Nhân Vật

Nhanvat

Bài 1

NHÌN LẠI TỘC PHỔ
(từ đời 1 đến đời 11)

THƯỢNG THỦY TỔ HOÀNG CÔNG HỘI- (Đ 1)

  • Đời 2: Công Chính. Dòng thứ. Có 2 trai: Công Thất, Công Ca.
  • Đời 3: Công Ca. Dòng thứ. Sanh 5 trai: Thanh Côn, Thanh Lan, Thanh Vi, Thanh Xuân, Văn Công.
  • Đời 4: Thanh Xuân. Dòng thứ. Có 2 trai: Trưởng khuyết danh, Văn Bổng.
  • Đời 5: Văn Bổng. Có 3 trai: Văn Độ, Văn Ân, Văn Lược.
  • Đời 6: Văn Độ. Dòng trưởng. Kỵ 12/8. Sanh 6 trai: Văn Tổng, Văn Điện, Văn Định, Văn Thiệp, Văn Lập, Văn Đường.
  • Đời 7: Văn Tổng. Dòng trưởng. Kỵ 22/11. Có 7 trai: Văn Trọng, Văn Hàn, Văn Hiền, Văn Hoạch, Văn Sách, Văn Tôn, Văn Tấn và 3 gái…
  • Đời 8: Văn Hoạch. Dòng thứ. Kỵ 13/1. Thọ 55 tuổi. Được một trai duy nhất là Văn Núi và 4 gái…
  • Đời 9: Văn Núi. Sanh 20/4 Nhâm Dần, mất 26/8 Ất Mùi. Sanh 2 trai: Văn Giao, Văn Tuyển và 3 gái…

Ông tổ đời thứ mười Hoàng Văn Giao có tên là Đá, nguyên tên là Hạo (phải đổi tên vì phạm quốc húy), là dòng trưởng của ông Văn Núi. Chân nho học, làm chức ký lục ở Ngân cục (đúc vàng bạc), được cáo tặng Triều liệt đại phu Hàn Lâm viện thị giảng học sĩ, thụy Đoan Lượng. Kỵ ngày 24 tháng Một (11).

Bà tên húy Thị Kế là con gái ông Võ Đại Yến quê ở Minh Hương, Quảng Đức, tức là Thừa Phủ bây giờ, được cáo tặng tùng tứ phẩm Cung nhân. Kỵ 7/5. Sanh hạ 2 trai là Hữu Trí, Hữu Tư và 4 gái… thuộc đời thứ 11 Phái Nhất.

Dòng trưởng: Hữu Trí (1782 – 1845) đứng đầu Phát Nhất. Kỵ 4/4. Bà tên húy Thị Thủ (1787 – 1847) là con gái Trinh Tường Hầu Đỗ Đình Chiêm người làng. Kỵ 2/2. Sanh đặng 4 trai: Hữu Huệ có tên là Xương, Hữu Xưởng, Hữu Cẩm có tên là Diệu, Hữu Đạo mất sớm, và một gái Thị Dung (đời 12).

Dòng thứ: Hữu Tư húy Cuộc. Thông nho học, chữ viết rất tốt. Mất năm Mậu Dần (1818). Kỵ 25/9, được cáo tặng Trung nghị đại phu Thái bộc tự khanh, thụy Ôn Tịnh.

Bà tên húy Thị Thừa, họ Đỗ, là con đầu Phó vệ úy Cẩn Ngọc Hầu. Sanh năm Kỷ Dậu. Kỵ 1/1, được cáo tặng tùng tam phẩm Thục nhân. Sanh hạ 4 trai: Hữu Lợi, Hữu Oai, Hữu Công, Hữu Lội, và 1 gái là Thị Mãnh (đời 12)                                                                                     (Trích XƯƠNG KHÊ HOÀNG TỘC THỐNG PHỔ)

1.mộ Ngài Thượng Thủy Tổ Hoàng Công Hội

Mộ ngài Thượng thủy tổ Hoàng Công Hội- ( Đ 1)  (Chưa nâng cấp)

Mộ ngài Thượng thủy tổ hiện nay.

NGÀI HOÀNG HỮU LỢI

(Đời 12)

(Con trưởng của Cụ Hoàng Hữu Tư và bà Đỗ Thị Thừa)
Tự: Hòa Nghĩa – Hiệu: Ngu hồ tiên sinh
Sinh: 24 tháng 12 Kỷ Tỵ (1809)
Mất: 26 tháng 3 năm Bính Tý (1876) Thọ 68 tuổi.
Mộ: khuôn viên quy táng ở Nương âm.

Từ nhỏ rất thông minh và hiếu nghĩa. Khi thân phụ là Cụ Hoàng Hữu Tư ra trấn Hưng An để thăm nhạc phụ họ Đỗ là Trì Oai tướng quân, thì có một đêm cụ Hữu Lợi ở nhà vùng dậy khóc, mẹ dỗ không nín chỉ nói lo quá nên khóc. Sau được tin Cụ Hữu Tư chính đêm ấy bị bệnh mất tại tư dinh của nhạc phụ. Cụ Hữu Lợi thường chăm lo đọc sách, dự thi Hương nhiều lần nhưng không đỗ vì văn cách quá phóng khoáng. Khoa thi Hương năm Nhâm Tý (1852) cụ và con trưởng là Hoàng Hữu Xứng đều dự thi. Cụ nằm mộng 2 câu đối: Hải ốc thiêm trù hoa chánh mậu. Cẩm đường lệ nhật quế sanh hương (Sẽ được tuổi thọ và hoa nở tốt đẹp, ngồi nhà lớn gấm vóc giàu sang, ngày vui đến có cây quế thơm hương). Quả nhiên kỳ thi ấy tuy cụ không đỗ vì phạm trường qui nhưng con trưởng cụ là Hoàng Hữu Xứng đỗ cử nhân. Cụ tự bảo: “Ta muốn được xuôi gió để đền đáp ơn tiên chỉ và để cởi mở sự lầm lẫn của người làng, nay thân ta tuy không đạt nhưng con ta lại được là thỏa nguyện rồi”. Từ đấy cụ không đi thi nữa sống cuộc đời bạn với gió trăng, thơ rượu.

Tánh tình cụ ngay thẳng mà nhân hậu, rất ghét những lời ồn tạp, chỉ thích nghe tiếng bình văn. Khách đến nói chuyện văn chương thì ngồi suốt ngày không mệt mỏi, rất thương bạn bè. Tuy nhà không dư dật, nhưng thấy ai có việc gì cần gấp là giúp đỡ ngay. Chôn hoang mộ, lập nghĩa trang, mỗi năm 2 lần tế. Cụ thích cảnh đẹp núi sông, cây cỏ và tranh vẽ. Khi làm nhà thờ chi ở làng, chính cụ vẽ trên rui, kèo cho thợ chạm, ở trước nhà, cụ có đắp núi, đào hồ, lập cảnh non bộ, nuôi cá, trồng hoa. Có câu đối chơi non bộ: “Đã chịu một thân trời đất nhỏ. Phải gầy ít thế núi sông con” (lấy câu chữ nho: nhân sinh tiểu thiên địa). Cụ có làm bài thơ ngụ ngôn 100 vận. Ở trước nhà có viết 2 chữ “Vu môn” lấy ở câu trong kinh Dịch: “Đông nhân Vu môn” để tỏ sự hâm mộ đối với ông Vu Công đời Hán. Ngoài cửa ngõ lại có 2 câu đối chữ Nôm: “Giáo đứng hai hàng tre trước ngõ; Cờ bay trăm lá, chuối sau nương”. Hai câu này tuy tả cảnh thực trong vườn: tre và chuối nhưng lại biểu lộ cái khẩu khí của bậc công hầu: Giáo và cờ. Có giai thoại như sau: Ông Tú Tài tên là Hào ở làng Vũ Thuận đến chơi, cụ ra câu đối: “Nam nhi đáo xứ thị Hào” Ông Tú Hào đã biết tánh cụ là đối lại phải khiêu khích nên đọc: “Nhân nghĩa vị thường bất Lợi” sợ cụ nổi giận nên bỏ chạy, nhưng cụ chạy theo mời vào đối ẩm, đàm đạo. Gia đình cụ rất nghiêm nghị. Anh em, con cháu phải giữ đúng hiếu để. Khi mất cụ được cáo tặng Trung nghị Đại phu Đô sát viện Phó đô ngự sử thụy Trang Khải.

Bà chánh thất là Lê Thị Hơn người làng Cổ Thành, sinh ngày 16 tháng 6 Canh Ngọ (1810) người chất phác, ngay thẳng, thông minh, biết chữ Hán. Nhà nghèo bà phải lo chạy ăn để nuôi chồng và dạy con học hành rất cực khổ. Bà hay thi ân, thấy bà con hàng xóm nghèo khổ hết sức giúp đỡ, đối với học trò nghèo và kẻ mồ côi lại càng giúp đỡ nhiều hơn nữa. Về già, bà theo đạo Phật, cắt tóc, lần chuỗi, tụng kinh. Bà mất ngày 24 tháng 7 Bính Tuất (1886). Vì lúc ấy bà ở tại Huế với con nên táng ở làng Vinh Quang, nay đã đưa về nơi quy táng ở Nương Âm trong làng nằm cạnh ông. Bà được phong tặng Nhị phẩm Đoan nhơn.

Thứ thất là bà Hồ Thị Giá, người làng Võ Thuận. Bà cũng là người đoan trang, hiền hậu, kính trên nhường dưới, góp phần xây dựng gia đình tốt đẹp, nuôi dạy con cái. Bà mất ngày 22 tháng 11 Bính Ngọ (1906) được phong Tứ phẩm cung nhân.

Con: Các cụ sinh được: 5 trai và 7 gái nhưng chi đăng thế được 4 trai – 3 gái.

  1. 1. Hoàng Hữu Xứng      2. Hoàng Thị Thân               3. Hoàng Hữu Nung            4. Hoàng Hữu Tuệ         5. Hoàng Thị Chanh            6. Hoàng Hữu Bính              7. Hoàng Thị Bòng

Linh vị của Liệt tổ và Di huấn của Ngài Hoàng Hữu Lợi

Huynh đệ thức tương hảo hỷ
Tử tôn vật thế dẩn chi

Bai Vi

Linh vị và tổ huấn

                                                         Langmo

Le Ta Lang 16

TIỂU SỬ, THÂN THẾ, SỰ NGHIÊP CỦA NGÀI

HOÀNG HỮU XỨNG -( Đ.13)

                                                                      Theo PHAN THUẬN AN- (Nhà nghiên cứu sử học)

Hhx

Ảnh chân dung ngài Hoàng Hữu Xứng do họa sĩ Nguyễn Khắc Nhân vẽ

Ngài Hoàng Hữu Xứng sinh ngày 13 tháng 11 năm Tân Mão, tức là ngày 16 tháng 12 năm 1831, mất ngày mồng 3 tháng 12 năm Ất Tỵ, tức là ngày 28 tháng 12 năm 1905. Thọ 75 tuổi, ông đã sống qua 9 thời kỳ vua Nguyễn từ Minh Mạng đến Thành Thái, và ông đã làm quan liên tục trong 30 năm (1860 – 1900) dưới 7 thời vua kể từ thời Tự Đức. Ông đã từng chứng kiến không biết bao nhiêu sự kiện lịch sử của Việt Nam dưới triều Nguyễn từ hồi còn độc lập đến khi mất nước vào tay thực dân Pháp.

Hoàng Hữu Xứng có tên tự là Bình Như (1) hiệu là Song Bích. Nguyên quán làng Bích Khê, huyện Đăng Xương (2) (nay thuộc xã Triệu Long, huyện Triệu Phong), tỉnh Quảng Trị.

Sinh trưởng trong một gia đình có văn hóa và văn học. Hoàng Hữu Xứng là con trai đầu của ông Hoàng Hữu Lợi (1809 – 1876) và bà Lê Thị Hơn (1810 – 1886). Ông Lợi vốn là người giỏi về nho học nhưng thi không đậu vì phạm trường quy, sau về sống gần gũi với thiên nhiên, thích ngâm vịnh, sở trường về quốc âm. Bà Hơn là một phụ nữ thuần thục, có học thức, khéo cung phụng chồng và nuôi dạy con cái. Nhờ sống trong một môi trường có gia giáo và văn hóa như vậy, cho nên Hoàng Hữu Xứng rất dễ thành đạt.

Ông thi đậu cử nhân trong kỳ thi Hương năm Nhâm Tý thời Tự Đức (1852). Dù ông đậu thứ 9 nhưng vua Tự Đức nhận xét: “Ông Hữu Xứng là con tuấn mã trong hàng cử nhân” tuy nhiên, vì nhà nghèo nên ông không thể học tiếp để đi thi Hội.

Vào năm 1860, giữa lúc chưa tròn 30 tuổi, ông được bổ làm Huấn đạo huyện Tuy Viễn (thuộc tỉnh Bình Định). Sau 4 tháng, vì có công nên ông được thăng làm “quyền huyện Tuy Viễn” (1861). Vì có công điều tra ra năm sáu vụ án cướp và án mạng, cùng bắt được nhiều tên can phạm. Do đó, vào năm 1862, ông được cất lên làm Tri huyện Hà Đông ở tỉnh Quảng Nam (3).

Sau một thời gian, ông về Kinh đô Huế giữ chức Biện lý ở Bộ Binh. Năm 1869, ông và các đồng liêu trong Bộ làm việc tích cực, cho nên được vua Tự Đức khen thưởng rất hậu (4).

Vào năm 1873, khi đang làm Bố chính tỉnh Thanh Hóa, ông và các quan trong tỉnh không đánh dẹp được vụ “đốt nhà cướp của” do một đám giặc từ bên Tàu tràn qua, cho nên ông bị giáng 2 cấp, nhưng được tiếp tục làm việc tại chỗ (5).

Trong thời gian giữ chức Bố chính ở Thanh Hóa suốt hơn một thập kỷ, ông nổi tiếng là thanh liêm. Sách Đại Nam Thực Lục ghi rằng vào khoảng 1876 khi đi qua Thanh Hóa và Nam Định để nhậm chức Tổng đốc ở tỉnh Hải An, Phạm Phú Thứ nghe người địa phương nói rằng Phạm Đức Trạch đến giữ chức Bố chính ở Nam Định chỉ “mới một năm mà túi làm quan hơn số thu vào của Bố chính Hoàng Hữu Xứng 10 năm” (6).

Nhờ có đức tính thanh liêm như vậy, cho nên, qua năm sau (1877), Hoàng Hữu Xứng được triệu về kinh đô Huế giữ chức Tà Thị Lang Bộ Lại, Kiêm coi viện Đô Sát (7).

Vào năm 1879, xảy ra một vụ tham nhũng của Hồng lô Tự khanh sung Quản lý Thượng cục tỉnh Bình Thuận Nguyễn Chí Tâm. Các quan ở tỉnh tâu trình lên cho triều đình biết. Vua Tự Đức sai quan Khoa đạo Tạ Ngọc Đường đi điều tra nội vụ. Từ Huế vào đến Bình Thuận, Tạ Ngọc Đường nhận tiền hối lộ của Nguyễn Chí Tâm, nên bênh vực bị cáo, và “hặc tâu” ngay cả người đi điều tra vốn là một kẻ nghiện thuốc phiện nữa. Triều đình bèn cử Hoàng Hữu Xứng đi Bình Thuận tra xét vụ án. Ông đã điều tra mọi sự thật một cách minh bạch và kịp thời. Ngay sau đó, Nguyễn Chí Tâm và Tạ Ngọc Đường đều bị trị tội. Còn Hoàng Hữu Xứng thì “được thưởng gia 1 cấp, kỷ lục 6 thứ” (8).

Năm sau (1880), ông được thăng chức, bổ làm Thự Tuần Phủ tỉnh Hà Nội (9).

Vào đầu năm 1882, thấy Pháp chuẩn bị đánh thành Hà Nội lần thứ hai, ông đã cùng với một số quan chức đang trị nhậm tại Hà Nội và Sơn Tây mật tâu lên vua Tự Đức một “kế sách dự phòng” để giữ vững lãnh thổ Bắc Kỳ. Nhà vua nghe theo và cho thi hành kế sách phòng thủ đó (10).

Tuy nhiên, vì hai bên không cân sức nhau về mặt chiến thuật chiến lược cũng như vũ khí đạn dược, cho nên thành Hà Nội thất thủ vào tay thực dân Pháp. Quan thủ thành Hoàng Diệu thắt cổ tự tử để giữ tròn danh tiết. Các quan khác điều bỏ thành mà chạy. Riêng “Quan tuần Hoàng Hữu Xứng bị giặc bắt, chửi giặc thậm tệ, rồi nhịn ăn” (11). Ông tuyệt thực mấy ngày thành bệnh, rồi sau đó sức khỏe trở lại bình thường.

Nghe tin Hà Nội thất thủ, vua Tự Đức sai bắt trói tất cả quan tỉnh tại đây, đưa “về kinh đô đợi án”. Trong một bài dụ bây giờ nhà vua ca ngợi Hoàng Diệu và lên án tất cả quan tỉnh Hà Nội, như Bố chính Phan Văn Tuyền, Án sát Tôn Thất Bá, Đề đốc Lê Văn Trinh, các chánh phó lãnh binh Hồ Như Phong, Nguyễn Đình Dương, Lê Trực. Các quan viên ấy điều bị cách chức Hoàng Hữu Xứng cũng thế, nhưng ông được triều đình “phái đi hiệu lực”, nghĩa là bổ đi làm việc để đoái công chuộc tội. Qua thời kiến phúc (1884), trừ Phan Văn Tuyền là “bị cách chức về quê chịu sai dịch”, những người còn lưu lại đều được cho khai phục phẩm trật và chức tước (13).

Khi phái đi hiệu lực, Hoàng Hữu Xứng được bổ chức Chánh Sơn phòng Cam Lộ (tỉnh Quảng Trị).

Qua năm 1884, ông được khai phục hàm Lâm Viện năm sau, thành Hán Lâm Viện Tu Soạn (14), rồi Quang lộc Tự Khanh. Cuối năm ấy (1885), sau khi vua Đồng Khánh lên ngôi, ông là một trong những triều thần được sung làm “nhật giảng quan” để giảng sách cho nhà vua.

Vào tháng 7 năm 1886, nhà vua “chuẩn cho Quang Lộc Tự Khanh lãnh Thị lang Bộ lại là Hoàng Hữu Xứng kiêm quản Viện Đô Sát”. Nhưng sau đó một tháng thì thân mẫu ông tạ thế, ông phải nghỉ 2 tháng để cử tang, cho nên, việc kiêm quản Viện Đô Sát được giao cho Tà Tham tri Bộ Hồ Trần Lưu Huệ.

Sau khi nghỉ tang xong, vào tháng 10-1886, Hoàng Hữu Xứng được triều đình giao phó đứng ra điều khiển làm bộ sách “Đại Nam quốc Cương giới Vựng biên”, vì thấy ông là “người trầm tĩnh, học vấn cũng rộng, văn phòng làm việc của ông đặt tại Nội các trong Từ Cấm Thành. Nhưng sau đó một tháng thì nhà vua cho phép ông chuyển nơi làm việc đến tại Sở Tu Thư ở Quốc Sử Quán trong Kinh Thành.

Sau 2 tháng làm việc, vào tháng 12-1886, ông dâng lên vua một bài phàm lệ gồm 11 điều quy định về cách thức biên soạn bộ sách ấy để thỉnh thị ý kiến của nhà vua. Nhà vua liền “chuẩn cho theo nghĩ làm việc”.

Qua gần nửa năm biên soạn, bộ sách được hoàn tất vào tháng 5-1887. Sách gồm 7 quyển và một bản đồ cả nước. Thấy sách soạn thảo thành công tốt đẹp, nhà vua cho Hoàng Hữu Xứng được hưởng thực phái đều được khen thưởng. Rồi nhà vua lại cho ông được sung chức Toản tu ở Quốc Sử Quán (15).

Vào thời Thành Thái (1889-1907), Hoàng Hữu Xứng ngoài chức Toản tu còn kiêm giữ chức vụ Sử Quán, lãnh thượng thư Bộ Công, kinh diên Giảng quan, quản chiếu Tu thư sở (16).

Đến năm 1900, quan hàm của ông được ghi như sau: phó Tổng tài, Hiệp biện Đại học sĩ sung Kinh diên Giảng quan. Với chức vụ phó tổng tài ấy, Hoàng Hữu Xứng đã phụ trách biên soạn xong bộ Đại Nam Thực Lục chính biên Đệ ngũ kỷ, viết về những sự kiện lịch sử xảy ra tại Việt Nam từ cuối 1883 đến 1885 (17).Làm xong bộ sử vào năm 1900, ông đã bước vào tuổi thất tuần.

Năm ấy (1900), ông dâng sớ xin nghỉ hưu. Vua Thanh Phái phê rằng: “Ông là người kỳ cựu trong triều đình, đã từng trải trong ngoài, nay tuổi già sức yếu, viện lệ xin hưu. Trẫm cũng chuẩn y để tỏ lòng yêu mến tôi lão”. Từ đó, ông về sống cuộc đời nhàn tản ở quê nhà. Đến năm 1905, ông chỉ bị bệnh nhẹ rồi qua đời, được an táng tại nền đình cũ trong làng, có xây lăng và dựng bia. Nhưng trong cuộc đấu tranh vừa qua (1972), lăng và bia điều bị hư hỏng. Vào năm 1987, di hài ông được con cháu dời về quy táng tại Nương Âm, cũng là một địa danh ở trong làng Bích Khê (19).

Thuở sinh thời, tuy ông chỉ đổ cử nhân, nhưng vì có kiến thức rộng, cho nên ông đã hai lần được triều đình cử chấm thi chiến Tiến sĩ. Trong lần chấm khoa thi Hội năm 1892, ông đã chấm đậu các tử sĩ dưới đây (về sau trởi thành danh nhân):

– Vũ Phạm Hàm, đậu đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ.

– Nguyễn Thượng Hiền, đậu đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân.

– Chu Mạnh Trinh, đậu đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân (20). Và trong lần chấm khoa thi Hội năm 1898, ông đã lấy Đào Nguyên Phổ đậu đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân và lấy 5 sĩ tử người Quảng Nam đậu tiến sĩ cùng một lượt (Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn, Ngô Truân, Dương Hiền Tiến), được gọi là “Ngũ phụng tề phi” (21).

                           BỘ SÁCH “ĐẠI NAM QUỐC CƯƠNG GIỚI VỰNG BIÊN” CỦA HOÀNG HỮU XỨNG.
Sử chép rằng vào tháng 9 năm Đồng Khánh nguyên niên (tháng 10-1886), triều đình nhà Nguyễn đã quyết định cử đại thần Hoàng Hữu Xứng đứng ra phụ trách việc biên soạn bộ sách Đại Nam quốc Cương giới Vựng Biên. “Bấy giờ, viện Cơ Mật tâu nói: Cương giới nước ta, phía bắc gần với nước Đại Thanh, phía tây nam giáp với nước Xiêm La, Miến Điện; Từ trước phải có giới hạn đích ở chỗ nào. từ trước đến giờ, quốc sử ít thấy chép đến… Kể ra bờ cõi non sông cũng là cách học bác vật, biển rộng mây trùng, đường xa muôn dặm, người ta còn nghĩ dò tìm được, huống chi cương giới nước ta, mà lại còn không bàn, bàn mà không xét, tưởng không phải chỉ để cho người biết được ít nhiều! Nghĩ nên xin phái quan, thuộc, tìm xét khắp cả, duy công việc ở Bộ, Viện, Quán, Các, bề bộn, nếu giao cho làm kiêm cả, sợ không chuyên chú kỹ càng, khó mong thành hiệu. Xin nên đặt viên có trách nhiệm để đôn đốc việc ấy. Quang lộc Tự Khanh lãnh Thị lang Bộ lại là Hoàng Hữu Xứng là người trầm tĩnh, học cũng hơi rộng, xin cho theo nguyên hàm sung làm đồng lý, cấp cho ấn khâm phái quan phòng, và phái viên dịch theo để làm việc, đến ở phòng nội các làm việc. Phàm hễ nước ta tiếp giáp với nước Thanh, nước Xiêm, và sông Khung Giang (tức là sông Cửu Long), đích là chỗ nào, đều xem xét rõ ràng, cần có chứng cớ đích xác, biên chép thành sách và vẽ đồ bản để tham khảo(22).

Chính Hoàng Hữu Xứng đã có công thực hiện tác phẩm ấy, cho nên, cách đây khoảng 20 năm, trong một bộ sách mang tính văn tịch chỉ xuất bản tại Hà Nội, ông Trần Văn Giáp và các đồng tác gia đã liệt Hoàng Hữu Xứng vào hàng 852 tác gia Việt Nam từ xưa đến thế kỷ XX. “Lược truyện các tác gia Việt Nam là một cuốn sách ghi rõ tên tuổi, sự nghiệp, văn chương các nhà trứ thuật của Việt Nam… Chúng tôi quan niệm tác gia là tất cả các vị nào đã có làm sách, về bất cứ một môn loại nào, từ thi văn, sử truyện, cho đến bút ký phiên dịch v.v…(23)

Riêng về tác gia Hoàng Hữu Xứng nằm ở số 576 (tập I, trang 437), Trần Văn Giáp ghi rằng ngoài bộ sách “Đại Nam quốc Cương giới Vựng biên”, ông còn có viết bài bạt cho cuốn sách “Cung kỷ luân âm”, và sau đó là dấu hiệu viết tắt hai chữ vân vân. Nhưng, trong mục sách dẫn ở tập II, ông Trần không cho biết gì thêm về “Cung kỷ luân âm” và tác giả của nó. Ông chỉ mách rằng nó thuộc loại văn học và số ký hiệu của nó ở thư viện khoa học xã hội là A.417. Trong khi đó thì “Đại Nam quốc Cương giới Vựng biên” được xếp vào loại sách sử địa và mang số ký hiệu là A.748.

Hiện nay, các sách loại đó đã được chuyển về Viện nghiên cứu Hán Nôm ở đường Đặng Tiến Đông, quận Đống Đa, Hà Nội.

Một nguồn tin chính thức cho biết Viện nghiên cứu Hán Nôm đang bảo lưu đến 5 bản “Đại Nam quốc Cương giới Vựng biên” với 5 ký số hiệu khác nhau:

  1. Bản A.748 : gồm 7 quyển, 398 trang, kể cả tờ tấu, phàm lệ và mục lục.
    2. Bản A.249 : có 220 trang, lược sao từ bản A.748.
    3. Bản A.1.342 : có 104 trang, gồm quyển 3 và quyển 5.
    4. Bản A.1.109 : có 96 trang, gồm quyển 6 và quyển 7.
    5. Bản VHv.1.721 : có 98 trang, chép riêng tỉnh Quảng Nam.

Tất cả 5 bản đều ở dạng chép tay, chưa được khắc in.

Nhìn chung, 4 bản đều là những bản lược sao hoặc trích sao từ bản trước (A.748). Do đó, chỉ có bản này là quan trọng và đáng chú ý nhất.

Vừa qua, chưa có dịp trở lại Hà Nội để nhân bản toàn bộ các tư liệu chữ Hán này, chúng tôi chỉ nhờ photocopy được 14 trang quan trọng nhất thuộc các phần sau đây của bản chính (A.748):

– Tờ tấu của Hoàng Hữu Xứng sau khi soạn xong bộ sách (4 trang).
– Bài phàm lệ đầu sách (6 trang).
– Bản mục lục sách (4 trang).

Tờ tấu của Hoàng Hữu Xứng đề ngày mồng 9 tháng 4 năm Đồng Khánh thứ hai, tức ngày 1-5-1887, nay xin tạm dịch toàn văn như sau:

Khâm phái Sở Tu Thư, Quang lộc Tự khanh, Lãnh Hữu thị Lang Bộ Lại, thần là Hoàng Hữu Xứng, kính tâu: vừa biên soạn thành dạng bản sách Đại Nam quốc Cương giới Vựng biên, nay cung kính tiến trình cùng với bản tấu để xin Hoàng thượng thẩm định. “Vào một ngày thuộc tháng 9 năm ngoái, tiếp được phiến chỉ do Viện Cơ Mật cung lục, Hoàng thượng chuẩn định thần sung làm đồng lý trong việc nghiên cứu kiểm tra cương giới nước ta, tỉnh nào tiếp giáp với Trung Quốc, Xiêm La, Miến Điện, Khung Giang (sông Cửu Long), đích thị là xứ nào, cần có căn cứ chính xác, sưu tập lại, biên chép thành sách và vẽ thành bản đồ. Khảo cứu đầy đủ rồi lại được Hoàng thượng đặt tên cho sách là “Đại Nam quốc Cương giới Vựng biên”, và tuân hành làm theo bài phàm lệ gồm 11 điều (24).

Thần trộm nghĩ sách này có thể làm rõ về sự quan hệ ở cương giới. Cương giới phía tây của miền thượng du nước ta, từ xưa đến nay triều đình chưa đến kinh lý, còn có nạn sách vỡ tam sao thất bản, việc khảo đính lại thiếu xót.

Nhưng nay tuân chiếu theo phàm lệ, thần đôn đốc việc sưu tầm tìm hiểu các sách và bản đồ nước ta và Trung Quốc cũng như Tây phương, rồi nghiên cứu, dịch thuật, ghi chép, thu thập lại (Sách là Thực Lục chính biên của nước ta, tham khảo thêm những sách của các nhà biên thuật. Bản đồ thì các loại bản đồ của nước ta, tham khảo thêm bản đồ của Trung Quốc và Tây Phương, cùng bản đồ mới vẽ của các tỉnh. Nếu có nhượng bỏ đến năm ba tỉnh thì cũng kính xin đề cập tới luôn, vì sự ghi chép cương giới ở những nơi đó cũng chưa được rõ ràng).

Nếu có chỗ chưa biết được rõ thì để khuyết chứ chẳng dám làm một cách khiêng cưỡng hoặc lấy ý mình mà điền thế vào. Tùy theo nơi, nếu cần thì làm phần cẩn án phụ thêm ở dưới mỗi khoản, đợi sau sẽ khảo đính. Toàn bộ sách và từng phần của sách đều có bản đồ kèm theo; cùng với phụ lục và phụ khảo, đóng thành 7 quyển. Thần chẳng ngại dốt, kính sợ tuân theo lệnh của Hoàng thượng, chẳng dám ngại khó, kính tham khảo thêm những tài liệu ngoài sử sách của triều đình, lượm lặt các sách vở cũ ngày xưa còn xót lại, và hỏi han thêm ý kiến của nhiều người, tuy đã cố gắng nhiều nhưng vẫn còn sai lầm thiếu sót, xin kính sợ tuân theo những điều sữa chữa.

Hoàng thượng đã chuẫn cho các đại thần ở viện Cơ Mật là Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình, Nguyễn Thuật và Hoàng Hữu Thường đọc và sửa.

Nay kính cẩn viết thành dạng bản và vẽ riêng một bức bản đồ chung lớn (đại tổng đồ), đều xin tiến trình, dám xin mạo muội kính đệ lên cùng tập tấu, và xin đợi tôn ý quyết định của Hoàng thượng.

Kính tâu,
Ngày mồng 9 tháng 4 năm Đồng Khánh thứ hai.
Thần: Hoàng Hữu Xứng
.

Về bài phàm lệ tiếp theo sau đó, chúng tôi xin khỏi dịch ra ở đây, vì hơi dài và đã có dịch ở sách Đại Nam Thực Lục (25).

Nhưng, để biết qua nội dung cốt lõi của bộ “Đại Nam quốc Cương giới Vựng biên”, chúng tôi xin dịch phần mục lục của nó, như sau:

“Quyển 1: – Phần tổng quát của bộ sách
– Phủ Thừa Thiên, trực thuộc Kinh sư.

Quyển 2:  – Hai tỉnh Hữu trực kỳ: tỉnh Quảng Trị, tỉnh Quảng Bình.
– Ba tỉnh Hữu kỳ: tỉnh Hà Tĩnh, tỉnh Nghệ An và tỉnh Thanh Hóa.

Quyển 3: – Hai tỉnh Tả trực kỳ: tỉnh Quảng Nam, tỉnh Quảng Ngãi.
– Bốn tỉnh Tả kỳ: tỉnh Bình Định, tỉnh Phú Yên, tỉnh Khánh Hòa, tỉnh Bình Thuận.

Quyển 4: Các tỉnh Bắc kỳ: tỉnh Ninh Bình, tỉnh Nam Định, tỉnh Hà Nội (dạo Mỹ Đức phụ thuộc), tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Hưng Yên, tỉnh Thái Nguyên, tỉnh Hải Dương, tỉnh Quảng Yên.

Quyển 5: Các tỉnh Bắc kỳ (tiếp theo): tỉnh Sơn Tây, tỉnh Hưng Hóa, tỉnh Tuyên Quang, tỉnh Lạng Sơn, tỉnh Cao Bằng.

Quyển 6: Các tỉnh Nam kỳ: tỉnh Biên Hòa, tỉnh Gia Định, tỉnh Định Tường, tỉnh Vĩnh Long, tỉnh An Giang, tỉnh Hà Tiên.
– Phần phụ lục: thành Trấn Tây.

Quyển 7: – Các thuyết khác nhau về cương giới
– Các thuyết khác nhau về Khung Giang
– Các thuyết nói ngờ vực về cương giới: Đồng trụ (của Phục Ba tướng quân Mã Viện)- Phụ lục về các nước hiện nay tiếp giáp với nước ta: Xiêm La, Nam Chưởng, Cao Man
– Phụ khảo về Vạn Tường, Chiêm Thành, Thủy Chân Lạp

Nhìn chung, bộ sách “Đại Nam quốc Cương giới Vụng biên” ghi chép về địa lý toàn quốc, bao gồm Kinh đô Huế và các tỉnh địa hạt, vị trí và tên gọi thay đổi qua các thời. Ngoài ra, còn có phần khảo cứu riêng về sông Cửu Long, về cột Đồng trụ thời xưa và về một số nước có biên giới sát với nước ta lúc đó.

Trong lịch sử Việt Nam, tính đến cuối thế kỷ XIX, dường như chưa có bộ sách nào chuyên khảo về biên giới quốc gia như “Đại Nam quốc Cương giới Vụng biên” mà Hoàng Hữu Xứng biên soạn.

Sống trong thời điểm phần lớn đất đai các tỉnh thành nước ta đã mất hẳn vào tay thực dân Pháp và chủ quyền của dân tộc xem như không còn nữa mà viết được và vẽ được thành bản đồ về lãnh thổ và lãnh hải quốc gia mình một cách cụ thể như thế, thì đó là cả vấn đề. Nó biểu hiện sự can đảm và tấm lòng yêu quý Tổ quốc của những người đề xuất, và nhất là của tác giả, trước cường quyền của ngoại bang. Ít nhất, đây cũng là lời xác quyết một lần nữa về chủ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của dân tộc “Đại Nam” đương thời.

Trên hoạn lộ đầy thăng trầm của mình suốt ba thập kỷ từ năm 1860 đến 1900. Và trong bối cảnh lịch sử đầy biến động đau thương của đất nước, Hoàng Hữu Xứng đã đi từ “một con tuấn mã trong hàng Cử nhân” của vua Tự Đức, đến một lão thần mến yêu của vua Thành Thái. Quá trình hoạt động và sự nghiệp đời ông gắn liền với thời kỳ mạt vận đầy khó khăn phức tạp của triều Nguyễn.

Tiếp thu được một nền nho học truyền thống của gia đình và của triều đình, ông đã đem hết sở học sở tồn ra phục vụ dân tộc với một cuộc sống thanh liêm, trong sáng. Nhờ có tính trung thực, ông đã hai lần được bổ nhiệm đứng đầu Viện Đô Sát (1877 – 1886) là cơ quan trung ương có quyền giám sát và hạch tội tất cả các quan lại và cả nhà vua. Ông cũng được triều đình cử đi thanh tra vụ án tham nhũng và hối lộ lem nhem tại tỉnh Bình Thuận vào năm 1879.

Về sự nghiệp văn hóa, lúc mới ra làm quan (1860) ông giữ chức huấn đạo, tức là người cầm đầu ngành giáo dục của một huyện Tuy Viễn (Bình Định). Về sau, khi về nhậm chức tại Kinh đô, ông đã được cử làm “Đổng Lý” trong việc biên soạn bộ “Đại Nam quốc Cương giới Vựng biên” vào những năm 1886 – 1887 và làm phó Tổng tài phụ trách việc biên soạn bộ “Đại Nam Thực Lục chính biên Đệ ngũ kỷ” vào những năm 1894 – 1900. Ngoài ra, ông còn viết bài bạt cho cuốn “Cung kỷ luận âm” và làm nhiều thơ phú. Như vậy, ông đã dạy học, chấm thi, làm sách, làm văn, làm thơ. Sự nghiệp văn hóa nói chung đáng được gọi là một tác gia, và nên chăng, một nhà văn hóa.

                                                                                              Theo  P.T.A (Cửa Việt – Số 17 – Tháng 10 năm 1992)

Bia Hh Xung

Bia và lăng mộ ngài Hoàng Hữu Xứng

 

Bài 2.

NGÀI TUẦN PHỦ HOÀNG HỮU XỨNG

VÀ VỤ THẤT THỦ THÀNH HÀ NỘI (1882)

      Ngày 8 tháng 3 năm Nhâm Ngọ (25-4-1882) Henri Rivière đánh thành Hà Nội. Thành mất. Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết. Nhân vật số hai trọng nhậm Hà thành lúc bấy giờ là tuần phủ Hoàng Hữu Xứng bị giặc Pháp bắt. Ông tuyệt thực để phản đối và khước từ mọi lời lẽ dụ dỗ mua chuộc của giặc Pháp.

Hồi tôi còn là học sinh ở Huế, lúc học sử đến chỗ này, thầy dạy sử của tôi là ông Cao Hữu Triêm, đọc cho chúng tôi chép vào vở rằng: “Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng lúc đầu tuyệt thực để phản đối, sau không hiểu vì lẽ gì, đã ăn lại và chấp nhận thương lượng với người Pháp”.

Sự kiện này được đề cập đến trong Hà thành thất thủ ca như sau:

Quan tuần phủ thất kinh khi nớ
Đau lăng nhăng ba bữa lại lành…

Nhưng cay độc nhất là lời lẽ trong Hà thành chính khí ca:

… Văn như tuần phủ nực cười.
Bích chi là hiệu, năm mươi tuổi già
Biết bao cơm áo nước nhà
Kể trong sĩ tịch cũng là đại viên
Chén son chưa cạn lời nguyền
Nỡ nào bỗng chốc quên liền ngay đi
Lại còn quanh quẩn làm chi?
Hay là thương tiếc vật gì ở đây
Hay là có chước bình Tây
Trước kia hoảng hốt sau này nghiên tinh?
Hay còn tiếc cái xuân xanh
Tìm nơi kiếm chốn gieo mình trú chân?
Hay là còn chút từ thân
Đã toan tịch cốc mấy lần lại thôi?…

Sau này thỉnh thoảng nếu chúng ta bắt gặp đâu đó trong sách vở những lời lẽ xúc phạm kiểu đó, thì nguyên thủy đều từ, “Hà thành thất thủ ca” và “Hà thành chính khí ca”.

Chúng ta là con cháu họ Hoàng, trước tiên cần phải tỉnh táo lắng nghe những dư luận như vậy. Cũng không nên oán trách tác giả của hai bài thơ trên. Họ cũng là những người có lòng yêu nước. Sau khi thành mất, cực kỳ xúc động trước cái chết của quan tổng đốc Hoàng Diệu, có lẽ họ muốn ai cũng phải noi gương Hoàng Diệu, tuẫn tiết theo thành chăng? Và nếu ai không làm được như vậy thì đều là kẻ đáng nguyền rủa chăng?

Như chúng ta biết, “Hà thành thất thủ ca” và “Hà thành chính khí ca”, có thể là do cùng một tác giả nặc danh (có thuyết cho rằng tác giả là Nguyễn Văn Giai, tục gọi là Ba Giai – một dạng “Siêu quậy” thời bấy giờ.) Đấy là hai văn bản truyền miệng, có lẽ được sáng tác dựa lên tin đồn và dư luận sau cơn hoảng loạn của vụ thất thủ. Tác giả của văn bản chưa chắc đã có đủ thông tin cần thiết để hiểu rõ nội tình và sự kiện. Và dư luận, tin đồn thì lắm khi rất độc ác và không mấy chính xác.

Rất may là ngoài hai văn bản thi ca bình dân đó, tất cả những bộ sách sử mà chúng tôi tham khảo được, không có tài liệu sử học nào lên án ngài Hoàng Hữu Xứng theo kiểu đó cả.

Sách (1884 – 1945) Sài gòn – 1961 của sử gia Phan Khoang viết: “Tuấn phủ Hoàng Hữu Xứng đi tìm Hoàng Diệu, vào hành cung bị quân Pháp bắt giữ lại, ông nhịn ăn, lâm bệnh”. Như vậy ngài Hữu Xứng đã không bỏ thành chạy trốn như nhiều vị đồng liêu khác. Trong cơn binh lửa, ngài vẫn ở lại trung tâm của điểm nóng để toan hợp sức cùng Hoàng Diệu đối phó với tình hình. Chỉ tiếc là lúc ấy, Hoàng Diệu đã tử tiết. Ngài Hữu Xứng còn bám trụ là vì Hoàng Diệu chứ không phải vì “thương tiếc vật gì” như lời lẽ trong bài Hà thành chính khí ca. Ngài làm quan lâu năm ở nhiều nơi như Hà Nội, Huế, Quảng Nam mà cũng không hề có “vật gì” ở các nơi ấy (nhà cửa, ruộng đất…) ngoài một ngôi từ đường khiêm tốn ở làng Bích Khê.

Trong bộ quân sử (quân đội Sàigon cũ) đồ sộ của sử gia Phạm Văn Sơn – quyển III – – 1847 – 1945) Saigon – 1971 nói rõ hơn về thái độ của Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng: “Các tướng sĩ chạy hết. Còn lại tuần phủ Hoàng Hữu Xứng chạy đi tìm Tổng đốc Hoàng Diệu, khi đến hành cung thì mới hay là ông đã thắt cổ chết. Cũng vừa lúc đó, quân Pháp tràn tới bắt được ông và giam lại hành cung…

Trước đó, trong chức vụ phụ tá cho Hoàng Diệu, ngài Hoàng Hữu Xứng đã hai lần giao dịch với Henri Rivière. Đến khi “địch quân bắt đầu công kích lúc ấy là tám giờ mười lăm phút, Hoàng Diệu và tuần phủ Hoàng Hữu Xứng đốc quân chống cự (Phan Khoang – sách đã dẫn)

… Sau khi chiếm xong thành Hà Nội, người Pháp cho đi mời Án sát Tôn Thất Bá. (người trước đó được tổng đốc Hoàng Diệu cử đi thương thuyết, thấy súng nổ bỏ trốn về làng Nhân Mục – Hà Đông) về để giao lại tỉnh thành. Bá về bàn lại với tuần phủ Hoàng Hữu Xứng, bị ông này phản đối. Bá khóc lóc kể lợi hại. Tuần phủ Xứng bằng lòng để một mình Bá nhận. Pháp cử Bá làm quyền Tổng đốc Hà Nội vào ngày 29/4/1882. (Vì thế cho nên bấy giờ người ta nghi cho Bá đã có liên lạc trước với quân cướp nước?)” (Phạm Văn Sơn – sách đã dẫn)

… Và Tôn Thất Bá chạy qua làng Nhân Mục, người Pháp cho mời về để giao lại tỉnh thành, Bá đến thương lượng việc ấy với Hoàng Hữu Xứng. Hoàng Hữu Xứng để một mình Bá nhận rồi tư các ông Hoàng Tá Viêm, Nguyễn Chánh và các tỉnh gần nói rằng nếu có thể thừa thế được thì cứ làm chứ đừng lấy việc nhận thành làm ngại (Phan Khoang – sách đã dẫn).

Tóm tắt, ngài Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng đã có thái độ tích cực:

– Không bỏ chạy mà đốc quân chống cự rồi ở lại bám giữ thành cho đến khi bị giặc Pháp bắt giữ và bị khống chế.
– Tự nguyện tuyệt thực chứ không phải “nhịn đói ba hôm thành bịnh” như lời lẽ trong Hà thành thất thủ ca.
– Bề ngoài, ngài chịu để Tôn Thất Bá nhận thành nhưng vẫn ngấm ngầm ra lệnh cho các tỉnh thành tìm cách đánh Pháp.

Vì sao ngài lại chấm dứt tuyệt thực? Trước tiên, đó là chỉ dụ của vua Tự Đức do khâm sai Trần Đình Túc từ Huế mang ra Hà Nội, truyền ngài phải chấm dứt tuyệt thực để lo giải quyết tình hình sau khi thành bị Pháp chiếm đóng.

Trần Đình Túc cũng đã chuyển lời của cụ bà Lê Thị Hơn, thân mẫu của ngài Hoàng Hữu Xứng: “Tổng đốc đã tự vẫn. Các ông đề đốc, bố chánh, án sát, lãnh binh đã chạy trốn nay con cũng tuyệt thực cho đến chết thì Hà thành sẽ ra sao? Con phải sống để lo cho dân trước đã sau rồi phải về kinh chịu tội với triều đình. Miễn con đừng đầu hàng, theo giặc là được.

Năm ấy cụ bà Lê Thị Hơn đã 73 tuổi và sẽ sống thêm được bốn năm nữa. Đối với ngài Hoàng Hữu Xứng, lệnh vua và lời mẹ đều không thể không tuân. Vì vậy ngài phải chấm dứt tuyệt thực. Đọc đoạn này, ta còn suy ra rằng từ khi ngài bị giặc Pháp bắt và tuyệt thực ngày 25-4-1882 đến khi Trần Đình Túc từ Huế mang lệnh vua ra đến Hà Nội, thời gian đi về rất dài, không thể nói như “Hà thành thất thủ ca” là “đau lăng nhăng ba bữa lại lành”. Theo tài liệu của gia đình họ Hoàng thì cuộc tuyệt thực kéo dài nhiều ngày đêm, diễn ra trên hành cung Hà nội, và cả đến khi giặc Pháp đưa xuống tàu chuyển về Huế. (Theo lược sử gia đình của Hàm Quang và Bích Hồ)

Ngài Hoàng Hữu Xứng đã tuyệt thực như một hình thức đấu tranh để phản đối. Trong phương thức đấu tranh này không hề có yêu cầu là người tuyệt thực phải nhịn ăn đến chết. Thánh Gandhi của Ấn Độ đã tuyệt thực hàng chục lần trong khi đấu tranh với thực dân Anh. Tăng ni và đồng bào phật tử ở miền Nam Việt Nam cũng thường tuyệt thực để chống chế độ Saigon cũ. Những cuộc tuyệt thực ấy đều có thời hạn chấm dứt. Lịch sử và công luận thông minh tỉnh táo và nhân đạo không hề lên án họ vì họ đã không tuyệt thực đến chết.

Chúng ta cũng tỉnh táo và yên tâm rằng tiền nhân của chúng ta – ngài Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng đã không hề giống như những gì đã mô tả trong một số sách vở trước đây.

Chúng ta là con cháu, cũng không thể có ý nghĩ mong muốn ông cha mình tự tử để con cháu đời sau được thơm lây. Ý nghĩ ấy, xét cho cùng, cũng là bất hiếu, bất hạnh và ích kỷ.

HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN (đời 16)

Hanoi That Thu

tranh vẽ của người Pháp về thành Hà Nội  vừa bị chiếm năm 1882- (Cục lưu trữ quốc gia Pháp ở Aix en Provence)

5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài 2 bis

Ngài Tuần phủ HOÀNG HỮU XỨNG

Và “Hà Thành chính khí” trở lại với Thủ đô Hà Nội trên sân khấu của Nhà hát kịch nói.

                                                                                                                                                                  TRIỆU PHONG

      Như ta đều biết, họ Hoàng ta có ngài Hoàng  Hữu Xứng, đời thứ 13,là con ngài Hoàng Hữu Lợi và cụ bà Lê Thị Hơn, năm sinh 1831,nhà nghèo nhưng rất chăm học: năm  1852 đậu cử nhân, với bút lực uyên thâm được Vua Tự Đức phê:”Ông Hữu Xứng là Tuấn mã trong hàng cử nhân”

Năm 1987, từ là Thị Lang bộ Lại ( tương được với chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ hiện nay),ông được Vua điều ra làm Tuần vũ Hà Nội( Tương đương với chức Chủ tịch ủy ban nhân dân Hà Nội ngày nay).

Rạng sáng ngày mồng 8 tháng 3 năm Nhâm Ngọ (25 tháng 4 năm 1882), Đại tá Henri Rivière của Hải quân Pháp cho tàu chiến áp sát thành Hà Nội, đưa tối hậu thơ đòi giải giới và giao nộp thành. Vị quan giữ thành khi ấy là Tổng đốc Hà Ninh Hoàng Diệu liền tiếp thư, nhưng phía Pháp không đợi trả lời, mà nổ súng tấn công. Quan quân trong thành lập tức kháng cự, nhưng không thể cản ngăn được.

Mất thành, Tổng đốc Hoàng Diệu đã thắt cổ tuẫn tiết.Ngài Hoàng Hữu Xứng   bị giặc Pháp bắt nhưng không chịu đầu hàng mà tuyệt thực trong lao tù.

Sự kiện ấy đến nay tròn 137 năm…. Vừa qua, Nhà hát Kịch Hà Nội trong chương trình nghệ thuật kỷ niệm 1010 Hà nội, đã xây dựng vở kịch lớn “Hà Thành chính khí” lấy bối cảnh những năm 1880, khi thực dân Pháp đã lấy xong vùng đất Nam Kỳ, đem quân ra Bắc với dã tâm đánh chiếm thành Hà Nội. Lúc bấy giờ, trấn giữ tỉnh Hà Ninh (gồm thành Hà Nội, tỉnh Hà Nam và tỉnh Ninh Bình) là Tổng đốc Hoàng Diệu. Ông là người văn võ song toàn,thanh liêm chính trực, một lòng vì nước vì dân. Nhận thấy âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, Tổng đốc Hà Ninh Hoàng Diệu đã chích máu ăn thề cùng Hoàng Hữu Xứng và các tướng lĩnh thân tín quyết không để Hà nội rơi vào tay Pháp,vừa bắt tay chuẩn bị chiến đấu, đào hào, đắp thành, sẵn sàng vũ khí đạn dược; vừa hết lòng chăm lo cho đời sống dân chúng. Tuy nhiên, chính sự đớn hèn của triều đình va sự bội phản của Án sát Tôn thất Bá đã khiến Tổng đốc Hoàng Diệu gặp nhiều trở ngại khi phải chống chọi với sức mạnh của quân đội Pháp. Cụ đã cùng các tướng sĩ quyết tử để bảo vệ thành Hà Nội đến hơi thở cuối cùng.Bên Tổng đốc Hoàng Diệu, Quan tuần phủ Hoàng hữu Xưng là một điểm sáng của của vở diễn, nếu bật ý chí và bản lĩnh của quan tuần phủ quyết kề vai sát cánh chiến đấu đến cùng với Tổng đốc Hoàng Diệu chống lại Pháp xâm lược.

“Hà Thành chính khí” có sự tham gia của các nghệ sĩ: Tiến Lộc (vai Tổng đốc Hoàng Diệu), Thiện Tùng (Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng), NSND Công Lý (Án sát Tôn Thất Bá), Thanh Tùng (Đề đốc Lê Văn Trinh), Mạnh Hưng (bố chính Phan Văn Tuyển , NSƯT Quang Thắng (Đại tá Henri Riviere). Vở diễn quy tụ hơn 100 nghệ sĩ, diễn viên Nhà hát kịch Hà Nội, Trung tâm Huấn luyện và thi đấu thể dục thể thao Hà Nội, …

Tôi đã được chúng kiến vở diễn này tại hà nội dịp 10/10 vừa qua. Hoành tráng và xúc động.Nhất là khi chứng kiến người ông kính yêu của mình Hoàng Hữu Xứng xuất hiện trên sân khấu.137 năm, Ngài Tuần phủ lại trở lại với Hà nội yêu dấu…

6.dien Vien Thien Tung Trong Vai Hoang Huu Xung 1 300x270

 

                         Diễn viên Thiên Tùng đóng vai Tuần Phủ Hoàng Hữu Xứng trong vở kịch nói Hà Thành chính khí 

TRIỆU PHONG

Bài 3

NGÀI  HOÀNG HỮU NUNG
(ĐỜI 13)

(Con thứ hai của ông Hoàng Hữu Lợi và Lê Thị Hơn)
Tự: Thúc Đường
Sinh: 19 tháng 8 Giáp Thìn (1840)
Mất: 15 tháng 9 Giáp Tuất (1874) hưởng dương 34 tuổi
Mộ: Tại Nương Âm

Thông nho học. Chữ viết tốt. Năm Tự Đức 19 (1866) lấy chân sỹ nhân ứng mộ vào viết bộ sách Hải Vân tại Nội các. Được bổ làm tại Nam Trực Ty bộ Hộ, thăng làm Chánh cửu phẩm.

Chánh thất: Bà Nguyễn Thị Xuân con ông Nguyễn Nguyên làng Xuân Yên. Sinh: 25-12 Giáp Thìn (1844) mất 26 tháng 3 Canh dần (1890) hưởng dương 41 tuổi. Mộ tại Cồn Giàng. Góa chồng lúc tuổi trẻ vẫn hết sức đoan trang, thủ tiết thờ chồng nuôi con. Gương tiết hạnh của bà làm vinh dự cho gia tộc.

Con: 2 trai – 1 gái
1. Hoàng Hữu Khải        2. Hoàng Thị Cúc            3. Hoàng Hữu Thực

Hhnung

Phổ đồ dòng ngài HOÀNG HỮU NUNG

 

 

 

 

 

Bài 4

Ngài  HOÀNG HỮU TUỆ
(ĐỜI 13)

(Con thứ 7 của cụ Hoàng Hữu Lợi và bà Lê Thị Hơn)
Tự: Thúc Dĩnh – Hiệu: Hòa Phố
Sinh: 13 tháng 8 Nhâm Tý (1852)
Mất: 13 tháng 3 Nhâm Tuất (1922) thọ 71 tuổi

Thông nho học, nhiều lý sự, có xảo năng kiến trúc. Làm trị sự trong làng, xử đoán công minh, mọi người cảm phục. Các đình chùa miếu do cụ quản đốc xây dựng đều khang trang, đẹp đẽ. Hai chùa Tịnh Quang và Linh Quang do cụ xây dựng đã mời cụ làm Hội chủ nên sau này con cháu thường biết biệt danh của cụ là cố Hội.

Phối thất: Bà Mai Thị Hậu, người làng Phường Lãng Hải Lăng – Quảng Trị, sinh năm Nhâm Tý (1852), mất ngày 12 tháng 3 Mậu Thìn (1928) thọ 77 tuổi.

Bà Nguyễn Thị Nghiêu, người làng An Bình – Gio Linh sinh năm Tân Mùi (1871) mất ngày 7 tháng 3 năm Tân Dậu (1922) thọ 51 tuổi.

Con: 4 trai – 5 gái, nhưng đăng thế: 2 trai – 2 gái

  1. Hoàng Thị Vạn          2. Hoàng Hữu Đàn
    3. Hoàng Hữu Thiệp      4. Hoàng Thị Thiên
  • Trích bài nói chuyện của ông Hoàng Hữu Hải (đời 15) trong lễ khánh thành lăng mộ ngài Hoàng Hữu Tuệ ngày 29-9-1996 tại xã An Hòa – Long Thành, Đồng Nai.

     Ngài Hoàng Hữu Tuệ con thứ 3 của ngài Hoàng Hữu Lợi sinh thời chỉ say mê ruộng đồng và làm công đức thập phương. Nhân dân trong tỉnh thường gọi Ngài là cụ Hội, vì đi đâu ngài cũng thường là hội chủ của các chùa chiền lăng miếu. Trong một buổi đi thăm tá điền của Ngài là Bà Nguyễn Thị B. thôn Vinh Quang thượng vừa sinh con. Ngài thấy bà cơm không đủ no, con không có sữa bú; Ngài đã bảo người giúp việc về mang tất cả văn tự nợ của bà cùng với thực phẩm đến trao cho bà mừng đứa trẻ chào đời. Với lòng bao dung đó Ngài đã tạo nên một thế hệ con cháu biết sống vị tha và vì nghĩa lớn mà hiện thân là:

Con trai trưởng của Ngài – Cụ Hoàng Hữu Đàn từ một vị Tú tài nổi tiếng khắp vùng về văn hay chữ tốt đã tự nguyện trở thành người chiến sĩ CM của TNCMĐCH. Rồi suốt 30 năm ròng với tư cách là một Hòa thượng chân tu nhưng thực chất cụ là một chiến sĩ CM hết chống Pháp đến chống Nhật. CM Tháng 8 vừa thành công giặc Pháp quay trở lại xâm chiếm Tổ quốc ta cụ đã cởi áo cà sa khoác chiến bào chiến đấu trên chiến trường cực Nam Trung bộ rồi trở thành Ủy viên UBKCHC Quảng Trị, ban chấp hành hội liên việt liên khu IV và hy sinh trên bước đường CM.

Con thứ hai của ngài – Cụ Hoàng Hữu Thiệp thân phụ của chúng tôi là một thân sĩ yêu nước. Người phục vụ CM bằng cách lấy nhà cửa, nơi ở cùa mình để tổ chức các cuộc họp của tỉnh Đảng bộ trong những ngày trứng nước của CM. Các nhà CM như Lê Duẩn, Nguyễn Hữu Dực, Lê Thế Hiếu v.v… thường xuyên lui tới và biến nhà cụ thành trụ sở bí mật.

Thân mẫu chúng tôi – Bà Nguyễn Thị Lạc sinh 1990 và mất năm 1987 tại chính trên mảnh đất này – xã An Hòa, huyện Long thành, tỉnh Đồng Nai. Nhắc đến thân mẫu, chúng tôi luôn nhớ đến dòng họ Nguyễn Đăng thôn Vinh Quang hạ, Gio Linh, Quảng Trị một dòng họ Cần vương rồi trở thành dòng họ CM. Một câu chuyện lịch sử trong quá trình phát triển của họ Nguyễn: Bọn hương lý địa phương muốn chiếm đoạt và ức hiếp nên chúng lấy tài liệu đem chôn vào nhà rồi chỉ điểm lính đến bắt, chúng đào tài liệu lên vu khống gia  đình họ Nguyễn, rồi bắt đi tất cả từ ông ngoại đến các cậu và các bà con khác; hầu như cả Họ bị bắt, chỉ còn bà ngoại và thân mẫu chúng tôi ở lại nhà vừa đấu tranh vừa tìm đường lo lót quan trường để cứu người thân. Tên tuần phủ ăn tiền xong rồi lẫn tránh. Chính thân mẫu chúng tôi lúc đó chỉ là một cô gái tuổi 30 đến trước tỉnh đường đã đấu tranh vạch mặt và bắt y phải ký lệnh tha mới thả cho đi.

Cả huyện Gio Linh không 1 người dân nào không biết đến cụ Nguyễn Đăng Khoa vị bí thư huyện ủy kiên cường. Giặc bắt được ông, chúng mua chuộc, dụ dỗ ông ra làm quan. Nhưng chính trong phiên chợ Cầu đông nghịt, ông đã ném ly nước vào mặt tên quan 3 Pháp đang dụ dỗ ông chứ không chịu đầu hàng. Giặc bắn ông ngay tại chỗ nhưng 1 tháng sau gần 100 tên Pháp và ngụy quân phải đền tội. Người chiến sĩ hy sinh dũng cảm đó cũng chính là tác giả dịch tài liệu về chủ nghĩa Mác từ tiếng Pháp ra tiếng Việt đầu tiên ở Quảng Trị (theo lời TBT Lê Duẩn). Ông ngoại chúng tôi sinh ra và giáo dưỡng những người con anh dũng như vậy. Khi du kích đưa thi hài của cậu chúng tôi về đến quê làng thì ông cũng mất trong một ngày của tháng đó. Rồi cậu Nguyễn Đăng Dinh chính trị viên huyện đội cũng anh dũng hy sinh. Vài tháng sau cậu Nguyễn Đăng Dung người học sinh thi đỗ loại nhất vào lycée Khải Định và đã trở thành người đại đội trưởng vệ quốc đoàn hi sinh trong trận đánh chiếm đồn giặc ở Đầu mầu. Và vào cuối những năm KC chống Pháp cháu nội Nguyễn Đăng Đệ của ông cũng hi sinh anh dũng trên chiến trường Măng Giang (Tây Nguyên) trong cuộc KC chống Pháp ngài đã dâng hiến cho tổ quốc 4 người con và một người cháu anh dũng của mình. Những người con ngài còn sống như cậu Nguyễn Đăng Trình (tức đại tá Tùng Lâm) người trung đoàn trưởng Vệ quốc đoàn đầu tiên của Quảng Trị. Trong KC chống Mỹ cậu là đoàn trưởng pháo binh nặng đã chôn vùi hàng trăm tên giặc Mỹ trên phòng tuyến Mac Namara ở Cồn Tiên, Dốc Miếu.

Thân phụ chúng tôi mất sớm. Thân mẫu chúng tôi vừa tròn 36 tuổi đã phải một mình tần tảo nuôi dạy 8 đứa con thơ; con cả chưa đến tuổi trưởng thành và con út cũng chưa đến tuổi thôi nôi. Thế mà bà đã dìu dắt chúng tôi vượt qua mọi thác ghềnh. Bà đã cống hiến cho Tổ quốc hai người con trai lớn: anh cả Hoàng Hữu Huy cán bộ CA Khánh Hòa là liệt sĩ trong những ngày đầu KC chống Pháp; anh Hoàng Hữu Hùng là người chiến sĩ hăng say trong những ngày nam tiến và hi sinh tại xã Tân Thới Hòa (nay là Thới Hòa). Q. Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long trên mặt trận miền Tây Nam bộ anh hùng lúc anh vào độ tuổi 20.

Trong những năm đen tối của cuộc KC chống xâm lược thân mẫu chúng tôi luôn luôn là một đảng viên CS kiên cường. Bằng lối nói nhẹ nhàng và sâu sắc bà đã làm cho kẻ thù phải khuất phục và nhân dân tin yêu. Bà sống trong lòng bà con, từ cụ già đến em bé ai cũng quí mến.

Hiện tại các con cháu của bà hầu hết đều sống và công tác ở miền Nam, đang tuân theo lời dạy của bà hết lòng xây dựng quê hương mới trên bất kỳ cương vị nào. Anh Lê Diệu, chị Hoàng Thị Tam – con rể và con gái của bà là những cán bộ lão thành, tham gia CM từ những năm 1936 – 1939, nay sinh hoạt tại xã nhà, luôn là những công dân hăng hái xây dựng địa phương. Anh Phạm Lai con rể thứ ba của bà là một thiếu tá quân đội đã về hưu nhưng tham gia tích cực trong lĩnh đạo của xã nhà trong cương vị BTCB, chủ tịch MTTQ và hội Cựu chiến binh, trong mọi cương vị anh đều hoàn thành tốt và được nhân dân tin yêu. Chúng tôi là con cháu của bà từ cương vị giáo sư, kỹ sư, bác sĩ, tiến sĩ đến công nhân đang sống trên quê hương mới nguyện làm tròn những điều mà thân mẫu chúng tôi đã nhắc nhở trong những ngày sống cuối cùng của người tại xã An Hòa này, những ngày mà bà sống với tiền trợ cấp mẹ liệt sĩ thanh đạm nhưng luôn lạc quan. Trong những ngày tháng đó bà thường vui vẻ nhớ lại những năm tháng hào hùng xưa và đọc cho con cháu những dòng, những chữ trong hải ngoại huyết thư của nhà yêu nước Phan Bội Châu như những lời nhắn lại con cháu trước lúc đi vào cõi vĩnh hằng.

                                                                                              HOÀNG HỮU HẢI-Đ 15 

Cam Trai 6

Lăng ngài Hoàng Hữu Tuệ ở Nghĩa trang Đồng hương Quảng Trị tại Bình Dương

 

Lăng mộ  Ngài HOÀNG HỮU TUỆ

Bài 5

Ngài HOÀNG HỮU BỈNH
(1869 – 1946)

Ththtkh

 

ĐẠi ThẦn

               Ngài HOÀNG HỮU BỈNH – ( người thứ tư hàng đầu-phải qua trái) cùng các quan đại thần triều Nguyễn.

 

Cụ là con trai út của ngài Hoàng Hữu Lợi và bà Hồ Thị Giá sinh ngày mùng 2 tháng 9 năm Kỷ Tỵ 1869) trong một gia đình nho giáo.Thân phụ cụ, ngài Trung nghị đại phu Đô Sát viện phó đô ngự sử Hoàng Hữu Lợi mất vào năm 1876, lúc cụ mới lên 7 tuổi, được ngài thân mẫu, bà tứ phẩm cung nhân Hồ Thị Giá, hết lòng nuôi dưỡng bảo bọc cụ được theo học chữ nho dưới sự hướng dẫn của bào huynh, cụ Hiệp Biện đại học sĩ Hoàng Hữu Xứng và đặc biệt được đường điệt, ông Đình Nguyên nhị giáp, Quang lộc Tự khanh Hoàng Hữu Bính,   tận tình dắt dìu, hướng dẫn .

Năm Thành Thái thứ 3, Tân Mão 1891 (22 tuổi) đậu cử nhân

Năm Thành Thái thứ 10, Mậu Tuất 1898 (29 tuổi) thi Hội đủ phân số 3 trường.

Năm Thành Thái thứ 11, Kỷ Hợi 1899 (30 tuổi) thọ Hàn lâm viện Điển Tịch, bổ giáo thọ phủ Điện Bàn, Quảng Nam, rồi thăng Hàn lâm viện trước tác, lãnh tri huyện An Định (Thanh Hóa) rồi tri huyện Thạch Hà và Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.

Năm Duy Tân thứ 5, Tân Hợi 1911, về thừa chỉ Nội các.

Năm Duy Tân thứ 9, Ất Mão 1915, thăng Tri phủ Tỉnh gia, Thanh Hóa.

Năm Khải Định thứ 3, Mậu Ngọ 1918, Lang trung bộ công thăng Hồng lô tự khanh.

Năm Khải Định thứ 9, Giáp Tý 1924, thăng Quang lộc tự khanh (55 tuổi) về hưu.

Năm Bảo Đại thứ 13, Kỷ Mão 1938 thăng Thái thường tự khanh.

Bản tính cụ rất ngay thẳng, thông minh, hiếu thảo, làm quan lấy lòng Nhân mà xử thế, giúp dân, nên suốt cả cuộc đời làm quan khi về hưu vẫn nghèo, nhưng cụ rất tự hào với chữ “Thanh Bần” nghèo mà trong sạch.

Trong thi tứ cụ vẫn thường an phận hãnh diện với thú điền viên đạm bạc trong câu thư mừng xuân sau đây:

Hết Mão qua Thìn sắn với khoai,
Xuân đi xuân lại thưởng xuân hoài.
Lá xanh gốc thẳng ngoài sân trắc
Nhụy thắm bông vàng cạnh bể mai.

Trong gia đình cụ thường nhắc nhở dạy bảo con cháu luôn luôn giữ đạo “hiếu” cụ đã đích thân ghi lại đầy đủ chi tiết về ngày giờ sinh của 22 người con để lại trong cuốn gia phả bằng chữ nho.

Lúc về hưu, cụ rất thiết tha gắn bó với quê hương xóm làng. Hàng ngày bà con trong xóm làng có việc hiếu hỉ thường đến xin cụ câu đối, trướng, chỉ trong chốc lát cụ đã ứng khẩu đặt cho mỗi trường hợp những câu đối trướng thích nghi với hoàn cảnh mà mọi người đều kính phục.

Đặc biệt với giang sơn làng Bích Khê, vì ranh giới giữa hai làng Bích Khê và làng Trung Kiên không được rõ ràng, lấy con sông Thạch Hãn làm ranh giới mà sông thì theo thời gian mỗi ngày mỗi di dịch vì lũ lụt, mỗi năm phía đất làng Bích Khê mỗi bị lở, mà phía làng Trung kiên thì được bồi.

Cụ đã làm điều trần gởi vào bộ Hộ để xin ấn định lại ranh giới vì một phần lớn đất của làng Bích Khê đã bị lở, và đất ấy được bồi sang làng Trung kiên.

Được Bộ Hộ phúc “Dĩ Giang Vi Giái” lấy sông làm ranh giới.

Quá phẫn nộ với câu phúc đáp thiếu trách nhiệm của bộ Hộ lúc bấy giờ, cụ đã làm bản điều trần khác nhấn mạnh với câu:

Phù ký vị chi Giang
Tắc gian hà nhật hạ thôi di
Chung vô khả vãn chi kỳ.
Giang hà giái đắc!

Dịch

Phàm sông ngòi
Sẽ di dịch theo thời gian
Kết luận làm sao
Lấy sông làm ranh giới được

Với bài điều trần trình bày hợp lý trên, bộ Hộ phải ra lệnh cho Tòa Tuần phủ Quảng Trị cử một phái đoàn về đo đạc và ấn định lại ranh giới làng Bích Khê và làng Trung kiên bằng cách dựng một trụ mốc trên phía đất bồi. Do đó phần đất phù sa ở phía làng Trung kiên hiện nay thuộc về công thổ của làng Bích Khê là nhờ sự đấu tranh của cụ lúc bấy giờ.

Ngày đón phái đoàn của tỉnh về đo đạc để ấn định lại mốc giới của làng Bích Khê là ngày hội lớn của dân làng Bích Khê, tất cả mọi người đều rất hân hoan với cờ trống để đi dự ngày trọng đại ấy của Giang sơn.

Thành quả của việc này đạt được không những bà con trong làng Bích Khê đều mừng rỡ ca ngợi, mà tất cả bà con trong các làng lân cận, trong tổng, trong phủ đều kính phục.

Trong dịp mừng này cụ có bài thơ như sau:

Bán bách niên lai nhất hội đồng
Bích Khê thùy thị chủ nhơn ông
Đồi ba ngật dĩ trung lưu trụ
Ngọc thụ y diên tạc dạ bồng
Tha nhận thôi di khoan hậu lự
Thiên niên để tạo bí tiền công
Trung ư tiêu trưởng dinh hưu lý
Tự hữu trung hành bá chí công.

Dịch

“Trải nữa trăm năm mới hội đồng
Ấy ai làm chủ có hay không
Non sông chống lại thuyền trên nước
Sóng gió ghê chi cột giữa dòng
Hai phía lở bồi cơ tạo hóa
Ngàn năm gìn giữ nghiệp cha ông
Khi nên trời cũng chiều người vậy
Hết rủi rồi may thấy lẻ công”.

Trong tuổi già, cụ được các vị hiền thê bà Trần Thị An và Trần Thị Phiến cùng con, dâu chăm sóc rất chu đáo.

Năm 1946, vì tuổi cao, cụ lâm bệnh và từ trần lúc 8 giờ ngày 23-10 Bính Tuất (tức thứ bảy 15-11-1946) hưởng thọ 78 tuổi). Lễ an táng cụ được cử hành rất trọng thể tại làng Bích Khê với sự tham dự đông đủ con, cháu nội ngoại, thân bằng quyến thuộc, thông gia, cả họ, cả làng, trong hàng vạn bạn bè có quý cụ hưu quan như: cụ Bố Chánh Nguyễn Kỳ Quảng Điền, cụ Ngự sử Đô Sát Viện Quan Lộc Tự khanh Phan Triệu Khanh, cụ Giáo liêm…

Cụ được an táng tại nghĩa trang Cồn Giàng, làng Bích Khê. Ngôi mộ được xây lăng dựng bia rất chu đáo. Năm 1977, kim cốt cụ cùng ngài thân mẫu, các vị phu nhân và một số người thân yêu quá cố trong gia đình đã được đưa vào nam, an vị tại tầng thứ ba Tháp Phổ Đồng, An dưỡng địa Phú Lâm. Năm 1990, toàn bộ linh cốt trong gia đình được an táng tại khu nghĩa trang Hoàng Bích Khê tại Gò Dưa.

Qua tiểu sử, chúng ta thấy được suốt cuộc đời cụ đã để lại cho chúng ta biết bao gương tốt trong cách xử thế, từ trong gia đình đến quê hương xóm làng.

Hằng năm 23-10 Đinh Mão, kỷ niệm ngày giỗ thứ 41 của cụ chúng ta tề tựu nơi đây, đứng trước bàn thờ cụ, hướng về quá khứ, liên hệ đến cuộc sống hiện tại của chúng ta, mặc dù trải qua bao nhiêu biến cố, thử thách thăng trầm, tất cả con, cháu, chắt, chiu nội ngoại của cụ đến giờ phút này vẫn còn có được một cuộc sống mặc dù không giàu có nhưng vẫn được tương đối thoải mái, là cũng nhờ sự đùm bọc của những người thân yêu ruột thịt.

Sự đùm bọc, giúp đỡ, che chở nhau trong gia đình Hoàng Hữu không phải ngẫu nhiên, mà do truyền thống tốt đẹp có từ ngàn xưa từ các thế hệ cha, ông của chúng ta để lại cho chúng ta thừa hưởng hôm nay.                                                                                      HOÀNG HỮU LẠC(Đời 14)

 

Đền ngài Hoàng Hữu Bỉnh tại làng Bích Khê

Hhhach

                                    Ông HOÀNG HỮU HẠCH tại khu nghĩa trang dóng cố Thái ở Thủ Đức.(TPHCM)

Bà Kiều Tiên ở TPHCM  và  ông Hoàng Tất Đạt từ Mỹ về làm lễ an táng bà Hoàng Hữu Gia

Bà con  tham dự lễ an táng bà Hoàng Hữu Gia tại nghĩa trang Thủ Đức.

Bài 6

NHỮNG NGƯỜI CON TRAI
CỦA NGÀI HOÀNG HỮU XỨNG

Ngài Hoàng Hữu Xứng sinh được 7 người con trai, mỗi người đều có cá tính và phẩm chất ưu tú.

  1. NGÀI HOÀNG HỮU BÍNH

Người con trai đầu của ngài Bình Như là ngài Hoàng Hữu Bính, tự Đẩu Nam, hiệu Trì Khiêm, biệt hiệu là Nghĩa Trai.Lúc còn nhỏ ngài hấp thụ được giáo dục của ông nội nên văn chương hùng hồn, khí phách hiên ngang, không phải ôn hòa như cụ thân sinh. Lúc vừa lớn gọi là cậu cả Đông. Noi theo nếp nhà ngài rất chăm học chữ viết rất tốt, không kém lối chữ thư pháp Trung – hoa. Còn trẻ đã đỗ cử nhân nhưng không thích làm quan mà chỉ thích làm thầy đồ dạy học để đào tạo nhân tài. Gia dỉ nước đã bị mất chủ quyền, bọn Pháp chuyên chế, ngài càng chán nản.

Ngài thi hương đã đỗ cử nhân, khi vào thi hội và thi đình lại đỗ ngay hoàng giáp số 1 nên gọi là Đình Nguyên.

Tuy với cấp cao khoa “Hoàng giáp Đình nguyên” ngài được cất làm tri phủ Tuy An (Phú Yên) song ngài không vì bả vinh hoa mà để cho tiêu mòn cái bình sinh chí khí. Vào tỉnh lỵ ngài không đến ra mắt viên Công – Sứ, đến Phủ đường ngài không tiếp đón viên đồn quan. Vì thế nên mới có sự xích mích, ngài vác ghế đánh viên quan Đồn Pháp khi viên quan này đến Phủ đường dùng uy thế bắt ngài làm một việc theo ý muốn của y mà ngài không chịu, cho là làm thế có hại cho dân.

Sau vụ ấy, Ngài Hoàng giáp treo ấn tri phủ giữa công đường rồi cùng gia nhân đi bộ về Huế khiếu nại. Về phía bọn Pháp, viên Công sứ Phú Yên chạy giấy về cho viên Khâm Sứ Trung kỳ bảo phải làm tội Ngài cho khỏi nhục quốc thể, nhưng các Đại thần Nam triều thương mến Ngài, hết sức bênh vực, chống cãi cho Ngài và đem về giữ một chức quan trọng trong Quốc – Sử – quán với ngài Bình Như ta.

Ngài Hoàng giáp tánh không ưa ràng buộc bỡi danh lợi mà chỉ thích ngao du sơn thủy đó đây. Thơ chữ Hán của ngài rất nhiều và rất hay mà thơ nôm cũng tao nhã lắm tiếc vì giặc giả loạn ly các thi tập đều mất sạch.

Thơ ngài có bài vịnh Cảnh chùa non nước (Ngũ Hành Sơn ở Quảng Nam, đề vào hang đá, và luôn cả bài dịch ra quốc văn, như sau: (Bài hán không nhớ).

Chơi ngũ hành sơn
“Mạnh khen năm gả sức nên hùng,
Xây đắp năm tòa tận bể Đông;
Sông bể đài cao ngờ đất rút,
Trăng mây hang trống thấy trời thông
Trời chiều cây xói chùa nương núi,
Đêm vắng chuông rơi bến cặm bồng.
Mấy kẻ trần duyên dầu đến đó
Xui lòng khúc – khắc hóa như không”.

  1. NGÀI HOÀNG HỮU QUẢN

Người em thứ hai của Ngài Trì – Khiêm là Ngài Hoàng Hữu Quản, hiệu là Điềm – Tăng. Ngài từng học thức uyên bác, có tánh rất tự nhiên, ai có bình phẩm gì về ngài ngài cũng mặc, việc ngài thích thì ngài làm. Ngài thường hay suy nghĩ thơ văn nên miệng thường lẩm nhẩm, đôi mắt nhiều khi chăm ngó người ta không nháy mà kỳ thực ngài không hề biết kẻ đối diện là ai cả, hay trong đầu óc không có một ý nghĩ gì về kẻ đó, sự vật đó.

Ngài Điềm – Tăng câu đối rất hay, viết chữ rất tốt, thơ nôm thì giản dị mà nhiều câu rất tài tình. Lúc nhỏ ngài học với anh cả. Lớn lên đỗ cử nhân rồi vào thi hội chiếm ngay phó bảng, làm quan đến chức Đốc học tỉnh nhà, sau đổi vào tham tá nội – các – vụ văn phòng của Vua.

Vua Khải Định rất yêu ngài vì ngài thơ hay chữ tốt – Ngài rất bình đẳng với hết mọi người, không bao giờ ngài ỷ mình là quan cách gì cả. Trong gia đình, thì rất thương yêu con cháu, hễ ai cực khổ đến với ngài, ngài đều dung nạp. Đối với bạn bè thì rất chân thành chung thủy.

Thơ nôm ngài cũng rất tài tình, đã xuất khẩu đọc ngay bài thi tiển ông bạn ở Quảng Trị vào thăm khi về như sau:

“Bác vội chi về rứa Bác ơi!
Bác không ở lại một đôi hồi…
Tôi đưa chân Bác tôi thương xót
Bác bắt tay tôi Bác ngậm ngùi
Ở Huế có khi tôi nhớ Bác
Về nhà không lẽ Bác quên tôi…
Bác quên tôi nữa tôi không trách
Miễn Bác bình an được thế thôi

Về miếng ăn thức uống không bao giờ ngài chú ý, gặp sao hay vậy, người ta gọi là một “ông vô tâm với cuộc đời”.

  1. NGÀI HOÀNG HỮU KIỂM

Người em kế ngài Điềm – Tăng tên là Hoàng Hữu Kiểm, tự Thoại Phong, tánh tình rất nóng nảy, nghiêm khắc, con cháu thảy đều sợ sệt. Lúc nhỏ ngài học chữ nho rất thông minh, sau học chữ Pháp với một ông thầy người Sài Gòn – Ông thầy này sau mắc tội bị chính quyền dán giấy công bố tội trạng khắp các cửa thành, ngài liền đi rong khắp nơi và xé bỏ hết các giấy ấy, song bị nhà chức trách bắt gặp và phạt bạc mấy trăm đồng, ngài liền đánh điện tín về Huế để xin tiền gia đình vì trong lưng không có một xu. Ngài làm thông ngôn tòa Khâm – Sứ Huế kiêm cả chức ký lục, sau bị buộc phải thôi việc về nhà. Làm việc làng ngài rất công bằng chánh trực. Ở bàn giấy ngài có 4 chữ: Công bình, Liêm chánh. Sau ngài bỏ việc làng, đi dạy chữ Pháp. Ngài thọ bịnh thương hàn, mất mới ngoài 30 tuổi. Ngài có 8 người con, trong đó có ông Hoàng Hữu Xán, Hoàng Hữu Thước, bà Hoàng Thị Ái đều tham gia kháng chiến.

  1. NGÀI HOÀNG HỮU QUỴ

Hh Quy

                                                             Lăng mộ ngài Hoàng Hữu Quỵ tại làng Bích Khê

Ngài kế ngài Thoại Phong tên là Hoàng Hữu Quỵ, tự Tùng – Am, cũng một bậc nho học uyên bác, tánh tình thuần hậu, rất giàu lương tâm. Ngài đổ cử nhân thứ 4, làm quan đến tứ phẩm. Ngài không xu thời nên không làm được quan to. Trong gia đình, ngài là một người đạo đức luân lý số một.

Ngài Tùng Am lúc vào tri phủ Tuy Hòa đã tỏ ra một ông quan rất thanh liêm như mẫu chuyện sau đây:

Một hôm có một người đàn bà góa giàu có bị nhà cháy mất sạch khế tờ đất ruộng, xin lập lại tờ khế. Các nha lại muốn ăn hối lộ mụ này nhưng trước phải đem mồi cho quan phủ. Họ bảo đương sự phải có 6 cây bạc. (bạc đồng mụ đầm 1 cây 50$) để làm lễ ra mắt quan họ sẽ xin quan cho. Lúc thấy bạc ngài hỏi thì người đàn bà nói để mừng quan. Ngài liền bảo: “mụ đã bị cháy nhà, của cải mất sạch lấy gì mà sống mà ra mắt ra mũi thôi đem về, để ta xét phê cho.” Mụ năn nỉ mấy Ngài cũng nhất định không nhận. Thầy lại thấy thế nói, “Bẩm quan, thấy quan Tài chánh không được rộng rãi anh em chúng tôi có bảo mụ thành tâm (!) 6 cây bạc mua trà quan xơi.” Nghe thế, ngài liền thịnh nộ rầy nha thuộc: “Ai bảo các anh làm vậy? Các anh muốn bôi nhọ cái thanh danh của tôi sao? Nếu sau còn vậy tôi sẽ trừng trị thẳng tay!”

Thi văn ngài vẫn nhiều những thất lạc vì loạn ly, chỉ còn nhớ được vài bài sau đây:

“Hữu Trí Lưu Giản”
“Năm mươi lăm tuổi được huyền xa.
Bể hoạn thuyền chèo bến đã qua…
Quan chức chầm chầy lên phẩm bốn.
Ruộng vườn lếu láo đủ ngày ba…
Non sông gánh vác nhường cho trẻ
Trăng gió vui chơi bạn với già.
Thử hỏi người đời ai sống mãi,
Bo bo giữ lấy bã vinh hoa?”
                                           TÙNG AM

Tuy ngài làm quan triều Nguyễn nhưng lại rất ngưỡng mộ vua Quang Trung Nguyễn Huệ, nên đã làm bài thơ như sau:

Ruổi rong ra bắc kéo quân quan
Đánh đuổi quân Tàu chục vạn tan
Nói đến mấy triều vua nước Việt
Anh hùng có một chúa Tây Sơn.

Ngoài ra ngài còn để lại một quyển sách chữ hán nhan đề: Ấu học khảo nam thư – Nội dung hướng dẫn việc học tập cho con em trong thời buổi nước nhà cần canh tân.

  1. NGÀI HOÀNG HỮU BẢNG

Ngài em thứ 5 tiếp theo tên là Hoàng Hữu Bảng, tự Mặc tăng, rất thông minh. Lúc mới 15, 16 tuổi văn chương đã điêu luyện. Ngài khinh mạn hết mấy ông Tấn sĩ đương thời. Những văn bài thi phú của các ông Tấn sĩ đều bị ngài chê dở cả, rồi lấy những đề mục ấy đem làm bài khác dâng lên ngài Bình Như xem và chấm cho Ngài. Ngài Bình Như rất yêu quý ngài, định chắc chắn thế nào cũng là một nhân tài trong tương lai của gia đình. Song tiếc thay, chẳng may ngài mắc bệnh lao rồi tạ thế, mới trên 20 tuổi. Lúc đau nằm trên giường, ngài có ngâm một câu đối nôm:

“Đéo mẹ cha mi cứ bắt tau đau đau đớn đớn hoài, ngó như chó đói!”
“Đồ thầy bá nớ mà cho nó tiền tiền bạc bạc mãi chẳng được cóc xơ!”

  1. NGÀI HOÀNG HỮU KIỆT

Ngài thứ 6 tên là Hoàng Hữu Kiệt, tự Châu Thần. Ngài rất mê thơ, cũng đỗ cử nhân, làm quan tri huyện. Lúc bị thải hồi (chủ yếu là do tư tưởng và hành động chống Pháp, ủng hộ cách mạng), về ở núi làm ruộng và chiêu mộ dân cư lập phường. Ngài rất nóng tánh, cương trực, nên bị quan trên ghét.

Ngài rất say thơ, đi đường lẩm nhẩm ngâm thơ, nghĩ thơ, không chú ý đến sự vật trước mặt. Chừng gặp người quen đón lại chào ngài, ngài mới sực tỉnh.

Thơ nôm của Ngài có nhiều câu rất tài tình như hai câu luận trong bài chơi thuyền sông Hương:

“Thức suốt năm canh ngồi ngủ gục
Uống vô ba chén nói tam khào”

Ngài còn nhiều bài thơ tả cảnh tả tình rất hay đều được Ngài biên chép thành tập rất công phu, gọi là: “Phúc Khê thi tập”, nhưng cũng đều bị thất lạc vì biến cố chiến tranh. Ngài qua đời ở phường Phúc Khê, thọ 60 tuổi.

Hiepky2018 2

Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi ngài Châu Thần Hoàng Hữu Kiệt với lời khen tặng :Lão đương ích tráng” 

(Tài liệu này do Gs.Ts TRẦN ĐÌNH SỬ- cháu ngoại Đ 16 của ngài Châu Thần tặng Nhà thờ Chi Nhất A )

 

Hh Kiet

ngài Châu Thần Hoàng Hữu Kiệt

7.Ngài HOÀNG HỮU TIÊU

Ngài thứ 7 tên là Hoàng Hữu Tiêu, tự là Ứng Khôi, tánh rất thật thà, chơn chất. Say sưa nghiên cứu về khoa tử vi. Đã chấm số cho con cháu rất nhiều. Ngài thọ được 49 tuổi.

( HÀM QUANG và BÍCH HỒ sưu tầm )

Con Trai Hh Xung

Bia mộ  tại làng Bích khê của các ngài Đ 14- con của ngài Hoàng Hữu Xứng

 

Bài 7

 HÒA THƯỢNG THÍCH GIÁC PHONG

TỨC ĐỒNG CHÍ HOÀNG HỮU ĐÀN

Hh Dan

                                                               Di ảnh và di bút của Hòa thượng Tích Giác Phong.

Trong quyển Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm Phổ Môn của Thích Viên Giác ấn hành năm 1968 có dành một chương hơn 20 trang để giới thiệu tiểu sử của một vị cao tăng pháp danh Thích Giác Phong. Bài viết có đoạn như sau:
“Bổn sư chúng tôi quê ở làng Bích Khê, tổng Bích La, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, xuất thân trong một gia đình đại khoa bảng. Thầy đỗ tú tài năm mậu ngọ, lúc 22 tuổi, đồng khoa ấy, anh thầy đỗ Hoàng Giáp. Thầy cũng thông thạo tiếng Pháp, có tài viết liễn đối làm cho người Tàu cũng khâm phục. Sau khi đỗ đạt rồi thầy ở nhà vui thú điền viên. Một hôm thầy đi xem gặt lúa ngoài đồng bỗng có sắc lệnh của vua Khải Định mời thầy về làm bí thư riêng trong văn phòng nhà vua. Tuy được vua trọng dụng nhưng thầy không vì vậy mà tham mùi phú quí, bã vinh hoa. Thầy sớm nhận ra sự vô vị khi phải làm việc bên cạnh ông vua bù nhìn. Chẳng bao lâu, thầy xin từ quan…”

Tiếp theo, bản tiểu sử trong kinh phổ môn ghi hàng loạt công đức tu tập và hoằng pháp to lớn ở Nha Trang, Quảng Trị, Huế, Vinh, Đà Lạt, Hà Nội… ở đâu cũng lập chùa, thuyết pháp, đào tạo tăng tài. Từ trung tâm Phật học của thầy sáng lập ở Nha Trang, sau này sẽ đào tạo nên những vị tu sĩ rất nổi tiếng trong thời kỳ Phật giáo đấu tranh chống chế độ Ngô Đình Diệm và Thiệu – Kỳ: đó là thượng tọa Thích Thiện Minh và hòa thượng Thích Trí Thủ (đều là người làng Bích Khê).

Bản tiểu sử trong kinh phổ môn ghi tiếp:
“Sau khi từ quan, muốn đầy đủ kinh nghiệm, thầy du lịch sang Nhật, sang Tàu,… để tham khảo giáo lý, văn hóa và tình hình Phật sự. Sau đó thầy trở về, đầu tiên khai sơn chùa Giác Phong ở Quảng Trị. Do đó lấy pháp hiệu là Thích Giác Phong… Năm Bảo Đại thứ 10, thầy thọ đại giới ở chùa sắc tứ Tịnh Quang và đắc phát với hòa thượng Hải Đức. Do đó có pháp hiệu Bích Không…”

Thực ra ngài Giác Phong ra nước ngoài không đơn thuần là vì phật sự. Từ năm 1927, ngài đã bí mật tham gia Việt Nam Cách mạng Đồng chí hội với nhiệm vụ xứ ủy Trung Kỳ, đã hai lần đi dự hội nghị ở Quảng Châu. Còn chuyện chữ viết đẹp thì có giai thoại như sau:

Trên đường bôn ba hoạt động cách mạng, có lúc thầy dừng chân ở Sài Gòn. Một hôm tình cờ đi ngang một ngôi trường Tàu mới xây xong ở Chợ Lớn, thấy có bản đề “Cần tuyển người viết chữ Hán đẹp”. Sẵn đang lúc hết tiền, thầy bèn vào xin dự tuyển. Thì ra nhà trường chỉ cần viết mấy chữ Hán để làm bảng tên của trường học này. Thầy chỉ múa bút viết một thoáng là xong. Mười lăm phút sau, chủ trường đích thân bưng một mâm quà đến tặng thầy bao gồm: bút mực tàu, lụa để viết chữ và một bao thư trong đựng 30 đồng bạc (thời bấy giờ là món tiền rất lớn). Ông chủ trường người Hoa lễ phép nói: Lâu nay đã có hàng chục người đến dự thi nhưng chỉ mới hôm nay chúng tôi mới bắt gặp được một người có thư pháp đẹp như vậy”. Sau đó chủ trường dùng xe hơi đưa thầy đi dạo một vòng khắp Sài Gòn Chợ Lớn. Thầy chỉ dùng một ít trong số tiền thưởng, còn lại để nhập vào tiền quĩ của hội. Năm 1930, thầy bị Pháp bắt, ở tù 5 năm. Lúc ra tù xuất gia đầu Phật, làm trụ trì chùa Hải Đức Nha Trang rồi chùa Phổ Thiên ở Đà Nẵng. Năm 1945 thầy tham gia khởi nghĩa Nha Trang. Sau cách mạng tháng 8, được ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị mời về làm ủy viên ở tỉnh. Trong thời chiến tranh, thầy vẫn vừa hoạt động cách mạng vừa xuất bản kinh sách, dạy dỗ tăng ni ở vùng Thanh Nghệ Tĩnh.

Năm 1948 được phái đi làm đại diện ủy ban hành chánh kháng chiến tỉnh tại liên khu 4. Năm 1949 bị bệnh mất tại bệnh viện Phuống (Nghệ An). Mãi đến năm 1976, hài cốt của thầy mới được đưa về nhập tháp ở chùa Hải Đức Nha Trang.

Thầy Thích Giác Phong nói trên tên thực là Hoàng Hữu Đàn – tự Hưng Phủ, con thứ 3 ngài Hữu Tuệ. Bà con họ Hoàng thường gọi thầy một cách vắn tắt là ông Nghè Đàn. Phần lớn các giai thoại trong gia tộc đều nhằm đề cao các vị khoa bảng, bản thân tôi rất ít được nghe ai nói gì về ông Nghè Đàn. Những điều ghi chép trên đây, phần hoạt động về đạo thì do tôi tìm thấy trong quyển kinh Phật. Phần hoạt động cách mạng thì tôi được biết qua lời kể của một số cán bộ lãnh đạo lão thành cách mạng hoạt động cùng với ông ở miền Trung. Những người này gọi ông là đồng chí Hoàng Hữu Đàn. Riêng tôi, dù chỉ được nghe một ít giai thoại về ông, tôi cảm thấy rất thú vị và ngưỡng mộ.                                                                                                                                                            HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN  

Thơ Thiền

Thơ Thiền của ngài Thích Giác Phong

   

Bài  8

Ông Đại sứ 
HOÀNG HỮU KÌNH

và cuộc vượt ngục của tù áo trắng Côn Đảo

 

Hh Kinh

                                                                      Đại sứ Hoàng Hữu Kình (Đ 14)

Sau khi tái chiếm Nam bộ, chuyến tù mà thực dân Pháp đày ra Côn Đảo vào tháng 5 – 1946 là chuyến đầu tiên, độ 700 người, đa số là thanh niên yêu nước. Ra đây chúng chọn một số người biết tiếng Pháp làm thư ký, “cặp rằng”, các Sở lao dịch, làm bồi bếp cho những công chức trong bộ máy quản tù, những anh em này được mặc quần áo trắng vải thô, thay vì quần áo xanh như những người tù khổ sai tại đảo. Chuyến vượt ngục mà tôi kể sau đây là chuyến vượt ngục hy hữu của anh em tù áo trắng Côn Đảo thời Pháp do anh Hoàng Hữu Kình tồ chức.

Lợi dụng chính sách “tốt bụng” của giám đốc mới, Noel năm 1946 anh Hoàng Hữu Kình (1) lúc ấy là thư ký Sở Củi đã tổ chức đêm văn nghệ cách mạng, các bài ca Thanh niên hành khúc, Lên đàng, Diệt phát xít được anh em hát say sưa, vở vũ kịch Hằng Nga ngủ trong rừng, kịch thơ Nguyễn Trãi biệt Phi Khanh của Hoàng Cầm được các diễn viên tù thể hiện với tất cả tình cảm sống động. Cuối năm 1946, anh Hoàng Hữu Kình được điều về văn phòng giám thị trưởng, với chức danh thư ký trưởng, anh lại xin phép tổ chức một đêm văn nghệ mừng Xuân Đinh Hợi (1947). Đêm biểu diễn nà được tổ chức tại trại lính đảo, các bài ca cách mạng lại được anh em hát lại, vở kịch “Hội sợ vợ” do anh Lương Văn Thắng sáng tác tại đảo, kịch “Trưởng giả học làm sang”, do các anh Kình, anh Trần Duy Giang và tôi đóng vai chính, nội dung kịch nói lên tính ươn hèn, ngu dốt của lớp người gọi là có Tây học… khán giả cả hai đêm văn nghệ do anh Kình tổ chức, ngoài anh em tù còn có vợ, còn thầy chú, lính lê dương giữ đảo và một số gạc-dang người Âu.

Qua các buổi văn nghệ thành công, phong trào bình dân học vụ cũng được tổ chức hầu khắp các Sở. Chúng tôi lại bàn việc vượt ngục. Tôi còn nhớ vào khoảng 6 – 1947, tôi, anh Kình, anh Lê Huy Báu và anh Nghĩa chuồng bò gặp nhau tại Nhà thờ Côn Đảo (2), quyết định làm thuyền vượt ngục. Anh Kình giao cho anh Nghĩa chịu trách nhiệm tổ chức làm thuyền, tôi và anh Phạm Gia (3) lo chạy lương thực và vải, sơn còn anh và anh Lê Huy Báu chịu trách nhiệm theo dõi tình hình chung và điều khiển các mặt.

Sau cuộc hội ý này, anh Nghĩa về Chuồng bò chọn ba người làm thuyền, người thứ nhất là anh Mười Bù, tù hình sự, có biệt danh ở đảo là “Vua vượt ngục”, anh đã nhiều lần bị đày ra đây và cũng nhiều lần vượt ngục, lần vượt ngục cuối cùng trước đây của anh xảy ra sau cách mạng tháng 8 – 1945, bè anh trôi dạt ra biển khơi hàng tháng, hai bạn đồng hành với anh bị chết đói, chết khát, trong cơn hấp hối anh được một chiến hạm Anh vớt đem về Singapor, sau đó trao trả cho thực dân Pháp ở Sài Gòn, anh lại bị đày ra Côn Đảo cùng chuyến với chúng tôi. Với cương vị “cọp rằng” Sở Củi, anh Nghĩa giao trách nhiệm canh gác để anh Bảy Nữa làm thuyền, anh Năm Rồng đốn củi thay cho anh Bảy Nữa. Anh Bảy Nữa là tù thường phạm, có tài làm thuyền cho hàng chục người đi mà không cần lấy một cây đinh, một cây búa. Để giải phóng cho anh Bảy Nữa làm thuyền, anh Năm Rồng phải đốn củi thay cho anh hàng ngày. Sở Củi Côn Đảo là nơi lao động khổ sai nặng nề nhất, mỗi ngày tù phải đi hàng 4.000m hoặc 5000m lên núi đốn củi vác về sân củi nộp 0,30m3 như vậy, anh Năm Rồng phải đốn mỗi ngày 1m3 củi để nộp. Đây là việc rất khó khăn, nặng nề mà anh Nghĩa giao cho anh.

Muốn làm một chiếc thuyền mây cho độ 10 người đi, thuyền phải có chiều dài độ 6m, rộng 1,4m sâu từ lòng thuyền lên miệng bè 0,8m. Khung thuyền bằng mây và song, chung quanh bọc vải phết sơn nước, như vậy chúng tôi phải có 50 cây mây và song, mỗi cây dài 6m, độ 50 bộ quần hoặc áo cụt của tù và 20 lon sơn loại 0,5l. Theo sự phân công, hàng ngày anh Bảy Nữa phải luồn vào chân núi Thánh Gia rậm rạp, gai góc để chặt mây, song kiên trì uốn cong mỗi ngày một ít. Tôi và anh Phạm Gia nhận nhiệm vụ sưu tầm quần áo tù, bằng xin, đổi mới. Buổi trưa chúng tôi ra biển cạy “vú nàng” bám trên đá, bán hoặc đổi quần áo cho vợ con thầy chú. Chúng tôi lại kết nạp thêm anh Võ Xuân Phong, lúc ấy làm thư ký cho hợp tác xã đảo, để anh tiếp tay tìm sơn nước.

Ba tháng tiến hàng làm thuyền, chuẩn bị lương thực, thuốc, vào cuối tháng 2 – 1947 công việc gần xong. Anh Hoàng Hữu Kình cho biết có thể đi vào cuối tháng 12 hoặc đầu tháng 1 – 1948. Chúng tôi khẩn trương hoàn tất những việc còn lại, chúng tôi hội ý thấy thuyền còn có thể chở thêm vài người nữa, nhưng chọn ai? Ai có điều kiện? Ai trung thành với cách mạng? Nhiều anh em tốt, có trình độ nhưng không có điều kiện ra khỏi khám lúc thuyền ra khơi, cuối cùng chúng tôi chọn anh Trần Thành, một thanh niên người Hoa để không may thuyền trôi dạt vào Malayxia hoặc Singapor có người đứng ra giao dịch. Vào tháng 12 bỗng có chuyến tàu đày tù từ đất liền ra đảo, anh Kình, anh Báu rất bận rộn trong việc sắp xếp tù về các sở, tàu lại phải neo ở đảo mất 7 ngày, việc xuống biển chưa có cơ hội bàn tiếp.

Sang tháng 1 – 1948, thuyền đã làm xong, các việc khác đã hoàn tất, chúng tôi bàn có thể vượt biển vào đêm 12-1, nhưng ngày 2-1 có chuyến vượt ngục của các anh ở Sở Rẫy An Hải bị lộ, một số anh bị bắt, số khác chạy vào rừng núi, giặc Pháp truy lùng ráo riết. Rừng núi Côn Đảo trong những ngày này luôn có tiếng súng.

Chỗ giấu thuyền của chúng tôi có nguy cơ bị phát hiện. Tôi rất lo, nhưng giữa trưa ngày 14-1 anh Phạm Gia đến thông báo với tôi rằng anh Kình quyết định vượt biển ngay 19 tối nay, điểm tập kết là bãi tàu, sát cạnh Nhà thờ. Anh Gia giải thích: nhân địch tập trung lực lượng truy lùng tù phía Tây đảo, ta xuống thuyền phía Đông, trước mặt thị trấn là nơi địch không bao giờ nghĩ tới.

Đúng giờ, tôi và anh Trần Thành khẩn trương tới nơi tập kết, anh em đã đến đầy đủ, duy thiếu anh Nghĩa, anh Nghĩa xung phong ở lại để tiếp tay cho những anh vượt chuyến sau. Chúng tôi nhanh chóng khiên vác thuyền, buồm, chèo xuống biển. Theo lệnh anh Mười Bù, từ đồi sim xuống mé biển chúng tôi phải đi giật lùi, để dấu chân trên cát chỉ thấy từ dưới biển đi lên. Tôi còn nhớ ngày chúng tôi vượt đảo nhằm ngày mồng bốn tháng Chạp âm lịch, trăng lưỡi liềm lấp ló bên kia núi Chúa, nước thủy triều lên hết độ cao dừng lại, gió mạnh, sóng cao, anh Mười Bù to khỏe giữ thuyền cho chúng tôi lên, anh sau cùng, cầm lái, chúng tôi mỗi người cầm một cây dầm bơi, thuyền chạy dọc theo bờ, gió mùa Tây Nam hút qua núi Tà Ni vùa sóng ào ào vào bờ, thuyền rẽ dọc sóng lắc lư vòng qua mũi Đá Trắng, mũi Cá Mập, sóng dồn dập như muốn nhận chìm chúng tôi xuống biển. Tôi cảm thấy như mình đang ngồi trên lưng cọp, khi chồm lên phía trước, khi bật ngược ra sau, đôi tay tôi đã phồng nhiều chỗ. Thuyền chúng tôi qua khỏi hòn Trác, hướng về hòn Vung, anh Năm Rồng trương buồm lên, chiếc buồm làm bằng bao tải, ướt sũng, nặng nề nhưng có sức đẩy, thuyền lướt nhanh về hướng Tây.

Mọi người đều dần dần ngầy ngật, ói mửa nằm vật xuống thuyền. Tôi tựa lưng vào anh Kình nhìn bầu trời đầy sao, ngậm ngùi nhớ bạn bè, đồng chí, từng sống chết có nhau trong những ngày Đảng còn hoạt động bí mật, nhớ anh Hoàng Dư Khương người dẫn dắt tôi vào Đảng, nhớ anh Tô Hà miệng méo, anh Văn Hà mang kính không tròng… nhớ những đồng chí cùng mình chung chịu đòn thù thừa sống thiếu chết trong vụ Affaire de complot, nhớ cụ Tú Oanh, nhớ anh Nguyễn Ngọc Lân, nhớ các đồng chí đảo Cô Tô!… Tôi thiếp dần trong giấc ngủ, lúc tỉnh lúc mê. Khi tôi thức dậy thì mặt trời đã lên cao, ánh sáng phả vào tôi hơi ấm dịu dàng… Bỗng anh Báu la lớn: thuyền thủng… thuyền thủng…!… Tôi giật mình nhìn theo tay chỉ của anh, một lỗ thủng bằng ngón tay bên mạn trái thuyền, nước vọt vào thành tia khá mạnh, mọi người lấy áo nhúng nước vắt ra ngoài, tôi chụp vội lon sữa trống tát vội vàng xuống biển, anh Mười Bù nhảy xuống lần theo be thuyền lấy khăn vo tròn nhét vào chỗ thủng… bỗng từ xa nhiều đàn cá nhảy vọt lên khỏi mặt nước, anh Bảy Nữa la lớn: cá mập… cá mập… mọi người nhanh tay kéo anh Mười lên… Thuyền chúng tôi tiếp tục nhếch mũi về hướng Tây.

Vào đêm thứ hai, mọi người trên thuyền đang trò chuyện về một ngày mai tươi sáng, bỗng vùng trời phía Đông mây mù che kín, những chòm mây đen sà xuống biển, gió mạnh rít qua, thuyền rùng mình chao đảo. Anh Mười bình tĩnh hạ buồm, trấn an anh em, cái khó là kìm thuyền không cho lật, cũng không để gió khiển thuyền đi. Kinh nghiệm cho anh biết rằng có những chuyến vượt ngục gần đến bờ bỗng phong ba đẩy thuyền trả về đảo. Sau độ ba tiếng đồng hồ vật lộn với sóng gió, biển trở lại bình thường, luồng mây đen dồn về hướng Tây… Chòm sao Bắc Đẩu xuất hiện.

Tôi vừa lạnh, vừa mệt, ngủ thiếp lúc nào, bỗng anh Võ Xuân Phong hét lớn: chân trời phía Tây có những chấm đen… tàu địch… Tôi choàng tỉnh dậy, hừng đông đã ló dạng. Những chấm đen đã nối liền. Anh Mười nói: đã đến vùng nước đục. Tới bờ rồi anh em ơi! Chúng tôi vừa mừng vừa lo. Đây là đâu? Vùng ta hay vùng địch?…

Thuyền chúng tôi tấp vào bờ biển Tân Ân, huyện Cà Mau, tỉnh Bạc Liêu vào sáng ngày 16-1-1948, chiều hôm đó dân quân Tân Ân đưa chúng tôi về công an huyện Cà Mau, sau đó hai ngày đồng chí La Văn Nghĩa, tức Tào Ty lúc đó là Tỉnh đội trưởng Bạc Liêu, đón chúng tôi về tỉnh đội, bảy ngày sau đồng chí Nguyễn Thanh Sơn đón chúng tôi về Ban quân sự Nam bộ. Theo ý kiến anh Hoàng Hữu Kình, chúng tôi đặt tên cho nhóm vượt ngục của chúng tôi là “Nhóm 14-1-48” để liên lạc với nhau và cũng để kỷ niệm ngày vượt ngục của chúng tôi.

TRÚC QUỲNH
(Trích Côn Đảo – Ký sự và Tư liệu Nxb Trẻ – 1998)

(1) Anh Hoàng Hữu Kình, tử tù giảm án, người làng Bích Khê, tỉnh Quảng Trị, trước cách mạng tháng 8 – 1945 anh là công chức ngành hỏa xa. Vượt ngục anh về công tác tại chiến trường CPC, anh làm Đại sứ ở Ấn Độ từ năm 1976 – 1981. Anh đã qua đời tại TP. Hồ Chí Minh vì bệnh tim.
(2) Hàng tháng chúng tôi muốn gặp nhau phải tự khai mình có đạo, để đến Nhà thờ.
(3) Anh Phạm Gia là em ruột giáo sư Phạm Thiều, sau vượt ngục anh tình nguyện lên chiến đấu tại chiến trường CPC, hòa bình lập lại anh công tác tại trường Đảng Nguyễn Ái Quốc 7, anh qua đời vì bệnh ung thư năm 1990.

Bài 9 

CHA TÔI

LIỆT SĨ HOÀNG HỮU NAM

Đọc trang web Hoàng Tộc Bích Khê, tôi cảm thấy có một sự thiếu sót nào đó. Cha tôi Hoàng Hữu Nam, đời 14 Hoàng Tộc Bích Khê. Con thứ 19 của cụ Thái Thường Tự Khanh Hoàng Hữu Bĩnh (đời 13) và Bà Trần Thị Phiến. Hy sinh khoảng ngày rằm tháng bảy âm lịch. Năm ấy là 1947. Nói là hy sinh, bởi cha tôi theo Việt Minh bị giặc thủ tiêu. Hơn 50 năm sau, một nhà ngoại cảm chỉ cho em tôi lấy cốt. Chỉ thử ADN là biết chắc chắn. Nhưng chúng tôi không dám. Vì nếu như không phải thì tính làm sao đây. Điều này, cho đến nay 2014, đã hơn 20 năm bốc mộ về nghĩa trang của gia đình, chúng tôi vẫn một lòng.tin rằng đó là cha chúng tôi.

Tôi sinh tháng 8/1945 nên biết rất ít về người cha mất sau đó gần hai năm. Chỉ nghe nói lại, ông là một người đào hoa và nhiều tật xấu. Nhưng ông lấy một người vợ tuyệt vời là bà Võ Thị Yêm, con của Ông Võ Đình Cân và Bà Nguyễn Thị Trữ. Bà Nguyễn Thị Trữ đã trở thành Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng với một gia đình có 5 liệt sĩ. Đó là lý do cha tôi chọn nghề dạy học Bình dân học vụ cho Việt Minh theo lệnh của mẹ vợ.

Khi tập kết ra Bắc, ông Đặng Thí quả quyết ông Hoàng Hữu Nam là liệt sĩ. Trong hồ sơ của anh Hoàng Hữu Quýnh, có lời quả quyết này. Hoàng Hữu Quýnh là con trưởng của Hoàng Hữu Nam. Tức là anh cả trong gia đình. Tập kết 1954 theo các cậu.Lý lịch sạch nên được học kỹ sư cơ khí rồi đi Liên Xô 4 năm lấy cao học rồi Tiến Sĩ. Con cái của Hoàng Hữu Quýnh, Hoàng Kiều, Hoàng Hữu Ly, Hoàng Thị Bích Oanh đều đã thành đạt. Hoàng Kim, Hoàng Minh, Hoàng Trọng, Hoàng Hùng, Hoàng Bình, Hoàng Mai Hãn và các cháu gái, Trần Hoàng Kim, Linh, Phương đều xong đại học.

Nói về mẹ tôi, có lẽ trong 4 anh em (Hoàng Hữu Quýnh, Hoàng Kiều, Hoàng Hữu Ly, Hoàng Thị Bích Oanh), tôi là người gần gủi với mẹ nhất. Cha tôi mất sớm. Bà xinh đẹp như một đóa hoa. Là nữ binh vận nhưng có nhiệm vụ tiếp tế cho chiến khu Ba Lòng. Nơi ấy, có các cậu tôi ngày đêm kháng chiến. Mẹ tôi còn là đầu tàu nuôi dấu cán bộ cách mạng tại Hải Lăng. Ngày làm lễ bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng cho ngoại tôi, Ông Lê Văn Hoan (Nguyên Chủ Tịch Mặt Trận Quảng Trị) đã tâm sự với tôi và nhận mình là cán bộ được bà che dấu. Cũng chính vì bà ngoại và con gái nỗi tiếng che dấu Việt Cộng, mà mẹ tôi phải hy sinh tại nhà thương của Mỹ ngụy ở Cổ Lũy – Hải Lăng. Lúc ấy, anh Quýnh ở phía Bắc không về được. anh Kiều thì theo Hoàng Thi Thơ về trể. Tại sao cha hy sinh rồi mẹ cũng hy sinh? Nhưng không ai được nhà nước công nhận? Dễ hiểu. :vì chúng tôi không xin. Nên trang Web Hoàng Tộc Bích Khê ít ra cho đăng lên như là chia sẽ muộn màng.

Tôi là một nhà báo xã hội chủ nghĩa, có thẻ nhà báo. Mặc dù qua Mỹ, nhưng suốt đời làm báo của tôi đều hướng về đầt nước. Với cha tôi, Hoàng Hữu Nam, thông qua lý lịch của anh Hoàng Hữu Quýnh, tôi quả quyết cha tôi đã hy sinh chống Pháp. Với mẹ, bà Võ Thị Yêm, tôi quả quyết rằng bà là người mẹ tuyệt vời hy sinh chống Mỹ. Bạn tôi, Lê Cung Bắc, Hoàng Mỹ, Đoàn Ngung… đã đến thăm khi mẹ qua đời.

Hai cuộc đời cả cha lẫn mẹ là chiến sĩ cách mạng chưa được nhìn nhận. Nhưng hơn ai hết con cháu Hoàng tộc Bích Khê cần biết điều này.

Ly

                                 Nhà báo MAI LỸNH

Nhà báo Mai Lỹnh tên là Hoàng Hữu Ly.( Đời thứ 15). sinh năm 1945. Con của Ông Hoàng Hữu Nam hy sinh 1947 và bà Võ Thị Yêm hy sinh 1964. Có 4 anh em gồm Hoàng Hữu Quýnh, Hoàng Kiều, Hoàng Hữu Ly và Hoàng Thị Bích Oanh. Được Bộ Văn hóa Thông Tin cấp thẻ nhà báo khi làm Trưởng Ban Kinh Tế Công Thương Báo Tin Sáng (1975-1980).

Mai Lỹnh là học sinh trường Nguyễn Hoàng – Quảng Trị. Tốt nghiệp khoa Xã Hội Học Đại Học Vạn Hạnh và Giáo Sư & Kiểm Huấn Sư Trường Công Tác Xã Hội. Trường này thuộc Liên Hiệp Quốc (1970 – 1973). Mai Lỹnh được Cơ quan Xã Hội Tin Lành Á Châu tài trợ Ủy Ban Cứu Trợ Nạn Nhân Chiến Cuộc do Mai Lỹnh làm chủ tịch, Mai Lỹnh ưu tiên nuôi tù Côn Đảo. Nhiều người trong số họ là sinh viên Sài Gòn. Có Bùi Nghị nguyên giám đốc khu du lịch Kỳ Hòa là người Quảng Trị – bạn học của Mai Lỹnh.

Trước đó, Mai Lỹnh bị bắt đi lính. Khi tham gia chiến trường Khe Sanh, đánh Nhà Thương của Bác Sĩ Hoàng Hữu Hải (đời 15). Không chịu chiếm mà ngược lại. Mai Lỹnh bị thương chính lựu đạn của Mỹ. Đó mới là điều kỳ diệu. Hiện nay trong cơ thể vẫn còn mãnh đạn thù ấy. Mai Lỹnh được đưa ra hạm đội 7, về nhà thương Quảng Trị, Huế, Đà Nẳng và sau đó Hoàng Kiều, anh ruột của Mai Lỹnh và một Mạnh thường quân người Mỹ tìm cách chạy cho giải ngũ năm 1969. Từ đó được phân công làm việc với anh Trần Ngọc Báu tại một cơ quan phi lợi nhuận cho đến khi chuyển qua Bộ xã hội Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam rồi báo Tin Sáng.

Khi Bắc Nam liền một giải, niềm mơ ước của nhiều người, thì dưới bút danh là Mai Hãn (tên của Thạc Sĩ Kiến Trúc Sư Hoàng Mai Hãn), Mai Lỹnh được vinh dự là nhà báo miền Nam duy nhất đi trên chuyến tàu thông tuyến Sài Gòn – Huế – Hà Nội. Đón tại ga Hàng Cỏ có chủ tịch bác sĩ Trần Duy Hưng. Mai Lỹnh trở thành thân thiết với Bác sĩ Hưng khi bàn về Hợp Tác Xã và Khoán (Chứng Khoán) tức là tìm vốn cho người nghèo. Mai Lỹnh đã viết loạt bài về thống nhất đất nước và hợp tác rất được ưa chuộng.

Năm 1980 qua Mỹ.Tại Mỹ, Mai Lỹnh bị nhóm nhà văn Nhật Tiến coi là Cộng Sản. Nhưng không sao. Mai Lỹnh nhờ Khánh Ly – Nam Lộc giới thiệu vào Cơ quan thiện nguyện Công Giáo Hoa Kỳ (USCC) làm nhân viên kiếm việc làm cho người di dân. Nhưng sau đó, Mai Lỹnh chủ biên tờ báo Điện Ảnh. Là tờ báo duy nhất đăng sự thật về cuộc đời của Hoàng Thi Thơ (đời 14).

Tập Kỹ Yếu Thế Vận Hội do Mai Lỹnh chủ biên và xuất bản năm 1984 là một cuốn sách rất có giá trị tư liệu với sự tham gia của Hoàng Thi Thơ.Trong tập Kỹ yếu Thế Vận Hội này có đăng bài thơ của Bích Lâm Hoàng Hữu Gia (đời 14).

Các chương trình phim ảnh của Mai Lỹnh là rất nhiều. Nhưng Mai Lỹnh và Hoàng Thi Thơ tâm đắc nhất là loạt phim Tiếng Nước Tôi chủ yếu dùng nhạc dạy tiếng Việt. Mai Lỹnh cùng cọng sự là Henry Giang có sáng kiến phát minh ra Karaoke Việt Nam. Phần mềm này chuyển giao về Công ty Phương Nam và đài truyền hình Cần Thơ khi Mai Lỹnh đầu tư về nước. Ngoài ra, Mai Lỹnh là người đầu tiên có sáng kiến chuyển âm từ phim nước ngoài ra tiếng Việt. Các nghệ sĩ như Hùng Cường, La Thoại Tân, Túy Hồng. Hà Mỹ Hạnh, Việt Thảo… đã từng tham gia.

Năm 1991, ngay ngày tường Bá Linh sụp, năm người họ Hoàng từ nhiều nơi đã quy tụ về Đức bàn chuyện đầu tư vào Việt Nam. Đó là các Ông Hoàng Thi Thơ, Hoàng Hữu Hạch (đời 14) Hoàng Hữu Quýnh, Hoàng Kiều và Hoàng Hữu Ly tức Mai Lỹnh (đời 15). Cũng năm ấy gia đình họ Hoàng Bích Khê chính thức gửi Mai Lỹnh về nước với nhiều hàng hóa.

Tại Việt Nam ngoài việc bán hàng thất bại, Mai Lỹnh đã đưa Karaoke Việt Nam vào Phương Nam nay là Công Ty Cổ Phần Phương Nam (PNC). Đã gây tiếng vang khi làm phim “Cả Nhà Thương Nhau” cho Bến Thành Audio/video. Mai Lỹnh đã làm nhiều việc khác có lợi cho đất nước. Đã là người tiên phong xin hát lại nhạc trước 1975. Nhưng do đáng tiếc nhạc Phạm Đình Chương bị cấm bài Ly Rượu Mừng (nhạc tiền chiến). Nhạc Hoàng Thi Thơ và Phạm Duy bị cấm tất cả mãi cho đến sau này.

Có lẻ phải nói Saigon ETMC (Electronic Telecom Manufacturing Corporaton) là đơn vị đầu tiên ra chứng khoán Mỹ ở Việt Nam. Điều bất hạnh là chứng khoán Mỹ đã hai lần đưa Mai Lỹnh vào vòng lao lý.Đến nay mấy ai biết những uẩn khúc trong việc này.

Về gia đình, Mai Lỹnh lấy lấy vợ năm 1974 là Nguyễn Thị Bạch Tuyết, Luật sư tập sự và sinh con đầu lòng là Hoàng Nguyễn Thục Đoan (Donna Hoàng) và con trai Hoàng Mai Hãn. Năm 1977 Bạch Tuyết mất. Mai Lỹnh phải đưa 2 con qua Mỹ khi chúng còn nhỏ. Năm 2007, có thêm đứa con trai nữa với Lâm Thu Hương, thạc sĩ sinh học. Tên là Hoàng Lê Lâm Hồng Hải sinh năm 2007 nhưng vì thương quá tên Hoa Kỳ là Lâm Hồng Hải Hoàng Lê.

Hoạt động mà Mai Lỹnh cho là ý nghĩa lúc này là cùng Trần Chiếm Dinh (Cháu của bà Trần Thị Phiến, dâu họ Hoàng đời 13) phục hồi sự nghiệp âm nhạc của Hoàng Thi Thơ nên mới đầu tư Hòn Ngọc Viễn Đông.

 

                                                                                                                   Mai Lỹnh ( lyhoang@vietRAP.us