Địa Chí

Bài 10

NGH THY CÚNG

Ở LÀNG TA 

     Có một nghề tưởng là tầm thường nhưng không thể thiếu trong đời sống văn hóa tâm linh của người Việt Nam ta ,bao gồm cả 54 dân tộc ở thành thị,nông thôn và vùng núi: Đó là nghề thầy cúng.

Trước tiên cần phân biệt thầy cúng với các tăng ni Phật giáo thuộc sự quản lý của các giáo hội.Các tăng ni của giáo hội cũng rất thường làm lễ cúng ở trong chùa hoặc ngoài đời.Đó là các nghi lễ hộ niệm, nhập liệm,cầu siêu, cúng linh,cúng thất,trai đàn,an vị,cầu an hoặc cầu quốc thái dân an.Có khi được tổ chức với qui mô quốc tế  như đại lễ VESAK Liên Hiệp Quốc ở Hà Nội vào năm 2008 hoặc năm 2014 tại chùa Bái Đính –Ninh Bình.Các nghi thức tụng niệm của Phật giáo rất bài bản-từ kinh kệ,pháp khí đến lễ nhạc hòa hợp với nhau ,đạt được một trình độ nghệ thuật rất cao.Giáo sư Trần Văn Khê đã có một công trình nghiên cứu rất đặc sắc về nghệ thuật này,lấy tên là Âm nhạc trong Phật giáo. Đối với Phật giáo, đây không chỉ là là nghệ thuật mà còn là một pháp môn tu tập gọi là Hạnh tán tụng. Sở dĩ phải nhấn mạnh sự phân biệt này bởi vì giới tu sĩ Phật giáo chân chính rất ngại Hạnh tán tụng của mình bị đánh đồng với hoạt động của những người làm nghề thầy cúng.Và ngay trong giới thầy cúng cũng có sự phân biệt:

  • Thầy chùa: Là những người ở trong chùa,thờ Phật,tụng kinh ,sinh sống bằng nghề đi cúng.Họ có thể mặc áo,đội mũ giống một vị cao tăng nhưng thường ăn mặn và có thể có vợ con như những cư sĩ tu tại gia.Họ tự lập thành một giáo hội riêng gọi là Cổ Sơn Môn.Từ điển của Lê Ngọc Trụ định nghĩa: đó là tiếng gọi một cách mỉa mai để chỉ những người chuyên làm đám ăn tiền chứ không thiết gì đến kinh kệ,giáo lý nhà Phật.Trong công cuộc đấu tranh của phật tử miền Nam chống chế độ Ngô Đình Diệm vào năm 1963,giáo hội Cổ Sơn Môn ở Sài gòn bị mua chuộc , rúm ép,đã có thái độ đứng về phía chính quyền,phản đối giáo hội Phật giáo Việt Nam.
  • Các thầy cúng Tam giáo: Trên lý thuyết, họ theo Lão giáo,thờ Tam Thanh nhưng cũng linh động kết hợp cả Phật giáo và Nho giáo trong hoạt động cúng tế.Một số thầy cúng còn nhận chữa bệnh,trì bùa,yểm huyệt,trừ tà,đuổi ma.
  • Ngoài ra còn nhiều dạng thầy khác, bà con xa gần với thầy cúng như: đồng bóng,sai cơ,bói toán,thầy địa,thầy phù thủy (pháp sư),thầy phong thủy và gần đây là gần đây có thể kể thêm một số nhà ngoại cảm.Ở miền núi thì có các thầy Mo,thầy Tào…Không ít thầy cúng đã lợi dụng sự mê tín dị đoan của đồng bào miền núi cũng như miền xuôi để làm ăn bất chính,lừa tiền,gạt tình,đôi khi gây hậu quả rất nghiêm trọng.Tuy vậy nhu cầu văn hóa tâm linh của con người là có thật và luôn luôn cần có các dịch vụ tâm linh để đáp ứng.Do đó, từ xưa tới nay,nghề thầy cúng vẫn tồn tại và liên tục phát triển.

Hồi nhỏ,tôi có thời gian sinh sống ở làng quê và có ấn tượng khá sâu đậm về hình ảnh những ông thầy cúng ở làng.Có ông thầy chùa rất hiền lành dễ mến.Mỗi lần cúng xong ông thường phân phát cho mấy đứa nhỏ đứng chung quanh một vài món ăn được như chuối,khoai lang,đậu phụng…Ngược lại có ông thầy pháp rất dữ. Con nít hai ba tuổi bị cảm sốt được ông chữa bằng bài cúng quan sát. Ông dùng cái lồng gà nhốt đứa bé lại ,vẽ những lá bùa ngoằn ngoèo dán quanh lồng.Đoạn cầm cây chổi lông gà, vừa nhảy lò cò quanh lồng vừa hét: “ Tật bệnh tiêu trừ kim đao thỉnh giãi.Ứ! Ho hen nóng nảy kim đao thỉnh giãi.Ứ!Ừ Ư!… Nhà nọ có cô con gái mắc bệnh tâm thần thường lang thang ngoài đường nói lảm nhảm.Ông bảo rằng cô ta mắc tà Phạm Nhan và chữa bằng cách lấy roi dâu đánh thẳng tay. Vừa đánh ông vừa la : “ Tứ thánh mà đánh ngũ quỉ”. Xong cho người trói cả hai tay hai chân cô gái rồi xỏ đòn khiêng xuống sông dìm nước.Dìm lên dìm xuống độ mươi lần ,cô gái tím tái,không còn la hét nữa ông mới cho khiêng lên và bảo là đã trục được tà. Hồi đó không chỉ bọn trẻ con chúng tôi mà có khi cả người lớn được xem những cảnh gây cảm giác mạnh như thế thì đều rất thú vị.Lại còn có ông thầy bói ngao, mắt mù cũng kiêm nghề thầy cúng.Ai mắc bệnh gì ông cũng chỉ khấn lui khấn tới có một câu tám chữ: “ Ôn phong xạ tiễn.Kim tinh mộc thọ.” Tuy chữa bệnh bằng những cách phản khoa học như thế nhưng được cái may là các ông thầy cúng ở làng tôi chưa hề làm chết người ,cũng chưa hề lừa gạt ai phải tàn gia bại sản ngoài việc nhận khoản thù lao hợp với khả năng chi trả của thân chủ.

Cách đây mấy năm tôi có dịp về quê dự lễ khánh thành nhà thờ họ theo các nghi thức truyền thống.Ban tổ chức mời một ông thầy cúng rất trẻ,khoảng chưa tới ba mươi tuổi,cao ráo,đẹp trai và cũng là người bà con trong làng.Bài sớ chữ Hán của ông viết bằng bút lông bi, nét sắc sảo,rất đẹp.Tôi nhớ các bài sớ ngày xưa ở làng tôi thường có câu mở đầu là: “ Việt Nam quốc,Quảng Trị tỉnh,Triệu Phong phủ.Bích La tổng,Bích khê xã…” Nay ông thầy đọc câu mở đầu là: “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Quảng Trị tỉnh,Triệu Phong huyện…” Té ra ngôn ngữ trong bài sớ này đã được cập nhật hóa.Tôi tò mò tìm hiểu thì được biết thầy học chữ  Hán từ nhỏ,từng là sinh viên đại học Luật ở Hà Nội,do hoàn cảnh khó khăn phải bỏ học nửa chừng về quê lập gia đình rồi mưu sinh bằng nghề thầy cúng gia truyền.Ông thân của thầy lúc sinh thời vốn là một thầy cúng có tiếng ở trong làng.Đến đời thầy,nghề thầy cúng cũng theo trào lưu công nghiệp hóa và hiện đại hóa.Ông thầy cúng thời @ này đi xe tay gaz,xài iPhone và laptop.Nhờ có xe máy và iPhone,thầy có thể nhận lời mời đi cúng ở nhiều  địa chỉ trong ngày.Máy vi tính giúp thầy bổ sung kiến thức về dịch lý,phong thủy…Vốn là sinh viên Luật nên thầy  còn có văn phòng tư vấn về Luật ở thị xã.

Hôm ấy sau khi hoàn tất lễ cúng,thầy cởi đạo bào cất vào ba lô ,vui vẻ ngồi vào bàn chuyện trò với chúng tôi rất cởi mở.Tôi hỏi:

  • Giữa thầy cúng và luật gia,nghề nào dễ sống hơn?

Thầy cười,trả lời nửa đùa nửa thật:- Đối với tui thì làm ăn với người cõi âm thuận lợi hơn.

  • Thầy có tin ma quỉ không? Nếu có người mời thầy cúng đuổi ma trừ tà,chữa bệnh,thầy có nhận lời không?
  • Vấn đề không phải là mình mà là thân chủ có tin hay không.Đôi khi lòng tin của người bệnh

hổ trợ cho thầy thuốc và cả thầy cúng nữa.Riêng tui thì cúng cứ việc cúng nhưng vẫn phải khuyên bệnh nhân uống thuốc,nếu cần thì phải đi bệnh viện.Tuyệt đối không dùng bùa phép bậy bạ khiến bệnh nhân nguy hiểm tính mạng.Ở đây cái ranh giới giữa văn hóa tâm linh và sự lừa đảo trục lợi đôi khi rất khó phân biệt.Người thầy cúng bây giờ cần có thêm kiến thức về sức khỏe cộng đồng,về luật pháp và nhất là có lương tâm đạo đức nghề nghiệp.Có thế thì mới an toàn cho cả hai bên.

Nói đến đây thì có tiếng chuông điện thoại reo trong túi áo của thầy.Thầy nghe điện thoại rồi đứng dậy xin lỗi và cáo từ .Hình như có một thân chủ nào đó đang chờ thầy tới cúng.

Hiện nay nghề thầy cúng đang lên ngôi.Ngay ở thủ đô Hà Nội,thù lao cho các thầy cúng từ 1 đến 3 triệu đ.Có những đám cúng lớn,chi phí lên đến cả  vài trăm triệu đồng.Riêng đồ hàng mã để đốt cho người chết cũng tốn hàng chục triệu .Có nơi làm ăn phát đạt đến nổi có cả Hội thầy cúng hoạt động rất mạnh mẽ.Hội thầy cúng ở  tổ đình Trừng Mại (tỉnh Thái Bình) có cả Facebook.Ở tỉnh Hà Giang cũng có hội thầy cúng,tập hợp được cả những thầy Mo,thầy Tào  vào sinh hoạt.Điều đáng ngạc nhiên và đáng mừng là trong tôn chỉ mục đích của hội này có yêu cầu quan trọng là “ Bài trừ mê tín dị đoan”.

Nếu ông thầy cúng nào cũng thấy được vấn đề như ông thầy cúng ở làng tôi và nếu hội thầy cúng nào cũng được như Hội thầy cúng ở Hà Giang thì nghề thầy cúng sẽ có bộ mặt mới-thân thiện và lương thiện.Ngược lại thì ôi thôi! Không biết sao mà nói.

 

Dthth 1

Thầy Đỗ Thiên Thạch làm lễ tại nhà thờ Chi Nhất A.

PhÁp KhÍ

PHÁP KHÍ

                                                                                      THIÊN BỒNG

Bài 11

Tản mạn về ẨM THỰC quê mình .

                                                                                                                                                 BÌNH NHI

  • Cảm ơn củ SẮN

Trên bản đồ địa lý kinh tế và tài nguyên xứ Đông Dương thời Pháp thuộc do người Pháp vẽ vào thế kỷ trước thấy trên địa bàn tỉnh Quảng Trị ghi chữ Manioc nghĩa là củ sắn- (nhiều nơi còn gọi là khoai mì,củ báng).Quả thực củ sắn là một nông sản phụ quan trọng và cũng là một thế mạnh của tỉnh nhà.Cây sắn rất dễ trồng và mau thu hoạch.Từ đồng bằng đến nương rẫy trên vùng cao đều trồng được.Có thể nói chính nhờ củ sắn mà dân nghèo Quảng Trị đã vượt qua được nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu (1945).Và trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ sau này,cây sắn vẫn còn được xem là cây lương thực quan trọng để nuôi dân đánh giặc.

Tuy cả nước ai cũng biết ăn củ sắn nhưng có lẽ không nơi nào thứ nông sản này được chế biến thành nhiều món như ở Quảng Trị.Có thể kể:  củ sắn luộc,nướng,hấp cơm,rong thành sợi nấu canh,nấu cháo.Sắn mài thô làm bánh tu huýt,kẹo thèo lèo, bánh tầm bì… Đặc biệt là bánh bột lọc bọc tôm thịt .Gói trong lá chuối thì gọi là bánh lọc lá.Không gói lá thì gọi là bánh lọc trần hay bánh quai vạc.Tôi nghi rằng Quảng Trị quê mình là cái nôi của món bánh này.Ở Huế,bánh bột lọc Truồi ( huyện Phú Lộc-Thừa Thiên) có tiếng là ngon.Nhưng bánh bột lọc ở Mỹ Chánh (Hải Lăng-Quảng Trị) chấm nước mắm Mỹ Thủy có lẽ còn ngon hơn..

Lại nói trước đây xem bản đồ Đông Dương thấy tài nguyên của Quảng Trị mình chỉ có chữ Manioc,sao mà nghèo quá,trong lòng cũng hơi buồn.Nhưng những thập niên gần đây,cây sắn không còn mang hình ảnh nhà nghèo mà được chuyển thành loại cây công nghiệpNhiều nhà máy dùng củ sắn làm nguyên liệu chế biến bột ngọt,mì gói và rượu đế,rượu cồn.Ngoài lượng sắn cung cấp cho hệ thống tiêu dùng trong nước,Việt nam còn xuất khẩu sắn lát,sắn bột sang Trung Quốc và Philippines.Gần đây nhất trong năm 2022, cả đến lá sắn cũng được xuất khẩu.Rõ ràng cây sắn đã trở thành là một mũi nhọn kinh tế.Chứ nếu cứ nhìn  củ sắn mà chỉ nghĩ đến bữa ăn chống đói thì nghèo là phải.

  • ỚT NÀO LÀ ỚT CHẲNG CAY ?…

Câu tục ngữ nói trên rất đúng ở Quảng Trị.Đất Quảng Trị trồng ớt rất cay và người Quảng Trị ăn cay cũng rất giỏi.Tôi nghe kể rằng hồi đó có một đoàn cán bộ kinh tế Liên Xô đi mua ớt.Đến những nước sản xuất ớt nổi tiếng ở châu Mỹ La tinh như Chilê,Venezuela họ rất khó tính, cẩn thận dùng các thủ thuật sinh hóa để kiểm định chất lượng sản phẩm qua những chỉ số đo dộ cay của trái ớt.Còn đến Quảng Trị,họ cầm trái ớt chìa vôi bẻ cái bụp đưa lên mũi ngửi,thè lưỡi nếm thử  rồi gật đầu khen Kharasô ! (Tốt) và ký hợp đồng luôn chứ chẳng cần kiểm định gì nữa.Hồi đó,một tấn ớt của Quảng Trị có giá 600 Rúp/Đôla,ngang với giá một tấn cao su nguyên liệu thô.

Ngoài ớt chìa vôi,Quảng Trị còn có loại ớt cao sản,trái nhỏ chút xíu nhưng cay xé lưỡi gọi là ớt Mọi- (bây giờ  phải gọi là ớt Hiểm để khỏi mất lòng dđồng bào các dân tộc miền núi).Đồng bào các dân tộc Vân Kiều,Pakô… trồng ớt nầy để chế biến một loại nước tương gọi là cải xụp.Họ lấy trái ớt chín bỏ chung với lá cải cay (cải bẹ xanh) vào cối giả nát.Đem hổn hợp ấy ninh thật nhừ trên bếp lửa xong để nguội rồi dùng túi vải lược bỏ phần xác,lấy phần nước.Cải xụp chính là phần nước ấy.Đó là loại  nước tương kết hợp cái cay của trái ớt và của lá cải thành một món gia vị truyền thống của đồng bào vùng núi.Dần dần đồng bào kinh cũng biết dùng và rất ưa thích.Cải xụp có màu đen và đục ngầu,nhìn thì không bắt mắt lắm nhưng hương vị rất đằm chứ không cay xộc lên tận óc như những loại wasabi,mù tạc của Nhật.Tiếc là bây giờ  muốn mua những loại mù tạc của Nhật thì khá dễ dàng còn món cải xụp thì không biết tìm đâu cho thấy.

 

  • LÒNG THẢ MỸ CHÁNH

Vào những năm kinh tế khó khăn thời bao cấp,nhà nước có lệnh cấm giết thịt trâu bò để bảo tồn sức kéo trong sản xuất nông nghiệp.Ở Hà Nội xuất hiện món phở Heo thay thế phở Bò.Ở Huế thì trong tô bún bò giò heo cũng chỉ thấy cục giò heo chứ chẳng có lát thịt bò nào.Đối với dân sành ăn thì những món phở heo,bún heo này chỉ để chống đói chứ chẳng thú vị gì.Buồn tình các bạn trẻ ở Huế thường rủ nhau chiếu thứ bảy chạy xe máy ra Mỹ Chánh ăn Lòng Thả.Món Lòng Thả làm bằng cách đánh tiết heo hay tiết vịt cho tan rồi đổ vào nồi nước.Trong nồi đã có sẵn một ít gạo rang và đậu xanh và vài nhánh sả để nấu thành cháo loãng. Lòng heo hoặc lòng gà  vịt cắt miếng nhỏ, chờ cháo sôi đem thả vào nồi .Nấu chín thì nêm nếm gia vị đầy đủ rồi múc ra tô.Có người gọi món này là Lòng Sả vì thấy trong nồi nước dùng có mấy nhánh sả nổi bập bềnh.Nhưng tên chính xác của nó là Lòng Thả ,nghe lạ tai và hấp dẩn hơn.Thực khách nghe tên này thì tò mò,ưa  ngồi nhìn nhà bếp thả lòng vào nồi nước đang sôi rồi múc ra tô nóng hổi,vừa thổi vừa ăn.Trước năm 1975 chưa hề nghe thấy ở đâu có món Lòng Thả nầy.Chỉ sau năm 1975,nhằm thời kỳ  cả phở Bắc lẫn bún bò Huế đều xuống cấp thì món nầy bỗng xuất hiện như một sáng kiến để thay thế và quả nhiên món ăn chơi mới này đã không phụ lòng thực khách.Dân Huế phải chạy xe 40 km ra đến Mỹ Chánh để ăn thì có thể nói Lòng Thả là đặc sản rất thành công của ẩm thực Quảng Trị.

            Các món Bèo-Nậm-Lọc                                                                                                                          Lòng thả

 

  • PHONG PHÚ VÀ ĐA DẠNG

Từ xưa trong văn học dân gian Quãng Trị đã có những câu nói về đặc sản  của nhiều địa phương:

                            

Cá bống Bích La
Gà Trà Lộc
Môn độn An Đôn
Tôm đồng Mai Lĩnh
Bánh ít Đạo Đầu
Trầu nguồn Khe Gió
Cỗ Trung Đơn
Thơm Bồ Bản
Nghệ vàng An Lộng
Xôi thống Hải Thành…

 

Những thế mạnh nói trên có khi bây giờ không còn được như xưa.Nhưng vẫn có những câu ca dao gần gũi với đời sống hằng ngày của bà con:

  • Thợ rèn bị mất cái đe/Nghi ngờ mụ vợ đem về nấu canh. Đố là canh gì? ( Mất đe là me đất-Đây là câu đố về món canh me đất)
  • Cá lẹp kẹp với rau mưng.Ông ăn to miếng,mụ trừng mắt lên.
  • Cá nục nấu với dưa hồng.Đánh nhau một trận biết chồng về ai…

Cho đến nay những món như canh me đất,cá lẹp rau mưng,cá nục dưa hồng –vẫn  là những món ngon và rất quen thuộc trong bữa cơm gia đình của  người dân Quảng Trị.

Tỉnh Quảng Trị có tỉ lệ diện tích gò đồi rất lớn.Ngay cả Thành phố Đông Hà cũng xây trên những ngọn đồi.Thế mạnh của nền kinh tế gò đồi của Quảng Trị là  ở khả năng khai thác những cây sắn,chè, mít,cà phê,hồ tiêu,cao su…và cả những khoáng sản có giá trị nằm dưới lớp sỏi đá khô cằn. Ngoài ra trong  địa hình gò đồi ấy  còn có những đặc sản miễn phí của nền ẩm thực hoang dã.

“ Đói lòng ăn nửa trái sim

Uống lưng bát nước đi tìm người thương…”

Cây sim ở Quảng Trị có nhiều loại:sim bầu,sim ngân ba,sim bồ bồ…Nhờ khí hậu nắng nóng nên trái sim Quảng Trị chín no tròn,tím đen và ngọt lịm.Giả sử có ai đó bỏ ra chút vốn đầu tư làm một cơ sở sản xuất rượu sim như ở Phú Quốc thì hẵn những đồi sim bạt ngàn của tỉnh nhà không đến nỗi bỏ phí.Nếu không làm rượu thì trái sim chỉ dùng để ăn vặt mà thôi.Ngoài sim  ra,trên dồi còn có một vài loại cây khác mọc chung, có trái ăn được  như: cây me (mua),cây móc (trâm),cây bông trang,cây muồng (chà là)…Những loại trái cây này không có giá trị kinh tế gì cả nhưng lại  là quà tặng quí báu của thiên nhiên dành cho tuổi thơ hoang dại của những đứa trẻ nhà nghèo,thường đói bụng,lang thang mà không có tiền quà bánh.Vùng gò đồi ở Quảng Trị còn có hai loại nấm rất ngon là nấm mối và nấm tràm.Nấm mối thường mọc từng đám dưới những bụi sim, muồng vào khoảng thời tiết chớm lạnh giữa Thu-Đông.Nấm tràm thì có nhiều ở vùng Mỹ Chánh.Nhiều nơi khác ở trong nước cũng có địa hình gò đồi nhưng không hiểu sao lại rất hiếm khi tìm thấy hai loại nấm này.Nấm mối thường dùng nấu canh ,nấu cháo, hấp với xôi,chiên với trứng hoặc nướng lá chuối.Đây là loại nấm ăn ngon và đắt tiền nhất hiện nay .Nấm tràm thì có vị hơi đắng rất đặc trưng dùng để nấu canh, nấu cháo, ăn cũng lạ miệng.

Khoảng đầu năm 2004,Nhà xuất bản Trẻ ở TPHCM có xuất bản tập thơ Quê Mình của Tạ Nghi Lễ.Quê mình”, tức là quê của tác giả ở  Cam Lộ-Quảng Trị.Tác giả sinh ra và lớn lên ở đấy, hẳn đã nếm trải đủ mùi vị trần ai trước, trong và sau chiến tranh: Sóng lớp phế hưng, chuông hồi kim cổ, dâu bể thăng trầm… Nhưng trong Quê mình Tạ Nghi Lễ không nói nhiều về những chuyện đó. Anh trở về với quê nhà, như người hành hương về đất thánh, với lòng thiết tha mong tìm lại những giá trị thiêng liêng, vĩnh cửu, những thứ mà dầu bom đạn của chiến tranh hay cơn lốc của thời buổi kinh tế thị trường cũng không thể hủy hoại được.Đó là gì vậy – mà có thực hay không? Thưa có, và cũng chỉ là những cái bình thường, giản dị thôi. Một phiên chợ huyện miền núi ở “đuồi Cam Lộ” với đặc sản là một gói trà hột, một gói trà ô để rồi “anh đưa em tới chốn Dạ Hồ, em mua trái mít, em bồ trái thơm”…”. Khi đọc mấy câu: “… Có gì tặng em: một trái hồng leo/Anh hái về khi qua xóm Rú/Nụ hôn nào trao em rất vội/Giờ trói đời anh: dây mảnh chạc chìu”. Chỉ có dân Quảng Trị chính hiệu mới biết “hồng leo” và “chạc chìu” là thứ gì.Tạ Nghi Lễ dám đưa những thứ thô mộc đó vào thơ, thì trong tâm hồn anh trái “hồng leo” có khi thành trái đào tiên và sợi dây “chạc chìu” đã thành sợi xích thắng của ông Tơ bà Nguyệt.

Tôi cũng như Tạ Nghi Lễ và rất nhiều người đồng hương,đồng điệu khác,dầu đã đi nhiều nơi,nếm trải không ít mùi vị ngọt bùi cay đắng nhưng đôi khi trong lòng vẫn xôn xao ,thèm khát quay quắt  những món đặc sản đơn sơ nói trên của quê mình.Đây không phải chỉ là chuyện ẩm thực mà còn hơn thế- là quá khứ,hoài  niệm,là tình yêuvà nỗi nhớ quê nhà.

HPNP (Tháng 11.2022)

Bài 12

VỀ DIÊN SANH  
                ĂN CHÁO  VẠC GIƯỜNG.                       

                                                                                                                                           Lê Thị Thu Thanh

Hẳn những ai qua Quảng Trị không thể không đến Thành cổ một thời hoa lửa, sao không xuôi về phía nam thêm đầy 10km nữa, ghé vào Diên Sanh thưởng thức tô cháo bột Diên Sanh đậm chất quê nhà. Diên Sanh tên Nôm là Kẻ Diên tức là kẻ chợ xưa đi vào bài ca dao nối tiếng: Tháng Giêng, tháng Hai/ Tháng Ba, tháng Bốn/ Tháng khốn, tháng nạn/ Đi vay đi dạm /Được một quan tiền/ Ra chợ Kẻ Diên/ Mua một vác tre/ Về che cái quán… Còn bây giờ gọi là thị trấn Hải Lăng.

Mảnh đất gió Lào cát trắng làm cho nơi này thêm cằn cỗi cuốn theo gió bụi của thời gian, nhưng gió cũng níu giữ chân thực khách mỗi khi ghé qua. Để rồi lên xe về nhà cứ nhớ mãi món ăn đặc sản gió Lào Quảng Trị và thầm trở lại. Một trong những món ăn đặc sản đó là cháo bột cá tràu hay gọi theo dân nơi đây là “cháo vạt giường”. Người Quảng Trị đã đem “cháo vạt giường” làm nên câu ca dao nằm lòng trong nhung nhớ của bao người:

Hải Lăng bán cháo vạt giường /Trí Bưu bán ngói, Xuân Trường bán dưa.
Nhớ chi như cháo vạt giường/ Đứng mơ mùi ném, ngồi thương mùi hành

Từ Ngã 3 Hải Lăng đi dọc xuống bờ hồ bạn sẽ tìm thấy chục quán cháo bột. Nhưng Quán Thanh Thủy được xem là quán ngon nhất từ xưa đến nay. Quán rất sạch sẽ thoáng mát, phong cách phục vụ nhiệt tình, chu đáo.

Đặc trưng cháo bột ở đây thứ nhất là cách thức làm bột gạo. Chủ quán Thanh Thủy cho biết họ không mua bột bán sẵn ngoài chợ mà mua gạo về rồi tự xay, lọc, lắng thành bột khô. Vì thế cánh bột rất mềm và tươi ngon, thơm mùi gạo lại không bị chua, bán bao nhiêu làm bấy nhiêu chứ không để dư thừa.

Thứ hai, là cách thức chọn cá đó là cá tràu (có nơi gọi là cá quả, cá lóc, v.v…). Cá tràu phải chọn loại thật tươi, còn sống, đem làm sạch. Cá tràu làm xong để nguyên con luộc vừa chín tới, tách thịt ra ướp kỹ cùng với các gia vị khác như muối, tiêu, ớt, ném. Xương cá xay ra chắt lấy nước nấu cháo. Khi bột chín tới thì thả cá vào cho thấm ngọt.

Thứ ba, để làm nên tô cháo bột thơm ngon không thể thiếu yếu tố gia vị, ở đây còn có một loại cây họ hành, được gọi là cây ném, củ và cây đều có mùi cay cay, thơm ngon rất đặc trưng, không thể lẫn với các loại rau màu khác. Khi thực khách ngồi vào bàn, chủ quán nhanh nhẹn múc vào một tô nhỏ xinh, một nhúm sợi vạt giường, một chút thịt cá lóc phi thơm, rắc thêm hành ngò, lọ ớt tươi dầm để sẵn ở bàn thực khách có thể thêm vài miếng ớt.

Cháo bột Hải Lăng

Ăn cháo ngon nhất là phải ăn thật nóng, vì vậy bạn đừng ngạc nhiên ngay giữa trưa nắng như đổ lửa, khách vẫn xì xụp tay thìa tay đũa với món cháo vạt giường cảm nhận mùi vị thơm ngon từ mùi thịt cá, ngọt ngào sợi bột bốc lên nghi ngút từ tô cháo xen lẫn vị cay xè của ớt tươi, cay đến xé lưỡi cháy họng vừa ăn vừa cứ hít hà, nước mắt nước mũi cứ trào ra, trán rịn mồ hôi.

Vị cháo cá ngon ngọt, thơm nức mê mẩn khách ngay từ lần ăn đầu. Hương vị hấp dẩn làm chúng tôi không thể nào quên Quán cháo bột Thanh Thủy và được loan truyền xa vì nó ngon, nó thấm thía, ăn như thể “ngậm mà nghe”.

Món cháo bột đặc sản Quảng trị là vậy đó, hương vị trứ danh của cháo bột Diên Sanh đã đi vào lịch sử của lớp người thưởng thức như tôi cùng bè bạn. Văn hóa ẩm thực đã trở thành di sản chung, hương vị chung cho người dân xứ Quảng quê mình.

                                                                                                                                                              LTTT

0 Chao Vat Quang Tri

Tô cháo ” Vạt giường”

 

Bài 13

SỰ THÀNH LẬP CÁC LÀNG CỔ

                                       ở Quảng Trị

Posted on 24/04/2020 by thanhdiavnh  0

Tác giả: Linh mục Stanislao Nguyễn Văn Ngọc

     Linh mục Stanislao Nguyễn Văn Ngọc sinh năm 1910, quê ở làng Dương Lộc (Triệu Phong), tốt nghiệp chủng viện An Ninh (Cửa Tùng) và Đại chủng viện Huế, là một nhà cổ học hiểu biết sâu rộng về truyền thống văn hóa – lịch sử Quảng Trị, suốt đời gắn bó với mảnh đất quê hương.

Bài này được ông viết và đăng trên tạp chí Cửa Việt năm 1990 và cho đến nay, các thông tin về làng trong bài có thể đã đổi khác. Sau đây là nguyên văn bài viết của tác giả.

1. Cách tổ chức thôn xã thời xưa

Tác giả Phạm Văn Sơn trong cuốn Việt Sử Tân Biên II trang 320 đã viết : Đối với xã hội Việt Nam thời xưa, một xã hội hoàn toàn nông nghiệp, xã thôn là nền tảng. Chế độ và tổ chức xã thôn xuất hiện từ thời Trần theo nguyên tắc dân chủ vì xã thôn có những quy lệ riêng do các phong tục, tập quán được nhân dân tôn trọng, cấu tạo. Nó là ý dân ở từng địa phương một. Nó đã gây nên một chế độ tiểu quốc gia trong một quốc gia và đã xây dựng được nền tự trị của nó về kinh tế, chính trị, cũng như văn hóa. Câu “ phép vua thua lệ làng” đủ tỏ cái uy tín của xã thôn đối với nhân dân Việt Nam….Xã thôn có nhiều uy quyền nên đã phát triển được mọi sáng kiến, mà vì đó, nhiều tục lệ của xã thôn mặc nhiên được nhà nước công nhận.

Đời vua Lý Anh Tông (1171-1172) đã có các bản đồ các xã thôn và nhà Lý đã đặt chức “xã quan” để cai trị xã thôn. Nhà Trần cũng theo luật lệ nhà Lý trong việc hướng dẫn xã thôn, gọi là “Quan đại tư xã” và “ Quan tiểu tư xã”. Mỗi vị cai trị hoặc hai xã hoặc ba bốn xã. Do đó, nhà Trần lập các đình làng bên các quan lộ như công đường, để các “quan xã” tới làm việc tại đó cho sát cánh nhân dân xã. Nhưng từ đời vua Trần Nghệ Tông (1370-1372) chế độ xã thôn vì chế độ hoàn cảnh thời bấy giờ mà sinh ra nhiều sự đồi tệ, nên ông Hồ Quý Ly, lúc còn làm quan, đã đứng ra cải tổ. Đó là xã thôn trải qua ba nhà : Lý, Trần, Hồ.

Đến năm 1407, quân nhà Minh qua xâm chiếm nước ta và diệt họ Hồ. Nhà Minh tổ chức xã thôn Việt Nam theo kiểu Trung Quốc như sau : tại nông thôn thì chia ra Lý và Giáp, tại thành phố thì chia ra Phường. Cứ 110 hộ thành một Lý, có vị Lý trưởng cai trị, và cứ 10 hộ làm một Giáp có ông Giáp thủ. Hai vị này cầm đầu và kiểm soát xã thôn. Như vậy mỗi làng có nhiều người để kiểm soát, trong coi, chịu trách nhiệm về mọi hành động của nhân dân. Có bản đồ ruộng đất, có sổ đinh và sổ điền và có bản danh sách các gia đình, kê khai đủ mọi điều.

Năm 1428, sau khi vua Lê Lợi đã đuổi được quân Minh ra khỏi nước, thì các cơ cấu hành chính xã thôn được thay đổi chia ra ba cấp : đại xã có trên 100 người, được đặt dưới ba vị quan xã cai trị; trung xã có trên 50 người, đặt hai xã quan và tiểu xã có 10 người trở lên, đặt một xã quan.

Một cuộc cải tổ hoàn toàn mới được ban hành, là trong các chế độ trước các quan cai trị xã thôn là do triều đình đặt ra, nhưng từ đời vua Lê Thánh Tông (1460-1479) cơ cấu cai trị xã thôn do dân làng bầu ra như sau : Mỗi đại xã có ba xã trưởng, còn tiểu xã có hai người. Các viên chức này là những đại diện của dân về tri thức và hạnh kiểm. Khi dân bầu xong, họ còn phải do quan trên phúc hạch lại.

Điều lệ bầu viên xã trưởng như sau : hội đồng toàn dân lựa chọn, hoặc lấy người cao niên, hoặc giám sinh, sinh đồ mà học lực chưa thành đạt, hoặc phần tử thuộc lương gia đệ tử từ 30 tuổi trở lên. Bầu sai nguyên tắc sẽ phải tội. Nếu cần thêm người giúp việc thì cho phép lấy thêm vị thôn trưởng. Để tránh việc bè đảng, ở mỗi làng, người nào đã ra làm xã trưởng thì người cùng họ với xã trưởng, không được giữ chức xã trưởng thứ hai.

Số dân trong xã thôn cũng có sự quy định như sau : một trăm nhà là tiểu xã, hai trăm nhà trung xã, ba trăm nhà là đại xã. Như vậy, đời Lê Thánh Tông có lẽ số nhân khẩu nước ta đã tiến rõ rệt, vì làng nhỏ đã có 100 nhà, còn đời Minh thuộc, một lý chỉ có 110 nhà mà thôi. Ngoài ra còn đặt vị Chánh tổng có nhiệm vụ liên lạc các xã thôn với nhau ngoài các cấp lý trưởng, giáp trưởng, thôn trưởng là các cấp dưới dùng vào việc cai trị nhân dân. Các xã thôn còn phải chọn các người già cả có đạo đức làm trưởng.

Vua Lê Thánh Tông năm thứ 7 niên hiệu  Quang Thuận (1460-1469) rồi qua niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) mới định bản đồ xã thôn toàn quốc mà được gọi là : “Địa bộ nhà Lê”. Trong đó dưới phủ huyện châu thì có : hương, phường, xã, thôn, trang, sách, động, nguyên. Đến đời nhà Mạc (1527-1554) lại lập địa bộ mới, gọi là “ Địa bộ nhà Mạc”, trong đó chỉ chia ra cấp xã mà thôi. Do đó sách Ô Châu Cận Lục viết năm 1553 đã theo địa bộ nhà Mạc mà ghi bản danh sách 173 xã tỉnh Quảng Trị thuộc bốn huyện : Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng như sẽ kể sau.

Một ngôi làng của người An Nam, Ảnh : Marie Charles Désiré Lemire

2. Cuộc Nam Tiến lần thứ nhất (1075) vào Vĩnh Linh và Do Linh

Núi Hoàng Sơn là ranh giới giữa hai nước Việt  – Chiêm. Thế rồi từ năm 1064 người Chăm đưa quân ra quấy rối ranh giới, nên năm 1069 vua Lý Thánh Tông xuống chiếu xuất quân và thân chinh đi đánh. Chọn Lý Thường Kiệt làm nguyên soái đem 5 vạn quân đi tiên phong theo đường biển, qua các vùng đất Chàm hồi đó là : Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và Quảng Nam. Đến cửa Nhật Lệ thuyền quân Việt bị thủy quân Chàm chặn đánh, nhưng quân Chàm bị thua. Đại quân Việt tiến lên và ghé nghỉ lại tại cửa Ô Long của Chàm (nay là cửa Tư Hiền- Thừa Thiên Huế), rồi theo bờ biển đến cửa Thị Nại (Quy Nhơn). Tại đây, quân hai bên đánh nhau kịch liệt, quân Chàm chết nhiều không kể xiết. Vua Lý Thánh Tông vào kinh đô Trà Bàn (Bình Định) của Chàm. Chế Củ của Chàm đang đêm đem vợ con chạy trốn. Tướng Lý Thường Kiệt chạy theo bắt được Chế Củ và thuộc hạ đem về Thăng Long (Hà Nội). Vua Chế Củ xin dâng ba châu : Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh. Theo sách Việt Nam gấm vóc, là dải đất từ Hoành Sơn tới sông Cam Lộ. Bắt đầu từ đây, cửa sông Cam Lộ gọi là cửa Việt. Sông này từ Đông Hà gọi là Đò Điếu. Châu Ma Linh của Chàm sau này được đổi tên thành Châu Minh Linh, ngày nay là đất hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh, phần đất phía bắc Quảng Trị, từ Hồ Xá tới sông Cửa Việt.

Người Chàm chống đối việc vua Chế Củ nhường đất ba châu trên cho nhà Lý, nên họ cứ nhùng nhằng ở lại trên đất đã nhượng qua 6 năm (1069-1075) không chịu rút đi. Hơn nữa năm 1074 quân Chàm lại ra đánh phá biên giới Việt. Vì thế, năm sau 1075 nhà Lý lại sai tướng Lý Thường Kiệt đem quân vào đánh, vẽ họa đồ về hình thế sông núi ba châu, rồi rút quân về. Sau đó người Chàm tự động ra đi.

Sau khi người Chàm rút đi, nhà Lý ( năm 1075) xuống chiếu chiêu mộ nhân dân tới ở. Hưởng ứng lời kêu gọi, nhiều người đã từ phía bắc, đa số là người Nghệ An ở gần đó đến đất châu Minh Linh khai khẩn làm ăn thay thế người Chàm mà lập ra hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh phía bắc tỉnh Quảng Trị như đã có ngày nay.

Sử sách không ghi chép việc nhà Lý đã tổ chức cuộc di dân này như thế nào. Nhưng nếu ta nhìn vào cuộc di dân đợt ba do nhà Hồ tổ chức vào năm 1402, cách ba thế kỷ sau, thì phải nhạc nhiên. Năm đó người Chàm dâng đất Chiêm Động và Cổ Lũy (Quảng Nam, Quảng Ngãi), nhà Hồ chia hai nơi này làm bốn châu : Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, rồi đưa dân vào ở. Cuộc di dân này được tổ chức như sau : họ Hồ ra lệnh di dân. Người nghèo ở Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, có của mà không có ruộng đất, được tổ chức thành đoàn như quân đội, đưa cả vợ con đi theo, chia nhau chiếm hữu các nơi đất mới để khẩn hoang lập nghiệp. Họ phải xăm ở bên cánh tay tên châu mình trú ngụ. Vấn đề trâu bò cũng được giải quyết. Ai nộp nhà nước trâu bò để cấp cho di dân đều được ban phẩm tước.

Lúc đầu người di dân vào phía bắc Quảng Trị có lẽ thưa thớt, nhưng dần dần họ sinh con đẻ cháu ra đông.  Theo nguyên tắc “di dân lập ấp”, vừa tới nơi họ bắt đầu lập thành xã thôn và đặt tên xã mình bằng hai cách :

– Những người cùng một họ tộc, thường tụ tập một nơi, lập thành xã và lấy tên họ tộc mình mà gọi tên xã mình như : xã Hồ Xá, xã Phan Xá,..

– Ngoài ra phần đông các xã khác do nhà nước đặt tên bằng chữ Hán hay nhữ Nôm : xã Tân Sài, xã Cổ Trai,…Về sau, chúa Nguyễn Hoàng và các đời vua sau này có đổi tên một số xã. Vậy từ năm 1075-1553, trải qua gần năm thế kỷ, có 65 xã được thành lập trên đất hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh, mà chúng tôi gọi là “xã cổ”, vì nếu tính đến nay thì các xã đó đã được thành lập gần 9 thế kỷ rồi. Danh sách các xã cổ trên được ghi trong sách Ô Châu Cận Lục như sau :

1- Tùng Công (Liêm Công); 2 – Tân Sài; 3-Minh Ái; 4-Lân Trì; 5-Cổ Trai; 6-Tùng Luật; 7-Đan Duệ; 8-Tang Ma; 9-Lâm Sài; 10-Sa Lung; 11-Hàm Hòa (Hòa Lạc); 12-Hồ Xá; 13-An Điền; 14-Thượng Lập; 15-Trung Lập; 16-Lai Cách; 17-Xuân Mỹ; 18- Bắc Bạn; 19-Mô Nham; 20-Thạch Ma; 21-Cổ Hiền; 22-Tiên Trạo; 23-Vũ Tá; 24-Phan Xá; 25- Hoàng Các Thượng; 26- Hoàng Các Hạ; 27-Tân Manh; 28- Nguyễn Xá; 29- Lâm Cao; 30-Tử Lai; 31-Đặng Xá; 32-Duy Viên; 33- Lại Xá; 34-Thủy Ba Thượng; 35-Thủy Ba Hạ; 36-Vũ Xá; 37- Kinh Môn; 38-Bùi Xá; 39- Lệ Môn; 40- Cao Xá; 41- Gia Môn (Da Môn); 42- Hương Gia; 43- Lại Phúc; 44- Phúc Thị; 45- Hà Lạc Thượng; 46- Hà Lạc Hạ; 47- Hy Nguyễn; 48- Trí Tuyền; 49- Trúc Lâm; 50- Sùng Hoa Thượng; 51- Sùng Hoa Hạ; 52- Mai Xá; 53- Diêm Hà Thượng; 54- Diêm Hà Hạ; 55- Lâm Ngang; 56- Duy Phiên; 57- Thần Thái; 58- Xuân Lôi; 59- Hải Chữ; 60- An Bạch; 61- Bào Phố; 62- Thụy Khê; 63- Nhĩ Thượng; 64- Nhĩ Hạ; 65- Nhĩ Trung.

Như vậy, số xã tại hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh không có tên trong bản danh sách nói trên, tức là những xã đã được thành lập sau năm 1553 như xã Di Loan; xã Cát Sơn,…Sau khi nhà Lý đã lấy ba châu (Minh Linh, Địa Lý, Bố Chính) thì người Chăm căm thù người Việt. Năm 1104, Chàm đem quân lấy lại ba châu. Nhưng sau mấy tháng, vua Lý Thánh Tông lại sai tướng Lý Thường Kiệt đem quân vào đánh, quân Chàm thua phải trả lại ba châu. Rồi trong đời vua Trần Thái Tông (1225-1268), Chàm thỉnh thoảng lại qua quấy phá ven biển và cứ đòi lại ba châu đã nhượng.

3. Cuộc Nam Tiến lần thứ hai (1307) vào Triệu Phong và Hải Lăng

Cuộc Nam tiến lần 1 vào phía bắc Quảng Trị do chinh chiến thì cuộc Nam tiến đợt 2 do tình duyên, là 232 năm (1075-1307).

Năm 1301, vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho Trần Anh Tông, rồi ngài đi chùa Võ Lâm (Ninh Bình). Cùng năm đó, ngài rời chùa đi tham quan nước Chàm trong thời gian 9 tháng. Ngài có gặp Chế Mân vua Chàm và có hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua. Sau đó ngài trở về nước. Mãi tới 5 năm sau (1305), vua Chế Mân sai sứ thần và 100 người Chàm mang vàng bạc, hương quý, vật lạ sang cống xin cưới. Nhưng triều đình nhà Trần nhiều quan không tán thành cuộc tình duyên Việt – Chàm này. Thấy vậy, vua Chế Mân xin dâng hai châu Ô, Lý (từ sông Cửa Việt tới tỉnh Quảng Nam) làm lễ cưới, bấy giờ nhà Trần mới quyết định gã.Tháng 6 năm  Bính Ngọ (1306), công chúa Huyền Trân về nhà chồng. Đoàn đưa dâu đi đường biển từ Thăng Long tới cửa Ô Long ( Tư Hiền). Thuyền đậu tại đấy rồi đoàn đưa dâu lên bộ đi tới kinh đô Chàm. Hồi đó, cửa Ô Long là một hải cảng lớn của Chàm, thuộc châu Ô có phong cảnh sơn thủy đẹp. Phía Nam giáp núi Cát Sơn, phía đông gần núi Quy Sơn (nay gọi là động Hòn Rùa hay núi Linh Thái) và núi Túy Vân, phía tây bắc thì trời nước mênh mông, vì từ nguồn Kim Trà, Cổ Nông, Hưng Vĩnh, Cao Đồi đổ đến. TRên chóp núi Quy Sơn và Túy Vân người Chàm đã xây cất nào tháp, nào chùa mà nay đã bị sụp đổ. Vì đoàn đưa dâu nghỉ lại đây nên nhà Trần đã đổi tên cửa Ô Long thành cửa Tú Dung, nhưng về sau Mạc Đăng Dung cho là chữ húy nên đổi lại thành cửa Tú Khách, rồi chúa Nguyễn đổi thành cửa Tư Hiền cho tới nay.

Năm tiếp theo cuộc đưa dâu (1307) nhà Trần thu nhận hai châu Ô, Lý của Chàm rồi đổi tên thành châu Thuận và châu Hóa. Đất đai huyện Triệu Phong và Hải Lăng, phía nam tỉnh Quảng Trị thuộc châu Thuận. Nhà Trần ra chiếu cho di dân vào ở. Hưởng ứng lệnh của nhà nước, người Nghệ An, Quảng Bình và bắc Quảng trị vào lập làng và khai khẩn đất mới từ sông Cửa Việt tới phía bắc tỉnh Quảng Nam. Quan hành khiển Đoàn Nhữ Hài được cử vào việc lập guồng máy cai trị ở đó.

Cũng như trong cuộc di dân lần 1, người Chàm rút lui để lại làng mạc, ruộng đất, vườn tược cho người Việt, người di dân tới ở và khai thác thêm. Họ lập xã thôn và gọi tên bằng nhiều cách, hoặc bằng tên họ tộc như : xã Trương Xá, xã Hoàng Xá hoặc bằng di tích lịch sử như xã Cổ Thành, hoặc bằng nghề nghiệp như xã Bố Liêu ( làm vải) hoặc bằng chữ Hán hay chữ Nôm do nhà nước đặt như xã Phúc Lộc, Hà Bá. Về sau chúa Nguyễn Hoàng có đổi tên một số xã.

Từ năm 1307-1553 người di dân đã thành lập được 59 xã trên đất Triệu Phong và 49 xã tại huyện Hải Lăng mà sách Ô Châu Cận Lục đã ghi lại như sau :

– 59 xã thuộc huyện Triệu Phong :

1- Hoa Vi; 2- Đông Dương; 3- Diên Cát; 4- An Nghi; 5- Cổ Lũy; 6- Toàn Giao; 7- Đan Quế; 8- Phương Lang; 9- Cổ Kinh; 10- Trung Đan; 11- Tiểu Khê; 12- Văn Phong; 13- Linh Vũ; 14- Linh Chiểu; 15- Đạo Đầu; 16- Hội Khách; 17- Đại Hào; 18- Hòa Điều; 19- Vân Đóa; 20- Vân Động; 21- Hướng Ngao; 22- Thượng Đô; 23- Hạ Đô; 24- Lang Gia; 25- Nhan Qua; 26- Ôn Tuyền; 27- Ái Tử; 28- Trung Chỉ; 29- Thượng Độ; 30- Hạ Độ; 31- Nghĩa Đoan; 32- Chính Lộ; 33- Thượng Nguyên; 34- Trà Bát; 35- Vĩnh Phúc; 36- Thiên Áng; 37- Lai Cách; 38- Thanh Đằng; 39- Trâm Hốt; 40- Trúc Giang; 41- Kỳ Trúc; 42- Bích Đàm; 43- An Cư; 44- An Việt; 45- Trúc Liêu; 46- Bố Liêu; 47- Lâm Gia; 48- Trương Xá; 49- Chính Đường; 50- Kim Đâu; 51- Trúc Kính; 52- Trúc Giang; 53- Tiểu Áng; 54- Tam Vô; 55- Liên Trì; 56- Tài Lương; 57- Phù Ba; 58- An Nhân; 59- An Nghiệp.

– 49 xã thuộc huyện Hải Lăng :

1- An Thư; 2- Vĩnh Hưng; 3- Văn Quỹ; 4- Câu Nhi; 5- Hà Lộ; 6- Lãng Uyên; 7- Đoan Trang; 8- Diên Sinh; 9- Câu Hoan; 10- Trà Trì Thượng; 11- Trà Trì Hạ; 12- Lam Thủy; 13- Mai Đàn; 14- Hương Lan; 15- Hương Liễu; 16- Long Đôi; 17- Thái Nại; 18- An Khang; 19- Hoàng Xá; 20- Xuân Lâm; 21- Tích Tường; 22- Như Lệ; 23- Thạch Hàn; 24- Cổ Thành; 25- Thương Mang; 26- Hoa Ngạn; 27- Phù Lưu; 28- Nha Nghi; 29- Hữu Điều; 30- Hoa La; 31- An Lộng; 32- Hà Mi; 33- Nại Cửu; 34- Dương Lệ; 35- Dương Chiếu; 36- An Toàn; 37- Động Giám; 38- Dã Độ; 39- An Giã; 40- Quảng Đâu; 41- Đâu Động; 42- Phúc Lộc; 43- Đại Bối; 44- Tiểu Bối; 45- Tiểu Bị; 46- Đại Bị; 47- An Hưng; 48- Hà Bá; 49- Đâu Kim.

Tính đến nay số 108 xã thuộc cổ Triệu Phong và Hải Lăng kể trên đã thành lập gần 7 thế kỷ (1307-1990). Số các xã khác không có tên ở trên là những xã được thành lập sau năm 1553. Vậy số xã cổ tỉnh Quảng Trị đã trải qua bao biến cố thăng trầm mà tồn tại tới nay, thật là :”đá trôi, làng không trôi”.

4. Các xã thành lập từ Nguyễn Hoàng về sau 

Trong các phần trên, chúng tôi đã ghi tên 173 xã cổ có trước đời chúa Nguyễn Hoàng (1075-1558). Sau đây, xin ghi thêm một số xã cổ có từ đời Nguyễn Hoàng về sau : (1558-1776).

     1. Huyện Hải Lăng

1- Tổng Hoa La, các xã : Hồng Khê (nay là Bích Khê), Nại Diên, Tả Hữu, An Tiêm, Cổ Bưu, Phù Lưu, Dư Triều, Hậu Lễ, Long Hưng, Vệ Nghĩa, Xuân An, Vạn Long, Na Nẫm

2- Tổng An Thư, các xã : Mỹ Chánh, Hội Kỳ.

3- Tổng An Dã, các xã : An Trung, Đại Hòa, Quảng Điền, Vũ Thuận, An Lệ nhị giáp, Duy Hòa, Giáo Liêm, Phụ Tài, Thanh Liêm, Quảng Lượng, Hiền Lương, Phan Xá, Trúc Đăng.

4- Tổng Câu Hoan : các xã : Trường Sinh, An Phúc, Hà Lộc, Lương Phúc, Miển Trạch, Đổ Phùng.

5- Tổng An Khang, các xã : An Khang, Đại Nại, Trà Lộc, La Duy, Hương Vân, Anh Hoa, Tam Hữu, Duân Kinh, Thi Ông, Thượng Xá, Trâm Lý, Xuân Lâm, Mai Lộc, Phú Xuân, Mai Hoa, Mai Đàn, Thượng Thôn.

     2. Huyện Đăng Xương (Triệu Phong)

1- Tổng An Phúc, các xã : An Phúc, Hòa Viện, Diên Phúc, Kim Giao, Kim Lung, Đan Quế, Hội Yên, Đà Nghị, Ba Du, Phúc Kinh, Thượng An, Đôn Điềm, Thâm Khê, Mỹ Thủy, Tân An.

2- Tổng An Lưu, các xã : An Lưu, Hương Liệu, Thượng Trạch, An Phú, An Trụ, Đồng Bào, Tài Lương, Thanh Lê, Mỹ Khê, Xuân Dương, Trung An, Phú Hải, Phủ Toàn, Ba Lăng, Văn Phong, Gia Đẳng, Thuận Đầu, An Bôi, Tân An, Ngô Xá đông giáp, Ngô Xá tây giáp.

3- Tổng An Cư, các xã : An Cư, Bồ Bản, Hà Bá, Linh An, Đăng Long, Lại Phú, Lỗ Truyền, An Trạch, Nho Lý, Lưỡng Toàn, Hạo Ly, Như Liễu, Mỹ Lộc, Tân Định, An Việt, Phúc Lễ, Tường Vân, Vân Tường, An Tục, Phụ Lũy, Khang Vĩnh, An Toàn, Tân An.

4- Tổng An Đôn, các xã : An Đôn, Thượng Phúc, Phúc Toàn, Phù Ang, Trà Lễ, Lại Phúc, Vân An, Hà Xá, Đại Áng, Lập Thạch, Phương Lương, Phú An, Lăng Phúc, Điếu Ngao, Đông Hà, Đông Vu, Y Bích, Bạch Câu, Cây Khế, Giang Hiếu, Hà Xá, Thiết Trường, Tử Chính, THiết Tường, Hạ Phương, Sơn Trạch, Sơn Hằng, An Trung, Ngũ Giáp.

5- Tổng An Lạc, các xã : An Lạc, Phả Lại, An Bình, Phú Ngạn, Trúc Khê, Nhật Lệ, Thuận Đức, Lâm Lang, Phi Hữu, An Thịch, Bào Đá, Trung Bác, Phả Lại, An Xuân, Phúc An, Khang Mỹ, An Bình, Khang Thái, Tân An, Ba Xuân, Cây Lúa, Bái Sơn, Thiết Trường, Cam Lộ, Thiên Xuân, Bố Chính, Quật Xá, An Sát.

     3. Huyện Minh Linh (Vĩnh Linh và Gio Linh)

  1. Tổng An Xá, các xã : An Xá, Kinh Môn, Trung Xá, Lang Môn, Hương Đình, Hà Thượng, Hà trung, Hà Hạ, Phúc Xuân, Lâm Xuân, Vĩnh Hòa Thượng, Vĩnh Hòa Hạ, Kỳ Trúc, Tân An, Kỳ Lâm, Lịch Tân, Bào Cục, Hương Đình, Liễu Môn.
  2. Tổng Minh Lương, các xã : Minh Lương, An Do, Gia Lâm, Phúc Lâm, Di Loan, Thạch Tuyền, Thủy Bạn, Cồn Cát, An Xá, Để Vòng, Châu Thị, Thịnh Mỹ, Mỹ Lộc, Tứ Chính, Tân Khang, Thương Tuyền, Sa Lung, Phú Trường, Phú Xuân Thị, An Khang.
  3. Tổng Bái Trời, các phường : Tân An, An Hướng, Trung An, An Định, Cảnh Sơn, Long Sơn, Gia Định, Hương Khê, Phú Ốc, Thượng Nhâm, Khang Xá, Phú Vinh, An Định Nha, An Phúc, Nam Dương, Bình An, Phú Xuân, Khe Sông, An Lộc.
  4. Tổng Thủy Ba, các xã : Tiên Trạo, Nguyễn Xá, Duy Viên, Tiên An, Lô Xá, Tứ Lai, Cổ Hiền, Hoàng Xá Thượng, Hoàng Xá Hạ, Mỹ Xá, Phúc Thuận, Đại Phúc, Phúc Lộc.
  5. Tổng Yên Mỹ, các xã : Yên Mỹ, Thời Thừa, Hoàng Hà, Diêm Hà Trung, Hà Lợi Thượng, Hà Lợi Trung, Hà Lộc, An Lộc, Đại Lộc, Ngọc Giáp, Trung An, Phúc An, Bạch Câu, Tây Giáp, Xuân An, Trù Cương, Xuân Lung, Mai Xá Thị, Cảnh Dương.

Sách Phương Đình Dư Địa Chí của Nguyễn Văn Siêu nói nhà Lê đã lập địa bộ Quảng Trị, nhưng chúng tôi không được bản lưu chiếu. Nhà Mạc đã soạn châu Bộ Quảng Trị, có bản lưu chiếu trong sách Ô Châu Cận Lục, do ông Dương Văn An ghi lại năm 1553, mà chúng tôi đã kể trong phần trên. Các chúa Nguyễn đã lập địa bộ Quảng Trị, có bản lưu chiếu do ông Lê Quý Đôn viết trong cuốn Phủ Biên Tạp Lục vào năm 1760, mà chúng tôi đã ghi trên. Bản địa bộ họ Nguyễn đã viết rõ ràng có huyện, tổng, xã, số làng được thêm nhiều và nhiều làng được đổi tên như làng Dương Chiếu ra làng Dương Lộc, làng Đại Bị ra làng Đại Lộc,…Sau mấy mươi năm nổi loạn giữa 3 nhà : Nguyễn, Trịnh và Tây Sơn, rồi Gia Long phục quốc và hạ sắc dụ quản tu địa bộ. Mỗi làng nhận bản địa bộ riêng và được giao cho ông “Thủ bộ” cất giữ cẩn thận. Ngày nay gọi là bộ “Gia Long”. Trong bộ này, Gia Long còn có đổi tên nhiều làng như làng An Lệ nhị giáp đổi thành Dương Lệ Nhị Phe tức là phe Văn và phe Đông, thường gọi là Dương Lệ Đông và Dương Lệ Văn. Làng An Toàn đổi thành làng An Lợi,…Trong bộ Gia Long cũng có ghi thêm nhiều làng mới. Ví dụ làng An Do huyện Vĩnh Linh vì quá rộng mà chia thành nhiều làng như sau : làng An Do Tây làng chính rồi chia ra thôn An Do Đông, An Bằng, An Ngãi, An Lễ và An Trí. Làng Di Loan được chia ra làng Hòa Ninh và và làng Loan Lý. Làng Bái Sơn huyện Gio Linh thành làng An Hòa, làng Nam Tây, làng Vạn Thiện, làng Cổ Vưu (Trí Bưu) xuất ra thành phường Lá Vằng, làng Hạnh Hoa, làng Cây Đa,…

Tại Quảng Trị người ta có dùng tiếng “Kẻ” để gọi tên một số làng. Danh từ “Kẻ” gọi là Người, tên đó là tên địa phương, chứ không phải là tên hành chính trong địa bộ làng. Ví dụ họ gọi làng Di Loan, xứ Cửa Tùng là làng “Kẻ Mói”, vì ngày xưa người Di Loan làm nghề muối. Làng “Kẻ Giáo” là làng Giáo Liêm, làng “Kẻ Triêm” là làng “Thanh Liêm”, làng “Kẻ Diên” là làng Diên Sanh, làng “Kẻ Văn” là làng Văn Quỷ, làng “Kẻ Vịnh” là làng Vịnh Hưng, làng “Kẻ Bố” là làng Bố Liêu,…

Chúng tôi soạn bài :” Sự thành lập các làng cổ ở Quảng Trị” với mục đích ghi lại những trang sử quý giá của tỉnh, mặc dù nó chưa đầy đủ và những con số trong danh sách trên không phải tuyệt đối là đúng, mong quý bạn bổ túc thêm. Chúng tôi thiết tha yêu cầu sau này có vị sử gia nào nghiên cứu gốc tích mỗi làng và soạn trang sử cho mỗi làng một và thành ấn loát thành bộ sách lịch sử của tỉnh Quảng Trị, thì hữu ích cho con cháu hậu thế biết bao.

Nguồn: Tạp chí  Cửa Việt, năm 1990
Trích dẫn: https://huyhoangdesign.com/

Việt Nam Học
(https://vietnamhoc.net)

MỘT VÀI HÌNH ẢNH VỀ SINH HOẠT LÀNG QUÊ MIỀN TRUNG NGÀY TRƯỚC

                                                  (Ảnh sưu tầm-Nguồn Internet)

Cautrầu

Già GẠo

 

TÔi NÓn

 

QuẠtmo GuỐc GỖ

Bài 14

Non Mai sông Hãn

     Người Việt Nam ta vốn nặng tình non nước nên hình như tỉnh nào cũng muốn chọn một ngọn núi và một dòng sông tiêu biểu cho tỉnh mình để tạo thêm ấn tượng sâu sắc về quê hương. Xứ Đoài thì có núi Tản – sông Đà, xứ Nghệ thì có núi Hồng – sông Lam, đất kinh kì thì có núi Ngự – sông Hương… Còn Quảng Trị có Non Mai – Sông Hãn.
Non Mai tức núi Mai Lĩnh, một ngọn núi đẹp ở gần chiến khu Ba Lòng. Sông Hãn là sông Thạch Hãn, phía bắc của Thành cổ Quảng Trị! Quảng Trị tuy nhỏ nhưng lại là tỉnh phên dậu phía Bắc của kinh thành Huế và là nơi phát tích của họ Nguyễn khi Nguyễn Hoàng mới vào dựng nghiệp ở Đàng Trong, vì thế năm 1836, sau khi ổn định đất nước, vua Minh Mạng đã chọn sông Thạch Hãn là một trong 9 thắng cảnh của đất nước để đúc vào Cửu Đinh bày ở sân rồng coi như quốc bảo.

Ở Quảng Trị xưa đã có câu ca dao:
Chẳng thơm cũng thể hương dàn
Chẳng trong cũng nước nguồn Hàn chảy ra”

Nguồn Hàn là tên gọi dân gian chỉ sông Thạch Hãn. Về tên gọi Thạch Hãn, lâu nay không ít người tự hiểu theo nghĩa chủ quan là… “mồ hôi của đá”. Thực ra không phải như vậy, thạch thì đúng là đá rồi, còn hãn hay hàn có nghĩa là ngăn cản. Vì ở giữa nguồn có một mạch đá ngầm chắn ngang sông, tên sông đặt theo đặc điểm này, thành sông Thạch Hãn. Theo sách “Đại Nam nhất thống chí” thì sông Thạch Hãn chỉ dài khoảng 170 dặm bao gồm cả đầu nguồn, nghĩa là chỉ độ 100km. Với độ dài như vậy nên lượng phù sa do sông tải đến không nhiều, trừ những ngày lũ lụt, nước thường trong xanh nhìn thấy đáy. Điều đó được nói đến trong 2 câu thơ của Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến:

“Tây phong Hà xứ xuy trần khởi
Bất tụ niên tiền triệt thể thanh”

Lương An dịch:
“Gió tây cuốn bụi dồn
Nước trong thấy đáy nay còn nữa đâu”

Sông Thạch Hãn là con sông dài và đẹp nhất tỉnh Quảng Trị. Sông bắt nguồn từ phía Đông dãy Trường Sơn ở phía Tây Nam của tỉnh. Dòng sông uốn lượn từ hướng Đông và Đông Bắc, gặp sông Rào Quán lại chảy về hướng Đông rồi ngược lên phía Bắc, nhập với sông Cam Lộ (tức sông Hiếu, chảy qua thị xã Đông Hà) tại ngã ba Dã Độ (sau này quen gọi thành Gia Độ) rồi lại quay về hướng Đông, đỗ ra cửa Việt Yên, gọi tắt là Cửa Việt. Không chỉ từ xưa mà cho đến cả bây giờ, sông Thạch Hãn vẫn là mạch máu giao thông đường thủy rất quan trọng của tỉnh Quảng Trị. Với hình thể uốn lượn uyển chuyển như thế lại có thêm nhiều phụ lưu thuốc các huyện Triệu Phong – Hải lăng là hai vựa lúa của tỉnh Quảng Trị như Vĩnh Định, Vĩnh Phước, Điếu Ngao nên mật độ giao thông trên sông ngày càng lớn. Đặc biệt, là con hào thiên tạo phía Bắc thành cổ Quảng Trị (nay là thị xã Quảng Trị) con sông Thạch Hãn lại có vị trí chiến lược về quân sự. Câu thơ được nhiều người biết đến trong bài thơ “Chị lái đò” của nhà thơ Lương An:

“Đò em lên xuống Ba Lòng
Chở người cán bộ qua vùng chiến khu”

đủ cho thấy tầm quan trọng của sông Thạch Hãn – lối duy nhất có thể lên được chiến khu Ba Lòng. Lịch sử không thể nào quên được những ngày hè của năm 1972, hàng vạn chiến sĩ đã bất chấp nguy hiểm, bí mật bất ngờ vượt sông Thạch Hãn để lập nên những chiên công vô cùng hiển hách. Đã có không biết bao nhiêu người trong số đó đã vĩnh viễn hóa thân cùng sông nước cỏ cây… Ngày nay, dù đi bằng đường bộ hay đường sắt Bắc – Nam ta đều gặp một dãy cầu gọi là cầu Thạch Hãn, bắc qua sông Thạch Hãn. Đầu phía bắc có tượng đài trung đội Mai Quốc Ca. Trung đội chỉ vẻn vẹn 20 người với vũ khí bộ binh thông thường (nếu theo biên chế trong quân đội thì trung đội phải gồm 3 tiểu đội, mỗi tiểu đội 12 người và thêm 1 trung đội trưởng), nhưng đã chiến đấu cực kỳ dũng cảm suốt một ngày đêm. Trước sự phản kích điên cuồng của một tiểu đoàn địch đông gấp mấy chục lần, có xe tăng và đại bác yểm trợ, họ đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chốt giữ, góp phần làm nên đại thắng. Cả trung đội 20 người chỉ còn lại một người lính bị thương nặng, được nhân dân địa phương cứu sống. Tượng đài Mai Quốc Ca ma tên người chỉ huy dũng cảm, có 19 quả tim đỏ gắn lên, tượng trưng cho 19 liệt sĩ.

Để tưởng nhớ đến hàng nghìn liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trên dòng sông Thạch Hãn, hàng năm, cứ vào dịp kỷ niệm ngày đất nước thống nhất, chính quyền và nhân dân Quảng Trị đều long trọng tổ chức lể thả đèn hoa, bè hoa trên sông Thạch Hãn. Lễ hội đã thực sự cuốn hút rất nhiều người, đặc biệt là các lực lượng vũ trang và cựu chiến binh trong và ngoài tỉnh tham dự.

Do đặc điểm tự nhiên nên các sông suối ở miền trung thường ngắn và trong. Ở xứ Nghệ có câu “Nước sông Lam vừa trong vừa mát”, nhưng thực sự được đi vào thơ ca, được các bậc đại khoa như Bảng nhãn Võ Duy Thanh, Tam Nguyên Nguyễn Khuyến ca ngợi thì chỉ có sông Thạch Hãn. Do phải chảy quanh co giữa núi rừng Trường Sơn, trải qua lắm thác ghềnh với vô số đá ngầm, đá dựng, dòng nước trở nên trong vắt. Với những nét đặc trưng đó, người dân Quảng Trị luôn coi sông Thạch Hãn là biểu tượng của đạo lý trong sạch và ý chí kiên cường.

Bụi hồng rong ruổi tới Trường An
Nghe nói đâu đây suối Bạch Đàn
Ấy cảnh tự nhiên ai khéo vẽ
Mà kho vô tận lúc nào khan
Bên đường xe ngựa nên dừng bước
Mượn thú non sông cũng tạm nhàn
Đây phải Liêm Tuyền chăng đó tá?
Muốn đem rửa ruột khách quan san”

Cảm tác qua sông Thạch Hãn –  (Bảng nhãn Võ Duy Thanh.)

Liêm Tuyền tức suối Liên ở tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc) là vùng đất tượng trưng cho phong tục thuần hậu, dân biết thương nhau, người đi làm quan đều biết giữ mình thanh liêm, không ăn hối lộ. So sánh sông Thạch Hãn với Liêm Tuyền trong điển tích, tác giả muốn khẳng định đây là dòng sông tượng trưng cho sự thanh cao, khách vãng lai nên dừng chân ngắm cảnh để suy ngẫm mà tẩy sạch những gì còn vẫn đục trong lòng!

 

                Sông Thạch Hãn và núi Mai Lĩnh                                                                                                                                                   (S.T)

Maih