua bên kia sông là làng Trung Kiên, bến đò ngang ấy vẫn là ấn tượng khó có thể nhòa phai trong kí ức. Ở đó có O lái đò nhỏ nhắn với chiếc thuyền cũ kĩ nhuộm màu mưa nắng, cứ buộc hờ bên dưới gốc cây si cổ thụ, lầm lũi ngày đêm chèo thuyền đưa khách qua sông rồi chở khách quay về. Những chuyến đò khách qua sông cứ đều đều. Bóng O lái đò trên chiếc thuyền con, neo dưới gốc cây si cũng già cỗi theo thời gian.
Tôi nhớ những lần qua chuyến đò ngang, lóc cóc chạy theo bà nội để được sang bên kia chùa Xuân An (7) cầu kinh lễ phật. Mỗi lần sang sông bà xách nào làn bánh, nào hương hoa. Ngồi trên đò ngắm cảnh vật trên sông như một bức tranh thủy mặc, đậm chất thơ mà không thể nào tôi quên được. Bao nhiêu năm bến đò ngang vẫn còn đó. Chiều nay ra đứng bờ sông thấy chiếc đò ngang nào đang trôi giữa dòng sông Thạch Hãn, dáng ai lái đò giữa dòng nước trong xanh làm tôi chạnh nhớ về O lái đò năm xưa đến nao lòng, O còn không hay đã trôi về dĩ vãng?. Lại một tiếng gọi “đò ơi! cho qua bên sông với” gợi cho tôi tìm thấy sự dịu mát, trong lành, yên ả. Bởi dòng sông vẫn chảy, vẫn chứa đầy những kỷ niệm đẹp mà tôi đã sinh ra và lớn lên bên cạnh dòng sông quê gần gũi, yêu thương và gắn bó. Bây giờ ngoảnh lại, sông Thạch Hãn sao mà thân thương quá đổi. Dòng sông cứ lặng lẽ trôi theo thời gian và tôi cũng dần dần lớn lên theo sự lặng lẽ đó.
Theo thời gian tôi trở thành một thiếu nữ biết yêu và biết rung động, sông Thạch Hãn chính là nhân chứng tình yêu mối tình đầu của tôi. Ngày đó 2 đứa ngồi uống café bên bờ nam sông Thạch Hãn, dưới gốc cây bàng anh cầm nắm tay tôi và nói “Quê hương em có con sông rất đẹp và thơ mộng quá! Giá như có thêm cây cầu nối đôi bờ thì càng đẹp hơn”. Tôi nhìn anh cười và thầm ước mơ như thế. Và rồi cây cầu mà anh nói năm xưa giờ đã thành hiện thực, cây cầu ấy mang tên Thành Cổ rất dài và đẹp. Chỉ tiếc rằng cả anh và em không đi chung nhịp cầu ấy, mỗi lần bước đi trên cây cầu Thành Cổ biết bao kỷ niệm tình yêu chợt ùa về. Mối tình đầu thuở ấy giờ đã theo dòng sông Thạch trôi vào dĩ vãng. Anh còn nhớ chăng?

Cầu HIỀN LƯƠNG thời đất nước chia cắt.

Cầu Thành cổTrở lại với cầu Thành Cổ, cầu được khánh thành vào đúng dịp kỷ niệm 70 năm ngày thương binh liệt sĩ. Cây cầu như một món quà tri ân các anh hùng liệt sĩ và tặng cho nhân dân Quảng Trị từng hứng chịu nhiều mất mát đau thương. Sở sĩ đặt tên cầu Thành Cổ, theo tôi được biết ngày ấy Quảng Trị là chiến trường ác liệt trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam. Đặc biệt là mùa hè đỏ lửa năm 1972, hàng vạn chiến sĩ cùng với du kích đã vượt sông Thạch Hãn vào tiếp ứng cho mặt trận Thành Cổ. Nhưng những người con vĩ đại của đất nước đã vĩnh viễn nằm lại dưới đáy sông này trước bom đạn của kẻ thù. Máu của các anh đã thấm đẫm lên từng nhành cây, ngọn cỏ, hòa vào dòng chảy của sông, để rồi Sông Thạch Hãn tự hào mang trong mình là “Dòng sông hoa lửa”.
Trái tim tôi không khỏi bồi hồi xúc động với sự ngưỡng mộ về những người con quả cảm đã ngã xuống trong cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc. Tôi lặng người đi, kính cẩn nghiêng mình trước vong linh các anh. Nhưng Tổ quốc sẽ không quên các anh, nhân dân sẽ không quên các anh dù khúc tưởng niệm chỉ có thể diễn ra bằng một nghi thức giản dị đó là lễ hội thả đèn, thả hoa trên sông Thạch Hãn vào các ngày rằm và lễ lớn của dân tộc để tưởng niệm những người đã nằm lại Thành Cổ trong 81 ngày đêm. Những ngọn lửa nến kết trên bè chuối cùng với hương hoa và đèn hoa đăng thả xuống dòng sông. Những ánh nến lung linh chao trên sông, những con người trao hơi ấm trên sông. Tôi cảm nhận được bước chân nhè nhẹ của từng người khách vào đây. Họ nâng niu từng nhành hoa, khoát nhẹ làn nước, vỗ nhẹ mái chèo ra giữa dòng, lặng lẽ thả từng đoá hoa và ngọn nến xuôi theo dòng nước, không nói một lời như tránh làm lay động không gian. Tất cả trong tĩnh lặng khiến tôi chợt nhớ đến 4 câu thơ của cựu chiến binh Lê Bá Dương:
“Đò xuôi Thạch Hãn ơi… chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi đôi mươi hòa sông nước
Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm”.

Thả hoa cho liệt sĩ
Thạch Hãn ngày ngày vẫn đón ngàn hoa, ghi nhận nghĩa cử tri ân của những tấm lòng thành kính. Sông vẫn chảy như suối nguồn bất tận, hoa vẫn trôi như dòng chảy trong tâm thức mỗi chúng ta, đất nước luôn bên anh. Chiều buông nhanh và đoàn người xa dần. Tất cả chỉ là sự tỉnh tại của thời gian và sóng gợn trên sông.
Con sông Thạch quê tôi là như thế đó. Nó đã trở thành ký ức, là niềm vui, là nỗi buồn của những người con Quảng Trị muốn tìm về kỷ niệm đẹp đẽ những tháng năm xưa. Không những thế, nó còn là điểm đến hoài niệm về chiến trường xưa và đồng đội cho những ai ghé đến Thành Cổ Quảng Trị một thời hoa lửa. Lắng đọng bên sông cho tôi cảm nhận hết vẻ đẹp của con sông quê mà tôi yêu quý.
Giờ đây 45 năm sau cuộc chiến 81 ngày đêm Thành Cổ Quảng Trị, thị xã Quảng Trị (TXQT) đã thay da đổi thịt, đặc biệt có cây cầu Thành Cổ nối đôi bờ sông Thạch Hãn. Cầu Thành Cổ (công trình thuộc dự án tuyến tránh quốc lộ 1, đoạn qua thị xã Quảng Trị) với chiều dài hơn 5,9 km có chiều dài 311mét, gồm 9 nhịp (4 dầm bản và 5 nhịp dầm Super T), rộng 15 mét, mố trụ bằng bê tông cốt thép (hai mố, tám trụ) đặt trên nền móng cọc khoan nhồi D=1,2 mét. Điểm đầu tuyến đặt tại ngã ba đường Lê Lợi – Quốc lộ 1, tại Km 776+802, thuộc địa phận thị trấn Ái Tử , huyện Triệu Phong, điểm cuối tại khu vực ngã ba Long Hưng, Km 772+808 quốc lộ 1, thuộc địa phận xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng. Dự án có tổng mức đầu tư gần 670 tỷ đồng.
Theo như thiết kế tôi đọc được lý trình của cầu là km 2 + 130,79, đủ cho hai làn xe cơ giới thong dong qua lại. Rồi hai bên còn dành cả phần đường cho người đi bộ nữa. Cầu được thi công bằng kỹ thuật công nghệ hiện đại nhất hiện nay. Cùng với cây cầu, sẽ có một con đường nhựa chạy nối ra Quốc lộ 1A đoạn qua Ái Tử và chạy dọc đường Phan Đình Phùng, đường Hai Bà Trưng ở TXQT, trở thành con đường tránh TXQT. Khi ấy, muốn đi từ TXQT ra Ái Tử, Đông Hà quãng đường sẽ rút ngắn lại, tiết kiệm được thời gian. Thuận lợi nhất là các em học sinh ở bên kia bờ bắc qua học bên các trường ở bờ nam, không phải đi theo Quốc lộ 1A nữa. Hay như các mẹ, các chị muốn đi chợ, đi chùa đều rất thuận tiện khỏi phải đi đò ngang. Giờ nhớ lại ước chi ngày xưa có cây cầu như thế này thì dân làng Bích Khê chẳng bỏ đất canh tác ở Trung Kiên.
Rồi ngày ấy cũng đã đến. Sau hơn một năm rưỡi thi công, vào chiều ngày 26 tháng 7 năm 2017, cầu Thành Cổ được chính thức thông xe đưa vào sử dụng. Một ngày thật vui đối với người dân nơi này. Có lẽ đã lâu lắm rồi, tôi mới lại được chứng kiến một sự kiện đông vui như thế diễn ra ngay chính trên quê hương mình. Rất nhiều cờ đỏ sao vàng được cắm lên. Rồi băng rôn, khẩu hiệu. Rồi hoa tươi. Nhưng đông vui nhất, rộn ràng nhất vẫn là những người dân ở hai bên cầu. Họ có mặt từ rất sớm và mặc cho trời mưa rất to do ảnh hưởng của bão số 4, có lẽ trời đất cũng cảm động chăng như chính lòng người vậy. Họ chạy ùa ra giữa cầu cùng nhau cảm nhận cái giây phút sung sướng được đứng trên cầu Thành Cổ mà nhìn ba bề bốn bên, giữa trời mây non nước trên quê hương yêu dấu của mình. Nhiều ngày, nhiều tháng sau đó trôi qua, người ta vẫn còn cái cảm giác ngất ngây khi lần đầu tiên được đi bộ qua cầu. Cảm giác ấy cứ lắng đọng mãi, kéo dài mãi cho đến tận bây giờ.
Ngày ấy TXQT còn thiếu thốn trăm bề. Và người dân thì còn nghèo khổ quá! Ai đã từng đến đây vào năm 1972 những năm tháng cam go, ác liệt ấy, lúc đó TXQT là một đống hoang tàn đỗ nát bởi chiến tranh. Còn bây giờ, sau nhiều năm dựng xây và phát triển, TXQT đã hồng da thắm thịt, thay đổi rất nhiều đã tự mình “lột xác” vươn lên cùng với đất nước. Cầu Thành Cổ, cây cầu lớn nhất, đẹp nhất trên quê hương TXQT tọa lạc sừng sững trên dòng Thạch Hãn trông hấp dẫn như một công trình du lịch.
Cầu Thành Cổ cùng dự án tuyến tránh quốc lộ 1, đoạn qua TXQT, hoàn thành sẽ nối liền hai trung tâm hành chính, kinh tế là TXQT và thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong, kết nối trung tâm tỉnh lỵ TP Đông Hà; rút ngắn khoảng cách và thời gian đi lại cho các hộ dân nơi vùng dự án đi qua. Đồng thời tạo điều kiện về cơ sở hạ tầng cho sự phát triển đô thị của các địa phương, kết nối giao thông trên dòng sông lịch sử Thạch Hãn.
Cầu Thành Cổ còn tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào, chiến sĩ, nhân dân trong và ngoài nước tham quan, thăm viếng, tri ân các Anh hùng liệt sĩ đã anh dũng chiến đấu và hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc tại địa danh di tích quốc gia đặc biệt Thành Cổ Quảng Trị bên dòng sông Thạch Hãn.
Cầu Thành Cổ còn góp phần khai thác các tiềm năng và thế mạnh của địa phương, thực hiện công cuộc xóa đói giảm nghèo, từng bước nâng cao đời sống của nhân dân mà trực tiếp là người dân của huyện Triệu Phong và TXQT. Thực sự cây cầu đã góp phần làm khởi sắc thêm diện mạo thị xã. Chợt tôi nhớ câu thơ của nhà thơ Bùi Công Minh:
“Sông có cây cầu sông trở thành lãng mạn
Người có cây cầu người thêm bè bạn
Câu hát có cây cầu câu hát vút xa khơi”.
Hẳn nhiên với TXQT, dấu ấn cây cầu Thành Cổ đã để lại trong lòng người nhiều cảm xúc với các cung bậc khác nhau. Điều này không chỉ được cảm nhận trong cuộc sống hàng ngày, mà còn là nguồn cảm xúc cho các nhà thơ, nhạc sỹ. Và từ những nhịp cầu, TXQT sẽ vươn cao vươn xa trong quá trình phát triển, hội nhập và có quyền mơ về một thành phố tương lai bên sông Thạch Hãn như thành phố Đông Hà bên sông Hiếu. Tương lai một thành phố của những nhịp cầu, những phố mới thênh thang. Di tích Bến thả hoa 2 bờ sông Thạch Hãn sáng lung linh. Hai con đường ven sông Thạch được xây dựng rộng rãi với nhiều cây xanh, ghế đá, dãy nhà cao tầng, dãy phố sầm uất điện sáng rực. Tương lai một thành phố bên sông Thạch đang định hình.
Thả hoa trên sông Thạch Hãn trong ngày Thương binh-Liệt sĩ
Tôi tự hào về quê hương mình, một vùng quê nghèo nhưng rất anh dũng trong hai cuộc kháng chiến đã được bù đắp xứng đáng. Tôi mừng cho bà con cô bác ở quê nhà vì từ nay niềm mơ ước của bao người đã trở thành hiện thực. Đêm nay là một đêm trăng sáng. Trăng ở cầu Thành Cổ như càng sáng hơn. Tôi dạo bước trên cầu cùng với các con nhìn thấy các đôi uyên ương ríu rít bên nhau, nhìn về phía xa xa là làng Bích Khê quê tôi đó. Cầu thì cao và dài, sông thì rộng, rồi gió thổi mát rượi tung làn tóc bay trong gió. Phong cảnh trời mây, non nước nơi này sao tươi đẹp lạ lùng. Trong vô vàn nỗi nhớ về ký ức của mình, bỗng dung tôi lại có thêm một nỗi nhớ nữa, nỗi nhớ ngày xưa 2 đứa đi dạo trên kè sông Thạch và ước mơ về một cây cầu nối nhịp bờ vui. Giờ thì cầu xây xong đã lâu mà người xưa thì vắng xa rồi.
———————- L.T.T.T.
Chú thích:
(1) Nguồn Hàn là tên gọi dân gian chỉ sông Thạch Hãn
(2) thuộc Xã Triệu Long huyện Triệu Phong, Quảng Trị
(3) thuộc Xã Triệu Thượng huyện Triệu Phong, Quảng Trị
(4) Trích Nếp Nhà số 2, Hoàng tộc Bích Khê trang 17
(5), (6) Trích Nếp Nhà, họ Hoàng Bích Khê trang 112
(7) thuộc Xã Triệu Thượng huyện Triệu Phong – Quảng Trị
—————————-
Bài 7
PHƯỜNG PHÚC KHÊ
VÀ
ÔNG HUYỆN HOÀNG HỮU KIỆT
Ths Lê Thị Thu Thanh
Theo Tài liệu của Họ Hoàng Bích Khê ghi rằng “Về hưu, cụ trưng sở đất ở Khe Bội, Thượng Phước – Quảng trị để khai khẩn lập ấp tự lực mưu sinh, đặt tên là Phường Phúc Khê”. Cụ ấy chính là Châu thần Hoàng Hữu Kiệt, người dân ở Phúc Khê thường gọi là ông Huyện Kiệt.
Lần theo dấu vết lịch sử ấy chúng tôi tìm đến làng Thượng Phước xã Triệu Thượng huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị. Xuất phát từ làng Bích Khê – Triệu Long – Triệu Phong, qua cầu Ga cũ rẽ trái đi thẳng đến làng An Đôn, rồi đến làng Thượng Phước, cách thị xã Quảng Trị khoảng 5km. Chúng tôi may mắn gặp được một người lớn tuổi gần 70, là đảng viên từng tham gia kháng chiến chống Mỹ. Ông ấy tên là Nguyễn Hậu trú tại thôn Thượng Phước. Điều đặc biệt ông nội của ông Hậu từng có thời gian quen biết với ông Huyện Kiệt, ngày xưa 2 nhà ở sát nhau ở phường Phúc Khê. Vì vậy khi nghe tôi nói muốn tìm hiểu về Phúc Khê và ông Huyện Kiệt thì ông Hậu rất vui vẻ chia sẻ câu chuyện cho chúng tôi biết.
Tiểu sử của ông Huyện Kiệt
Ông lập phường Phúc Khê mà mọi người quen gọi là Phường ông Huyện.
Sở dĩ ông chọn Phúc Khê khai canh vì có lần ông nói “các con có biết vì sao ta chọn nơi này để lập ấp không? Chỉ là vì mê những đồi sim. Có thể nói ra khỏi cửa ngõ gặp sim. Mùa Xuân nhìn ra bốn phía thấy màu hoa trắng tím hồng mông mênh như biển. Không ở đâu sim tốt như ở đây. Trái nào trái nấy no tròn, chín mọng nhìn là thích ăn ngay”. Còn một lý do nữa ông chọn nơi này để hoạt động cách mạng vì Phúc Khê là tiền tuyến khu (tức chiến khu Ba Lòng). Trong kháng chiến chống Pháp và sau này là kháng chiến chống Mỹ, Phúc Khê giữ vai trò chiến lược quan trọng đó là cầu nối giữa chiến khu Ba Lòng với vùng đồng bằng Triệu Thượng. Hơn nữa ở đây có địa hình địa thế hiểm trở gần sông Thạch Hãn, nhiều đồi núi, có nhiều khe suối, đất đai rộng đường đi khúc khuỷu, rừng cây bạt ngàn “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” dễ hoạt động cách mạng.
Năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ, hưởng ứng Lời kêu gọi của chủ tịch Hồ chí Minh chống Pháp, Phường ông Huyện trở thành nơi hội họp tập kết của cán bộ, bộ dội Việt Minh. Năm ấy lễ hạ thọ của ông Huyện biến thành buổi lễ ra quân. Ông Huyện được mời làm cố vấn, tham gia ủy ban kháng chiến của địa phương. Khách về dự cả trăm người từ nhiều địa phương xa gần của Quảng Trị như An Đôn, Thượng Phước, Trấm, Chuối, Na Nậm, Ba Lòng… Ông Huyện đã làm Hịch kêu gọi chống Pháp và trịnh trọng đọc:
“Hỡi quốc dân đồng bào ta ơi! bừng con mắt nhìn xem nước mới. Việt Nam độc lập, khắp ba kỳ chung một ngọn cờ hồng. Chạnh tấm lòng nhớ đến người xưa, chí sĩ hy sinh, dưới chín suối biết bao người mệnh bạc. Hồn tổ quốc bơ vơ trong trời đất. Trở về đây mà nghe tiếng hoan hô. Gương anh hùng hun đúc bởi non sông, quây quần lại mà nếm mùi cọng lạc…”.
“Rồi một ngày Tây hành quân vào Phúc Khê Sơn Trang đốt sạch, phá sạch… Ông Huyện và thằng Sỏ đều bị tây bắt”. Chúng giam ông 6 tháng tù vì đã giúp che dấu cách mạng. Sau khi được thả ra ông được Ủy ban tỉnh Quảng Trị mời lên Chiến khu làm Chủ tịch Hội Liên Việt. Ông có đóng góp nhiều cho cách mạng vì thế ngày 13-11-1948, trong lá thư gửi cụ Hoàng Hữu Kiệt và các cụ trong Tỉnh hội Cứu quốc Quảng Trị, chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tặng cụ 4 chữ vàng “LÃO ĐƯƠNG ÍCH TRÁNG”. Thư viết: “Các cụ đã tuổi cao tóc bạc, mà vẫn hăng hái tham gia kháng chiến. Thật xứng đáng với bô lão đời nhà Trần. Thật là lão đương ích tráng. Một dân tộc mà già trẻ một lòng, kiên quyết như dân ta thì kháng chiến nhất định thắng lợi, thống nhất và độc lập nhất định thành công. Chúc các cụ mạnh khoẻ và sống lâu. Chào thân ái và quyết thắng”. HỒ CHÍ MINH. (Bút tích bức thư. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam).
Ngoài ra ông còn được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì.
Trong thời kỳ này ông Huyện Kiệt có mối quan hệ thân tình với gia đình ông nội của ông Trần Đức Lương ở thôn Thượng Phước. Khi ông nội của ông Trần Đức Lương mất, ông Huyện có làm bài điếu văn, sau này được gia đình ông Lương khắc trên bia đá trong khuôn viên lăng của gia đình ở Thượng Phước.
Đến năm 1951, ông qua đời ở phường Phúc Khê hưởng thọ 66 tuổi. Vì ông không có con trai mà sinh 8 người con gái, nên sau này những người thân trong họ Hoàng Bích Khê đưa hài cốt của ông về chôn cất ở Nương âm Bích Khê để gần quê hương, dòng tộc.
Từ 1954-1975, Phường ông Huyện thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Việt Nam cộng hòa. Từ đó “Vườn ông Huyện bỏ hoang, cây sim, cây mua như cỏ dại, mọc um tùm tận cửa ngõ. Thỉnh thoảng một con chim khách từ đâu bay tới đậu trên cành ngọc lan kêu mấy tiếng lạc lõng rồi vỗ cánh bay đi. Những cành hoa trắng muốt rơi lả tả rồi úa vàng bên bờ giếng. Dưới mái cổng tam quan, bốn mùa xuân hạ thu đông lặng lẽ trôi qua, để lại dấu rêu phong trên bảng Phúc Khê Sơn Trang mà chữ nghĩa vàng son ngày càng phôi pha mờ nhạt”.
Năm 1972, chiến tranh đã tàn phá nhiều nơi ở vùng đất Quảng Trị trong đó có Phường ông Huyện chẳng còn thứ gì ngoài “để lại trên mặt đất thứ quà tặng khốn nạn nhất của chiến tranh là những miệng hố bom toang hoác. Bên cạnh một trong những hố bom ấy có một cây dương liểu bật gốc, cụt ngọn và cháy sém.”
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước bà Nguyễn Thị Cam (vợ ông Huyện Kiệt) ở tại Khe Bội cũng là cơ sở của cán bộ quân giải phóng. Đại tá Bùi Trường Kháng từng nhận bà là mẹ chiến sĩ.
Sau năm 1975, người dân thôn Thượng Phước bắt tay vào khai hoang phục hóa, hàn gắn vết thương chiến tranh. Không chỉ có người dân Thượng Phước mà nhiều nơi khác họ đến đây làm ăn sinh sống lập nghiệp, chủ yếu trồng rừng và đậu xanh. Vì thế dân số ngày càng tăng lên, đến nay khoảng 200 hộ. Tuy vậy cơ sở hạ tầng ở đây còn khó khăn chưa được bê tông hóa, nhất là về mùa mưa đi đường rất vất vả, nguy hiểm.
Đập tràn
Tò mò muốn tìm hiểu về phường Phúc Khê, ông Hậu nhiệt tình dẫn tôi đến phường ông Huyện. Con đường đi vào phường ông Huyện hết sức khó khăn, đường đất đỏ ngoằn nghèo, gập ghềnh sỏi đá phải là tay lái vững mới đi được, còn nếu không sẽ ngã. Nếu trời mưa chắc là đường càng khó đi hơn. Trải qua nhiều rừng tràm, rừng cao su, rừng thông cuối cùng chúng tôi đã đến phường ông Huyện. Từ xa đã thấy một hồ nước trong xanh rất rộng, nổi lên là 2 gò đất cỏ mọc xanh tốt như một hòn đảo nhỏ giữa hồ, đó chính là hồ Triệu Thượng, người dân quen gọi là Đập Tài. Ông Hậu đưa tay chỉ và kể “Phía bên kia hồ dọc dãi đất đó là phường Phúc Khê. Ngày xưa cụ Huyện Kiệt di dân lập ấp lập nên phường Phúc Khê này ở Khe Bội. Sở dĩ ông đặt tên là Phường Phúc Khê, chắc có lẽ ghép 2 từ Phúc tức là làng Thượng Phúc ngày xưa còn gọi là Thượng Phước (người dân địa phương có người đọc phúc thành phước) và Khê tức là làng Bích Khê quê hương ông. Còn tên Khe Bội là vì ngày trước dưới lòng hồ này có một cái khe nước chảy, xung quanh trồng rất nhiều cây bội, một loại cây mà người dân địa phương lấy lá nấu uống. Rồi cũng ở giữa hồ này có một cây cầu Phúc Khê. Nhưng tiếc rằng sau này nước hồ dâng lên đã làm ngập Khe Bội và cầu Phúc Khê”.
Khe Bội
Còn như lời của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Phan mô tả khi ông về đây “Từ xa đã thấy phường ông Huyện thấp thoáng sau rặng liểu xanh um. Ở cuối hàng dương là một cái cổng tam quan lợp ngói âm dương che một tấm bảng gỗ sơn son thếp vàng khắc mấy chữ Hán rất đẹp: Phúc Khê Sơn Trang. Bên ngoài cổng có một cái giếng xây xi măng, giếng khá sâu, nước rất trong mát. Khách đi đường xa đến đây ai cũng đã mỏi mệt nên thường ngồi lại đây dùng cái gàu mò cau để sẵn bên giếng múc nước rửa mặt, uống vài ngụm cho tỉnh táo trước khi vào nhà ông Huyện…”
“Sơn trang nằm giữa thung lũng, có con suối chảy quanh co, bốn mùa cây cỏ xanh tốt. Chung quanh thung lũng là đồi sim bạt ngàn.Rải rác trong phường có vài chục nóc gia, đều là nông dân do ông Huyện chiêu mộ ở các nơi về làm tá điền”.
Tiếc rằng tất cả những sự vật được mô tả đẹp đẽ ấy đều đã bị chiến tranh và thời gian tàn phá. Giờ đây phường Phúc Khê chỉ còn lại là một bãi đất hoang trồng tràm và cao su bạt ngàn, không có người ở, không còn lại một dấu tích gì nữa. Tôi cũng đỏ mắt đi tìm một bụi sim mà cũng không có. Đứng bên này bờ hồ nhìn qua bên bờ bên kia mà cảm thấy xót xa vô cùng về một sơn trang của ông Huyện Kiệt, đó là bao công sức của ông cùng với dân nơi đây khai khẩn nên mảnh đất này. “Còn đâu Phúc Khê Sơn Trang với rặng liễu xanh, đồi sim tím. Còn đâu tiếng hát thủy tinh của cô gái hái trà và khúc ca hùng tráng của chàng trai lên đường ra trận.”
Tuy thời gian tồn tại của nó ngắn ngủi nhưng dù sao Phường Phúc Khê vẫn để lại trong tâm trí người dân nơi đây về một mảnh đất màu mỡ và một vị quan yêu nước thanh liêm chính trực. Hiện nay Phúc Khê là một vùng gò đồi, người dân thường xuyên vào đây canh tác và truyền miệng với nhau “Đi mô rứa?”, “Đi lên Phúc Khê canh tác”.
.LTTT

Phường Phúc Khê nay thuộc khu vực lòng hồ của công trình thủy lợi NAM THẠCH HÃN
Bài 7bis
LÀNG XƯA, CHUYỆN CŨ
HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN
Vừa rồi chúng tôi nhận được bài hội Khuyến Học thôn Bích Khê tổ chức lễ phát thưởng cho học sinh giỏi năm 2013-2014 do thầy Lê Đăng Chinh, giáo viên Anh ngữ trường THCS Triệu Hòa thực hiện. Bác sĩ Hoàng Hữu Hóa là người sưu tầm và gửi những bức ảnh nầy cho trang web, kèm với một câu chú thích: Thầy Lê Đăng Chinh là cháu nội ông Bộ Tương ở làng ta. Mấy chữ “ông Bộ Tương” bỗng khơi dậy trong tôi một loạt hình ảnh nhân vật và sự kiện của làng Bích Khê vào thời chiến tranh chống Pháp.
Hồi ấy gia đình tôi ở Huế, tản cư về làng, được làng bố trí cho ở nhờ tại nhà làng. Đó là một ngôi nhà tranh đơn sơ nằm bên cạnh cái hồ ở trước đình làng. Được ít lâu ba tôi lén “dinh tê” vô Huế, làm thư ký cho hãng vận tải Trương Công huynh đệ của người cháu bên ngoại là ông Trương Công Hy, giao cả đàn bốn chị em chúng tôi cho mẹ tôi chăn nuôi. Mẹ tôi có cái lò nấu rượu lậu tại nhà. Khi nào làng họp thì phục vụ, cau trầu trà rượu cho làng. Còn thường ngày thì mấy ông trong làng hay tụ tập tại nhà này để uống rượu và nhậu lai rai. Làng ta có nhiều nhà trồng dâu nuôi tằm nên mồi nhậu thường là con nhộng tằm xào với bún tàu, cũng rẻ tiến và hấp dẫn. Mẹ tôi nguyên là hiệu trưởng trường Nữ Công Học Hội ở Huế do bà Đạm Phương làm giám đốc nên tay nghề nấu ăn thuộc hàng cao đẳng. Một hôm cánh đàn ông trong làng đi săn được một con chồn cáo lớn bằng con chó, đem đến nhờ mẹ tôi nấu vài món. Khách nhậu chừng mười người. Họ đang chuyện trò rôm rả bỗng trước cửa xuất hiện một đôi thanh niên nam nữ vai mang sọt đựng lá dâu. Cô gái đứng chốt ở bên ngoài còn anh thanh niên bước vào nhà, lấy từ trong sọt ra một cây súng ngắn nói lớn:
– Ở đây ai là Bộ Tuân, đứng dậy theo chúng tôi.
Mọi người xanh mặt ngồi im phăng phắc. Mũi súng chĩa vào một ông ngồi đầu bàn. Ông này hốt hoảng la lên:
– Ôi không không! Tui là Bộ Tương. Không phải Bộ Tuân.
Một vài người lên tiếng nói hộ:
– Dạ, y ta đúng là Bộ Tương, không phải Bộ Tuân.
– Vậy ai là Bộ Tuân, đứng lên đi. Tôi biết chắc chắn có Bộ Tuân ở đây.
Bỗng một người đàn ông cao lớn, mặc bộ pyjama màu trắng đứng lên tốc chạy ra ngoài đường. Hai thanh niên nam nữ lập tức đuổi theo. Ông Bộ Tuân chạy rất nhanh, thoáng cái đã mất hút sau rặng tre. Nhưng chỉ một phút sau, có một phát súng đanh, gọn vang lên. Bà con trong làng xớn rớn, không ai dám ra đường. Hai người cán bộ Việt Minh đã lặn mất tăm mà mấy ông Trùm Nậy, Nhiêu Mót, cai Nghị, Xạ Nhuận, Đoàn Con… trốn trong buồng nhà tôi vẫn còn sợ không dám ló mặt ra. Khoảng gần một giờ sau bỗng nghe tiếng kêu khóc thảm thiết sau rặng tre. Bấy giờ bà con mới dám ra xem thì thấy ông Bộ Tuân nằm sóng sượt trên mặt đất. Té ra ông ta chạy không thoát.
Bấy giờ bà con bắt đầu bàn tán:
– Hai người Việt Minh ấy rõ ràng không phải là dân làng mình cho nên họ mới không biết ai là Bộ Tương, ai là Bộ Tuân.
– Nhưng sao lại giết Bộ Tuân. Ông ta chỉ làm “loong toong” (planton: tùy phái, người chạy giấy, tạp vụ ở công sở)
– Thì tại ngày nào ông ta cũng đi đi về về từ làng lên tỉnh nên Việt Minh họ nghi ông làm gián điệp. Mà có khi là gián điệp thiệt không biết chừng. Ối! Thời buổi này, chuyện đó khó nói lắm.
Hôm sau khoảng một đại đội lính quốc gia trên chợ Sãi hành quân về làng bắt hầu hết đàn ông trai tráng. Mẹ tôi là chủ quán nhậu nên cũng bị bắt. Người đích thân thẩm vấn mẹ tôi là ông Nguyễn Hoài – phủ trưởng (chức vụ tương đương ông quan tri phủ ngày xưa) phủ Triệu Phong. Ông ta đập bàn quát hỏi:
– Bà có liên lạc với Việt Minh phải không? Nếu không, sao tụi nó biết hôm ấy Bộ Tuân có mặt trong quán của bà?
– Dạ, xin đừng nói rứa mà oan cho tui. Tui là đàn bà, tay yếu chân mềm, lo kiếm ba hột gạo nuôi con, đâu có lòng dạ nào mà làm việc cho bên ni bên tê. Nói thiệt, ông Bộ Tuân còn thiếu nợ tui mấy chục bạc tiền rượu, đòi hoài chưa được. Ông chết thình lình như vậy là kể như tui mất luôn khoản tiền đó. Giả sử tôi có muốn liên lạc với Việt Minh giết ông, cũng phải đợi đòi cho được khoản tiền rượu đã chứ.
Ông phủ Hoài phì cười gật đầu:
– Nói rứa cũng phải. Nhưng chồng bà đi mô mà không ở nhà với vợ con? Ông ta theo bên ni hay bên tê?
– Dạ chồng tui không theo bên mô cả. Lâu nay ông vô Huế, làm thư ký cho hãng vận tải Trương Công huynh đệ.
Ông phủ Hoài lại hỏi:
– Làm sao tui biết ông ta vô Huế chứ không phải ra chiến khu? Có ai làm chứng không?
Mẹ tôi hơi bối rối nhưng cũng tìm được câu trả lời:
– Trước khi vô Huế, chồng tôi có làm bài thơ đọc cho tôi nghe. Tôi nhớ hai câu cuối là:
“Con đường mù mịt dài thăm thẳm
Mượn mùi xăng ngạt thế mùi men”
Nếu chồng tui ra chiến khu thì làm gì có mùi men và mùi xăng?
Ông Phủ Hoài chăm chăm nhìn mẹ tôi rồi lại hỏi:
– Bà chắc chắn đó là thơ của chồng bà chứ? Ngoài ra, bà còn nhớ bài thơ nào khác của ông nhà không?
– Dạ chồng tui làm thơ rất nhiều mà không biết đọc cho ai nghe nên cứ bắt tui nghe hoài, thành ra cũng có nhớ được vài bài.
Rồi mẹ tôi đọc:
“Chồng hỡi chồng, con hỡi con
Chàng đi thoắt đã mấy năm ròng
Trông vời nước biếc chòm mây bạc
Chạnh nhớ ngày xanh giọt lệ hồng”
Ông phủ Hoài không hỏi nữa mà lấy khăn tay ra thấm nước mắt. Rồi ông nhẹ nhàng nói với mẹ tôi:
– Té ra chị là vợ của Bích Hồ – Hoàng Phủ Dực phải không? Vậy mà nãy giờ tui không biết. Xin lỗi chị. Tui với anh Bích Hồ là bạn làng thi. Chúng tôi thường gặp nhau trong các buổi họp mặt của hội Cổ học Quảng Trị. Những bài thơ chị vừa đọc, anh em trong hội cũng đều biết và thích lắm. Thôi, chị về đi. Nếu có gặp phiền phức gì với tụi lính tráng trên tỉnh thì cứ nói là bà con với ông phủ Hoài.
Ông phủ Hoài sai lính đưa mẹ tôi ra khỏi cổng. Ngoài ra ông còn cho mẹ tôi mấy loong đồ hộp, nói đem về cho mấy cháu.
Chuyện mẹ tôi thế là tiền hung hậu cát. Ấy là nhờ mấy bài thơ của ba tôi làm tặng cho mẹ tôi. Phần lớn những người bị bắt lên phủ Triệu Phong hôm ấy cũng được xét hỏi nhanh chóng rồi tha về. Nhưng còn vài người – trong số đó có ông Bộ Tương, bị giam không cho về.
Lại nói đêm đầu tiên mẹ tôi bị bắt, nhà chỉ còn mấy chị em nằm ôm nhau khóc. Đêm ấy Việt Minh lại về, đi từng nhà kêu đồng bào ra họp mít tinh ngoài chợ Đường. Có hai cái bóng đen, một nam một nữ xuất hiện bên khung cửa sổ nhà tôi. Có lẽ đó là hai người đã truy sát ông Bộ Tuân hôm trước. Họ gõ cửa mấy lần nhưng chúng tôi sợ quá im thin thít. Bỗng nghe cái bóng đen người nam lên tiếng:
– Nghe nói bà chủ nhà nầy đã bị chúng bắt lên tỉnh rồi. Chỉ còn mấy đứa con nít. Thôi mình đi nhà khác.
Người nữ trả lời:
– Vậy chắc tụi nhỏ đói lắm. Tội nghiệp! Thôi để lại mấy nắm cơm của tụi mình cho tụi nó đi.
Rồi họ treo hai nắm cơm tòn teng bên song cửa sổ. Chờ họ đi xa, chúng tôi ngồi dậy, thắp đèn lấy hai nắm cơm mở ra .Nói là cơm nhưng gói nào cũng độn rất nhiều khoai lang kèm theo một gói muối mè. Chị tôi bùi ngùi nói:
– Đây là phần ăn của họ. Họ nhịn cho tụi mình thì chắc họ phải chịu đói.
Vài hôm sau mẹ tôi trở về. Rồi vài tháng sau ba tôi nhắn tin đã tìm được nơi ăn chốn ở trong Huế, bảo mẹ tôi đưa cả bốn đứa vào. Từ đó chúng tôi rời làng Bích Khê vào Huế ăn học.
Một hôm bà chị tôi đi học về thì gặp một đoàn tù ngồi nghỉ trên bến Tượng ở cống Lương Y trong Thành Nội. Trên lưng áo tù của họ có viết chữ PIM – (Viết tắt tiếng Pháp: Prisonnier – Indochine – Militaire có nghĩa là Tù binh Đông Dương)
Thấy trong đoàn tù có một khuôn mặt quen quen, chị tôi kêu:
– Chú Bộ Tương. Có phải chú không?
Người tù mừng rỡ gật đầu nhưng phải xin phép mấy tay lính áp giải mới được nói chuyện. Thì ra từ ngày ấy, chú bị kết tội làm Việt Minh rồi bị đưa vô Huế giam ở lao Thừa Phủ. Mấy bữa nay, ngày nào tụi lính cũng đưa đoàn tù đi làm lao động khổ sai, đến trưa thì cho tù nghỉ ngơi, tắm rửa ở bến Tượng.
Chị tôi đem chuyện ấy kể lại với mẹ. Mẹ tôi cũng ngạc nhiên và vui mừng. Bà chuẩn bị một gói quà nhỏ gồm những thứ cần cho người tù như xà bong, khăn lau mặt, dao cạo râu, một hũ muối sả, một nắm thuốc rê và mấy chục đồng bạc đưa cho chị tôi và dặn:
– Trưa mai cũng giờ ấy, con ra bến Tượng đón. Hễ gặp chú Bộ Tương thì đưa cho chú. Nói Mạ cháu gửi. Nhớ phải hỏi xin phép tụi lính trước chứ không nó tịch thu đồ, không chừng còn bị bắt nữa.
Nhưng hôm sau không thấy đoàn tù ra bến Tượng. Nhiều hôm sau nữa chị tôi cũng không gặp lại chú Bộ Tương. Không biết chú ấy đã bị đưa đi đâu. Cuộc chiến tranh nầy còn dài, biết bao kẻ ở người đi, kẻ còn người mất. Biết làm sao được.
Phần đầu câu chuyện về chú Bộ Tương là như thế. Phần sau thế nào thì tôi không biết. Giả sử nay hỏi ông thầy giáo Lê Đăng Chinh, cháu nội của chú Bộ Tương – liệu thầy Chinh có thể biết gì nhiều hơn không nhỉ?
HPNP
Bài 8
CUỘC HỘI NGỘ TÌNH CỜ GIỮA 3 NGƯỜI ĐỒNG HƯƠNG
LÊ-ĐỖ-HOÀNG
Ở ĐỒN ĐIỀN CAO SU SUZANNAH
________________________________________
HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN
Vào khoảng cuối năm 1977 tôi có dịp đi thực tế ở một nơi gọi là đồn điền cao su Suzannah thuộc tập đoàn S.I.P.H ( Société Indochinoise des Plantations des Heveas – Công ty Đồn điền Cao su Đông Dương) nằm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.Lúc bấy giờ tôi đang công tác ở Xí nghiệp Phim Tổng Hợp TPHCM được phân công đi làm một phim tài liệu nói về lịch sử cây cao su Việt Nam.Đường dây kịch bản của tôi bắt đầu từ những hạt cao su hoang dã ở Brasil đến vườn thảo mộc quốc gia ở Singapor được đưa sang Việt Nam từ năm 1877 .Những hạt giống đầu tiên được bác sĩ Yersin ươm thành công ở Suối Dầu -Nha Trang rồi những người kế tục nhân giống đại trà ở đồn điền Balland (Gia Định),ở bầu ông Yệm (Lai khê-Thủ Dầu Một).Từ đó loài cây ba lá nầy trở thành cây công nghiệp có thế mạnh hàng đầu trên toàn cõi Đông Dương thuộc Pháp.Những chuyện này thì tôi chỉ cần ngồi vài ngày trong thư viện của Trung tâm nghiên cứu Cao Su (I.R.C.I) của người Pháp để lại tại văn phòng ở Suối Tre là sưu tầm đầy đủ.Nội dung chính của kịch bản là điều mà nhà thơ Tố Hữu từng nói đến trong mấy câu :
“Ôi nhớ những năm nào thuở trước
Xóm làng ta xơ xác héo hon
Nửa đêm thuế thúc trống dồn
Sân đình máu chảy, đường thôn lính đầy
Cha trốn ra Hòn Gay cuốc mỏ
Anh chạy vào Đất Đỏ làm phu
Bán thân đổi lấy đồng xu
Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng!”…
Để hiểu cho được nội hàm của ba câu thơ in nghiêng trong trích đoạn nói trên,tôi đã –không chỉ ngồi đọc tài liệu trong các thư viện mà còn phải mất hàng tháng đi thực tế gần khắp các đồn điền cao su từ miền Đông Nam bộ lên đến Tây Nguyên.Phải tìm cho được những hình ảnh người thực việc thực từ những địa danh u ám ở các làng cao su như nghĩa địa núi Tung,núi Đỏ, núi Đầu Tây,cây đa Thắt cổ,miếu Oan hồn…
Một trong những nhân vật thú vị mà tôi cần phải gặp là ông Bảy Nghi,tức đồng chí Lê Sắc Nghi lúc bấy giờ là Tổng cục phó Tổng cục Cao Su kiêm Tổng giám đốc Quốc doanh Cao Su Đồng Nai.Quốc doanh này tiếp quản cơ ngơi của Công ty S.I.P.H trên địa bàn Suối Tre .Trong hệ thống khai thác của S.I.P.H có đồn điền Suzannah được thành lập từ năm 1908,nơi có những cây cao su lâu năm nhất ở Việt Nam.Suzannah có lẽ là tên của bà vợ hoặc cô con gái cưng hoặc là một người đẹp nào đó trong cuộc đời tình ái của người chủ sáng lập ra đồn điền này.Người chủ đồn điền trước ngày giải phóng là Philippe Darle,cựu sĩ quan nhảy dù,hai lần bị thương,ba lần được tuyên dương.Bây giờ ông Bảy Nghi ngồi trong văn phòng của Darle không phải với tư cách chủ đồn điền Suzannah mà là người thay nhà nước trực tiếp quản lý toàn bộ diện tích cao su ở Việt Nam.
Buổi tối hôm ấy chúng tôi ngồi nói chuyện ở ngoài sân,dưới gốc một cây lim cổ thụ cao gần ba mươi mét.Quanh chỗ ngồi có những hạt lim rơi rụng.Hạt lim có hình giống như hạt đậu nhưng lớn hơn cái hột vịt mà cứng và nặng như đá.Ông Bảy nhặt hai hạt lim đập vào nhau thật mạnh làm nháng lửa.Ông nói:
- Cây lim này còn lớn tuổi hơn tôi.Hồi nhỏ bọn con nít chúng tôi thường lượm mấy hột lim chơi.Mới đó mà đã hơn nửa thế kỷ trôi qua …
Theo lời ông Bảy Nghi thì ông cụ thân sinh của ông Bảy thuộc lớp dân phu đầu tiên đến khai phá đồn điền này.Vào một năm bão lụt,mất mùa,suốt một dải nông thôn miền Trung,dân chúng đói rách,cực khổ lắm.Bỗng một hôm có ông cha cố dẩn mấy người hương lý đi từng nhà chìa ra một bản “công tra” (contrat-hợp đồng lao động) hứa hẹn nhiều điều hấp dẩn.Rất nhiều trai tráng bỏ quê nhà vào Nam với hy vọng đổi đời.Thế nhưng từ khi vào đó,cuộc đời của họ chuyển qua những tháng ngày đen tối gọi là kiếp “công tra”. Ông cụ thân sinh của ông Bảy Nghi từng bị bọn Tây đồn điền dội mũ cao su lên đầu phải dùng dầu lửa gỡ mủ cao su.Gở ra được thì da đầu cũng tróc hết.Ít lâu sau,ông cụ đi làm cỏ bắt gặp một hố chôn người tập thể liền rủ một số công nhân làm đơn xin cho đem những tử thi này đi chôn cất lại.Bọn chủ không những không cho mà còn đánh ông cụ đến chết.Trước khi chết,ông cụ trăn trối lại rằng: “ Các con nên tìm về quê hương mà làm ăn,đừng ở đây rồi chết dần hết”.
.Ông Bảy kể tiếp:
- Nhưng chúng tôi không trở vế quê hương mà chọn con đường cách mạng đã được phát động từ những năm 1930 qua cuộc nổi dậy của công nhân đồn điến cao su Phú Riềng,gọi là phong trào “Phú Riềng Đỏ”.Tôi có một cô em gái cũng đã chọn con đường này để trả thù nhà nợ nước và đã hy sinh.
Nói đoạn, ông Bảy Nghi vào nhà mang ra một quyển sách cũ nhan đề “ Máu trắng,máu đào” của tác giả Trần Tử Bình
.Ông chỉ cho tôi một trang sách có câu: “ Ngày 20.12.1940 tại đồn điền Bình Lộc nổ ra cuộc đình công của hơn 1000 công nhân cao su.Bọn chủ đưa lính tới đàn áp.Chị Lê Thị Lương người làng Bích Khê,Triệu Phong,Quảng Trị dũng cảm đứng ra cản đầu xe,bị chúng cho xe cán chết tại chỗ”.
Chị Lê Thị Lương chính là cô em gái của ông Bảy Nghi.Tôi hỏi:
- Té ra anh Bảy là người làng Bích Khê?
- Đúng vậy.Thì sao?
- Tôi cũng là dân Bích Khê .
- Vậy thì tụi mình là đồng hương rồi.
Rồi ông Bảy quay mặt vô nhà kêu:
- Bà ơi!Có ông đồng hương họ Hoàng ngồi đây.Bà muốn hỏi chuyện gì về họ Đỗ của bà ở ngoài làng thì ra mà hỏi.
Ông nói với tôi:
- Bà xã tôi cũng người Bích Khê.Bà thuộc bên họ Đỗ.
Lát sau bà Bảy Nghi bước ra.Bà thủng thẳng nói:
- Tụi tui bỏ làng ra đi từ hồi còn nhỏ nay cũng chẳng còn nhớ chi.Chỉ nhớ họ Đỗ có cái nhà thờ đạo Thiên Chúa.Nghe nói giải phóng rồi mấy ông cách mạng bắt đập bỏ.Họ Lê,họ Hoàng không nói chi chứ cái họ Đỗ của tui nhiều người theo đạo Thiên Chúa,e khó sống với mấy ông “cách mạng ba mươi” (1) lắm,phải không chú?
Tôi vội vàng cải chính:
- Chị nghe ai nói mà ác rứa? Cách mạng nào mà dám đập phá cái nhà thờ.Đó là do bom đạn của Mỹ trong chiến cuộc 1972.Chẳng những nhà thờ đạo mà cái chùa,đình làng và hai cái nhà thờ của họ Hoàng tụi tui cũng bị trúng bom pháo,tan thành gạch vụn.Làng xóm bây giờ tang thương lắm.Cảnh cũ không còn mà người xưa cũng đi đâu mất,chưa có mấy ai trở về.
Tôi nói thêm:
- Họ Lê,họ Đỗ,họ Hoàng-họ mô cũng có người ri kẻ khác chị ơi!Trải qua cuộc chiến tranh dữ dội,ai còn sống sót thì bà con đều mừng.Chính quyền địa phương cũng sáng suốt,không có chuyện phân biệt đối xử với những người Thiên Chúa giáo của họ Đỗ đâu.
Ông Bảy Nghi gật đầu:
- Chú ấy nói đúng đấy.Nói đâu xa, cứ đọc quyển sách “Máu trắng máu đào” này thì ít ai biết rằng tác giả Trần Tử Bình là một người Công giáo toàn tòng.Ông từng vận động các họ đạo chống chính quyền thực dân và lãnh đạo phong trào Phú Riềng Đỏ rồi bị Tây bắt đày ra Côn Đảo.Về sau ông chuyển qua quân đội làm đến sĩ quan cấp tướng rồi hòa bình lập lại,ông được cử đi làm đại sứ Việt nam tại Trung Quốc và Mông cổ.
Bà Bảy cười:
- Thì tui cũng đoán chừng rứa thôi.Chứ nếu ở mô cũng được như ông nói thì tốt rồi.
Đêm ấy chúng tôi ngồi nói đủ thứ chuyện.Từ chuyện cao su đến chuyện làng,chuyện họ.Cuộc hội ngộ tình cờ của ba người đồng hương Lê-Đỗ-Hoàng đối với tôi thật bất ngờ và thú vị.Từ nơi vùng đất đỏ xa xôi này,tôi cảm nhận được một thoáng Bích Khê trong từng giọt nước mắt của cây cao su và trong từng giọt máu trắng máu đào của loài cây biết khóc ấy.
Càng đi sâu vào từng con người,từng sự việc và trong từng thời kỳ của lịch sử đất nước,tôi càng hiểu ra rằng có những ngôi làng nhỏ bé như làng Bích Khê của chúng ta – thực ra không hề nhỏ bé chút nào.
HPNP
- “ Cách mạng ba mươi” : Thành ngữ ví von,chỉ những người mới tham gia công tác cách mạng ngay sau ngày giải phóng (30.4.75).Do nhận thức non nớt họ thường vô tình hoặc cố ý làm những điều sai chính sách,bị quần chúng phàn nàn .

Bài 9
Nhạc lễ cổ truyền làng Bích Khê
ĐỖ THIÊN THẠCH
Làng Bích Khê thuộc xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Với vị trí địa lý nằm trãi dài giữa một bên là đường tỉnh lộ 64 và một bên là con sông Thạch Hản, phía nam giáp thôn Hậu Kiên (Triệu Thành), phía bắc giáp với thôn Đâu Kênh (Triệu Long). Mãnh đất được xem là “Địa linh – nhân kiệt”. Bởi nơi đây đã sản sinh ra rất nhiều người có ích cho đất nước, một trong những cái nôi sản sinh và gìn giữ nhạc cổ truyền dân tộc của tỉnh nhà.
Theo “Bộ sử ký Lam Sơn chiến sự” và “Đại Việt sử ký Hóa Châu” thì vào năm Canh Ngọ (1472), các vị tướng lãnh trong đội quân áo vãi Lam Sơn (Lê Trừ, Đỗ Đức Mẫn, Hoàng Công Hội) trong đoàn truy kích giặc Minh đến xứ Bích Đàm, thấy phong cảnh nơi đây hữu tình, giao thông thủy bộ thuận lợi các ngài đã dừng chân lại nơi đây cùng nhau khai phá đất đai và lập ra làng Bích Đàm (Bích Khê hiện nay). Trãi qua khoảng 5-6 thế hệ, cùng với việc phát triển về vật chất thì đời sống văn hóa tinh thần càng được chú trọng. Các nghi lễ cúng tế thần linh và tổ tiên được tổ chức thường niên và ngày càng đi vào bài bản. Chính vì lẽ đó mà nhạc lễ cổ truyền Bích Khê cũng được hình thành nhằm phục vụ cho các nghi lễ cúng tế cổ truyền và các lễ hội văn hóa của cộng đồng.
Theo “Gia phả của dòng họ Đỗ Thiên” thì vào đời thứ 10 có ông Đỗ Thiên Huệ là “Tỉnh nhạc trưởng” tỉnh Quảng Trị. Từ đó đến nay các hậu duệ, con cháu của ông đã có được 9 thế hệ liên tiếp làm nghề nhạc cổ truyền. Như vậy, trước đời ông Đỗ Thiên Huệ chắc chắn đã có người làm nghề nhạc cổ, nhưng rất tiếc là chưa tìm được văn bản nào nói đến điều này.
Trong gia phả của họ Hoàng và họ Lê cũng có ghi hai ông Hoàng Hữu Dụng và Lê Quang Tâm là những người làm nghề nhạc cổ truyền. Tương truyền rằng, các ông đã nhiều lần được vua mời vào phục vụ nhạc cổ cho lễ “Tế trời” ở đền Nam Giao và được nhà vua ban tặng “Bát phẩm”.
Đồng thời qua truyền miệng từ thế hệ này đến thế hệ khác của các vị làm nghề nhạc cổ trong làng, cũng như theo nhận định của các vị cao tuổi ở các làng khắp nơi trong tỉnh, thì làng Bích Khê là nơi có truyền thống nhạc lễ cổ truyền lâu đời nhất của tỉnh Quảng Trị.
Cách đây hơn 200 năm, các vị tiền nhân cổ nhạc của làng Bích Khê đã truyền thụ nhạc cổ truyền cho một đội nhạc ở làng Trung Chỉ (Đông Lương – Đông Hà), ngày nay các thế hệ hậu duệ của họ vẫn luôn có tình cảm hướng về cội nguồn. Một số địa phương khác như: Lam Thủy (Hải Vĩnh), Đồng Bào (Triệu Sơn), Nại Cửu (Triệu Đông), Thị xã Quảng Trị, phường 3 Đông Hà, Tân Liên (Hướng Hóa)…. và xa hơn nữa là ở Cù Bị, Đắc Lắc đã có nhiều người tìm đến học nhạc cổ truyền ở làng Bích Khê. Hiện nay họ đã trở thành những đội nhạc cổ chuyên phục vụ nhạc lễ cổ truyền rất nổi tiếng.
Từ những căn cứ trên có thể khẳng định rằng: làng Bích Khê là một trong những nơi có truyền thống cổ nhạc lâu đời – cái nôi sản sinh ra nhạc cổ truyền dân tộc của tỉnh Quảng Trị. Vì vậy mà ở nơi nào trong tỉnh có tổ chức các nghi lễ truyền thống quan trọng và có quy mô lớn đều muốn mời cho được ban nhạc lễ cổ truyền của làng Bích Khê.
Tiết mục hoà tấu nhạc dân tộc của Ban nhạc cổ truyền Bích Khê
Vốn là một loại nhạc không thể thiếu trong các lễ hội truyền thống, nghi lễ tôn giáo – tín ngưỡng. Từ trước cho đến nay những nghệ nhân cổ nhạc của làng Bích Khê đã gìn giữ và phát huy truyền thống nhạc cổ của làng rất tốt. Từ thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau, cha truyền cho con, con truyền cho cháu đến nay ở làng Bích Khê đã có ít nhất là 9 thế hệ làm nghề nhạc cổ truyền. Và ở mỗi thế hệ đều có những người rất giỏi và nổi tiếng, được khắp nơi trong tỉnh và cả các tỉnh khác biết đến như các ông Hoàng Hữu Chu, Đỗ Thiên Em, Lê Hoàn, Đỗ Sữ, Hoàng Hữu Đồng, Hoàng Hữu Phú, Đỗ Thiên Ngữ…, đây là những vị nhạc cổ có công lao rất lớn trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống nhạc lễ cổ truyền của làng Bích Khê.
Hiện nay, ở làng Bích Khê có 30 người làm nghề nhạc lễ cổ truyền. Trong đó, có 1 gia đình đã 9 đời liên tiếp “cha truyền con nối”, hai gia đình có ba thế hệ cùng làm nghề nhạc cổ, có 2 người gần 80 tuổi (ông Đỗ Văn Thiện, Lê Trì). Đa số họ đầu có tay nghề rất giỏi, được giới nhạc lễ cổ truyền khắp nơi tôn trọng và kính nể. Chính vì được truyền thụ một cách kỷ lưỡng từ đời này sang đời khác – “cha truyền con nối” nên đến nay hầu như toàn bộ các bản nhạc cổ đều được các nghệ nhân trong làng giữ gìn và biểu diễn một cách rất điêu luyện và rất hay. Đặc biệt hiện nay những nghệ nhân nhạc cổ của làng còn giữ gìn và biểu diễn được điệu “Trống quân” chính thống. Một bản nhạc cổ thể hiện tính điêu luyện, đòi hỏi phải có tay nghề cao mới thực hiện được. Đây là bản nhạc thường được biểu diễn trong các lễ hội truyền thống, tín ngưỡng có quy mô lớn nhằm mục đích “cầu cho quốc thái dân an”. Có nghệ nhân đã gần 80 tuổi vẫn còn thổi được “Kèn Bầu” rất hay – một loại kèn rất to, rất khó thổi.

Nghệ nhân ĐỖ VĂNTHIỆN
Nhờ có tay nghề giỏi và chất lượng nghệ thuật cao nên các nghệ nhân nhạc cổ của làng có địa bàn hoạt động rất rộng, bao gồm toàn bộ các địa phương trong tỉnh và cả các tỉnh khác như Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, TP HCM, Quảng Bình, Hà Tỉnh, Hà Nội….
Ban nhạc cổ truyền của làng đã rất nhiều lần được mời tham dự các hội thi văn hóa – nghệ thuật do tỉnh nhà tổ chức và thường đạt giải cao. Giải nhất toàn đoàn trong Lễ hội văn hóa do huyện Đakrông tổ chức (lễ hội này có nhiều đoàn của Quảng Bình và Thừa Thiên Huế tham dự). Ngoài ra, các lễ hội văn hóa truyền thống khác của tỉnh nhà, ở phần nhạc cổ truyền ban tổ chức thường mời các nghệ nhân nhạc cổ của làng Bích Khê biểu diễn.
Câu lạc bộ Nhạc lễ cổ truyền thôn Bích Khê đã được thành lập năm 2008, bao gồm 30 thành viên, chủ nhiệm CLB là ông Đỗ Văn Thiện và ông Lê Trì. Nhưng do đặc thù của nghề nghiệp, các thành viên của CLB thường bị phân tán do phải đi phục vụ nhạc cổ nhiều nơi nên việc sinh hoạt CLB rất khó thực hiện. Hơn nữa, do khó khăn về kinh tế trong việc đầu tư cho cơ sở vật chất cho CLB. Vì vậy mà cho đến nay CLB chủ yếu mang tính chất của một tổ chức nghề nghiệp, chưa đi vào hoạt động một cách bài bản, mang tính chất của một tổ chức văn hóa nghệ thuật.
Có thể nói rằng: Nhạc lễ cổ truyền của làng Bích Khê đã có từ rất lâu đời, là một trong những cái nôi sản sinh và giữ gìn truyền thống nhạc lễ cổ truyền của tỉnh Quảng Trị. Đây là một loại hình nghệ thuật vừa mang tính văn hóa, vừa mang tính tâm linh. Nhưng rất tiếc là cho đến nay vẫn chưa được các cơ quan chức năng quan tâm, giúp đỡ, hướng dẫn trong việc giữ gìn và phát triển.

Ban nhạc lễ của làng Bích Khê
ĐTT.



