Văn Hóa Văn Nghệ

 

Bài 1

Di Ngon

                                    Linh vị và di huấn của ngài Hoàng Hữu Lợi:

                                           ” Huynh đệ thức tương hảo hỉ- Tử tôn vật  thế dẩn chi”

DI HUẤN CỦA NGÀI

 HOÀNG HỮU LỢI – (Đ 12)

           Trung nghị đại phu Đô sát viện-Phó Đô Ngự sử

              Trong dịp lễ giỗ hôm nay,tôi xin trình bày với bà con một sô tư tưởng nền tảng của dng họ Hoàng chúng ta.Chính ngài Hoàng Hữu Lợi Đời 12 mà chúng ta tổ chức lễ giỗ hôm nay là người đã xây đắp những viên đá đầu tiên.Ngược dòng lịch sử,qua gia phổ,chúng ta thấy tiền nhân chúng ta từ đời 1 đến đời 10,nhân số thưa thớt,học hành cũng thường nhưng từ đời 12 trở đi con cháu bắt đầu vươn lên.

Có gia thoại kể rằng một ông thầy địa lý đi qua làng Bích Khê bảo đất này không có văn mạch.Ngài Hoàng Hữu Lợi bèn động viên con cháu cố sức học với mục tiêu phấn đấu:

                                               Hoàng gia vô đinh bạch.Khê thủy hữu giáp hoàng

  • Ý là con cháu họ Hoàng phải phấn đấu để không có ai thuộc diện “bạch đinh”,ra làng phải bưng mâm,rót nước phục vụ người ta.Lại phải làm cho Bích Khê có người đỗ đạt khoa giáp.Đến đời con cháu ngài như các vị đời 13-14…và cả về sau nữa,quả nhiên đều được như ước nguyện ấy.
  • Ngài lại giáo dục đạo làm người,lấy chữ Trung,chữ Hiếu làm đầu:

                                     Văn chương diệt thị tầm thường sự.Trung Hiếu tu vi nhất đẳng nhân.

  • Anh em,con cháu phải cư xử với nhau theo đạo nghĩa:

                                          Huynh đệ thức tương hảo hỷ.Tử tôn vật thế dẩn chi.

Nghĩa là anh em phải hòa thuận.Đối với con cháu phải hướng dẩn,đừng để chúng lầm đường lạc lối.

  • Sau cùng là khuyên mọi người giữ được lối sống thanh bạch,không bon chen danh lợi để giữ gìn phẩm chất trong sạch của mình:

                                                  Tri túc tâm thường lạc.Vô cầu phẩm tự cao.

Tùy thời buổi mà hiểu  nghĩa lý của những câu nói trên nhưng mỗi câu đều là một bài học rất quan trọng.Vậy con cháu chúng ta hãy ghi nhớ lời tổ huấn.

                                                                                                                 HOÀNG HỮU LẠC – (Đ 14)

( Trích bài nói chuyện của ông Hoàng Hữu Lạc trong ngày giỗ lần thứ 116 –  26.3 Nhâm Thân tức 28.4.1992-tại Huế )

 

________________

 

          Bài 2

         NẾP NHÀ KHOA BẢNG

                                                                                                              HỮU HOÀNG

     Họ Hoàng chúng ta có truyền thống coi trọng việc học. Nhiều gia đình có hoàn cảnh khó khăn nhưng cũng cố gắng lo cho con cháu học hành tới nơi tới chốn. Người nghèo mà có học vấn thì càng được bà con quí trọng. Ấy là nếp nhà, xưa  nay đều như vậy.

Người khai khoa cho họ Hoàng là ngài Hoàng Hữu Xứng (Đ.13), đỗ Cử nhân khoa Nhâm Tý (1852), dưới triều vua Tự Đức, hàm phong Hiệp Biện Đại Học Sĩ. Em trai ngài Hữu Xứng là Hữu Bỉnh, đỗ Cử nhân năm Tân Mão (1891), hàm phong Thái Thường Tự Khanh. Con trai trưởng của ngài Hữu Xứng là Hữu Bính, đỗ Hoàng Giáp khoa thi Tiến sĩ năm Kỷ Sửu (1889). Ba người em trai của ngài Hữu Bính là Hữu Quản, Hữu Quỵ, Hữu Kiệt và con con trưởng là Hữu Thảng đều đỗ cử nhân. Đương thời, hiếm thấy gia đình nào khoa danh rực rỡ như vậy. Có thể nói là một nhà, long phụng tề phi. Hiện tượng nầy không chỉ xảy ra một lần. Bước qua thời kỳ Tây học, Hoàng Hữu Chỉ đỗ đầu kỳ thi tiểu học toàn tỉnh Quảng Trị. Cùng khoa thi Tiểu học năm ấy, Hoàng Phủ Ngọc Tường đỗ đầu toàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Mấy năm sau, Hoàng Phủ Ngọc Tường lại đỗ thủ khoa kỳ thi Trung Học Phổ Thông với điểm số cao nhất toàn miền Trung.

Trong vòng vài thập niên gần đây họ Hoàng lại có thêm một thành tích học tập rất đáng tự hào: gia đình ông Hoàng Thạch Thiết  (Đ.17) có 4 người con thì 2 con trai là Hoàng Thạch Quân  và Hoàng Thạch Luân đều đỗ Tiến sĩ (Ph.D) .Còn hai cô con gái là Hoàng Thị An Vi  và Hoàng thị Tề My thì lấy đến 5 bằng Thạc sĩ (Master) ở Hoa Kỳ.

Nhìn chung  trong các gia đình họ Hoàng hiện nay, những bằng cấp thạc sĩ, bác sĩ, kỹ sư, cử nhân, cao đẳng… không phải là hiếm. Riêng học vị Tiến sĩ đã có 5 người xứng đáng vinh danh. Đó là: Hoàng Hữu Hiên (Đ.15); Hoàng Minh Chương (Đ.15); Hoàng Hữu Đường(Đ.16); Hoàng Thạch Quân (Đ.18); Hoàng Thạch Luân (Đ.18).Và tất nhiên vẫn còn có thể chờ đợi ở các thế hệ nối tiếp.

VINH DANH HỌC VỊ TIẾN SĨ

Nep Nha Khoa Bang

Bia Tiến sĩ của Hoàng giáp Hoàng Hữu Bính ở Văn Thánh -Huế.

A  FAMILY TRADITION OF ACADEMIC  ACHIEVEMENT *

     We the Hoang Family have a tradition of respect for study. Many members in the family have in spite of difficulties tried to provide their offspring with a good education. The poorer they are, in fact, the higher the esteem accorded to them by relatives if they attain a high level of education. This invariably has been our family tradition.

The person who had started the tradition was Hoang Huu Xung (Generation 13) who got his Bachelor’s degree in the year of the Rat (1852), under the reign of King Tu Duc and subsequently was appointed as High-ranking Court Academician (Hiep Bien Dai Hoc Si). His younger brother, Huu Binh ,got a Bachelor’s degree in the year of the Cat (1891). and his eldest child , Huu Binh , obtained his Ph.D in the year of the Buffalo (1889). Huu Binh‘s brothers – Huu Quan, Huu Quy and Huu Kiet – each had a Bachelor’s degree. Few at the time were families with such outstanding academic achievements. This kind of scholastic excellence had not been achieved just once.For during the initial period of Western educational  introduction Hoang Huu Chi came first in the Elementary examination in Quang Tri Province. In the same year Hoang Phu Ngoc Tuong ranked first in the Elementary Examination in Thua Thien Province. A few years later, Tuong again got first place in the Junior High School Exam in the same province with the highest score  in the whole of Central Viet Nam.

Recently the Hoang family has proudly boasted yet another academic success notched up by Hoang Thach Thiet’s family of four with two boys- (Hoang Thach Quan and Hoang Thach Luan) having two Ph.Ds to their credit and two girls- (Hoang Thi An Vi and Hoang Thi Te My )dividing 5 Master’s degrees between them – all from US  universities.

Overall, there are quite a few holders of university degrees, MDs, engineers, etc.in the family. Five Ph.Ds include Hoang Huu Hien (Generation 15), Hoang Minh Chuong (gen.15), Hoang Huu Duong (gen.16), Hoang Thach Quan (gen.18) and Hoang Thach Luan (gen.18).

                                                                                                                                HOANG THACH THIET

*  This translation is for Bichkhe-Hoang expatriates who cannot read Vietnamese, in the hope of providing them with a reason to be proud of their origins.

9 (1)

Một số sắc phong của triều Nguyễn dành cho tiền nhân họ Hoàng

10 (1)

SẮC CHỈ CỦA TRIỀU NGUYỄN

8

Bài 3

HOÀNG HỮU XỨNG
TÁC GIA SỬ HỌC – ĐỊA LÝ VIỆT NAM THẾ KỶ XIX

                                                                                                                                             PHAN THUẬN ANPtaNhà nghiên cứu PHAN THUẬN AN

     Hoàng Hữu Xứng là một người đã làm quan và làm sách vào hậu bán thế kỷ XIX dưới triều Nguyễn. Ông sinh trưởng tại tỉnh Quảng Trị. Mấy mươi năm trên hoan lộ, ông đã trải qua nhiều nơi và nhậm chức một thời gian khá dài tại Kinh đô Huế. Cuối cùng ông trở về nghỉ hưu và mất tại quê nhà.                                   

Trong thời gian tại chức, Hoàng Hữu Xứng đã lãnh trách nhiệm biên soạn một số sách mà quan trọng nhất là bộ “Đại Nam quốc Cương giới Vựng biên”. Nay xin dựa vào chính sử của triều Nguyễn, gia phả của họ Hoàng và một số tư liệu khác có được trong tay để tìm hiểu bước đầu về sự nghiệp văn hóa của ông. Bài viết lần lượt đề cập đến hai phần chính:

– Tiểu sử, thân thế, sự nghiệp sự nghiệp của Hoàng Hữu Xứng.
– Tìm hiểu về bộ sách “Đại Nam quốc Cương giới Vựng biên” của ông.

TIỂU SỬ, THÂN THẾ, SỰ NGHIÊP CỦA HOÀNG HỮU XỨNG
Hoàng Hữu Xứng sinh ngày 13 tháng 11 năm Tân Mão, tức là ngày 16 tháng 12 năm 1831, mất ngày mồng 3 tháng 12 năm Ất Tỵ, tức là ngày 28 tháng 12 năm 1905. Thọ 75 tuổi, ông đã sống qua 9 thời kỳ vua Nguyễn từ Minh Mạng đến Thành Thái, và ông đã làm quan liên tục trong 30 năm (1860 – 1900) dưới 7 thời vua kể từ thời Tự Đức. Ông đã từng chứng kiến không biết bao nhiêu sự kiện lịch sử của Việt Nam dưới triều Nguyễn từ hồi còn độc lập đến khi mất nước vào tay thực dân Pháp.

Hoàng Hữu Xứng có tên tự là Bình Như (1) hiệu là Song Bích. Nguyên quán làng Bích Khê, huyện Đăng Xương (2) (nay thuộc xã Triệu Long, huyện Triệu Phong), tỉnh Quảng Trị.

Sinh trưởng trong một gia đình có văn hóa và văn học. Hoàng Hữu Xứng là con trai đầu của ông Hoàng Hữu Lợi (1809 – 1876) và bà Lê Thị Hơn (1810 – 1886). Ông Lợi vốn là người giỏi về nho học nhưng thi không đậu vì phạm trường quy, sau về sống gần gũi với thiên nhiên, thích ngâm vịnh, sở trường về quốc âm. Bà Hơn là một phụ nữ thuần thục, có học thức, khéo cung phụng chồng và nuôi dạy con cái. Nhờ sống trong một môi trường có gia giáo và văn hóa như vậy, cho nên Hoàng Hữu Xứng rất dễ thành đạt.

Ông thi đậu cử nhân trong kỳ thi Hương năm Nhâm Tý thời Tự Đức (1852). Dù ông đậu thứ 9 nhưng vua Tự Đức nhận xét: “Ông Hữu Xứng là con tuấn mã trong hàng cử nhân” tuy nhiên, vì nhà nghèo nên ông không thể học tiếp để đi thi Hội.

Vào năm 1860, giữa lúc chưa tròn 30 tuổi, ông được bổ làm Huấn đạo huyện Tuy Viễn (thuộc tỉnh Bình Định). Sau 4 tháng, vì có công nên ông được thăng làm “quyền huyện Tuy Viễn” (1861). Vì có công điều tra ra năm sáu vụ án cướp và án mạng, cùng bắt được nhiều tên can phạm. Do đó, vào năm 1862, ông được cất lên làm Tri huyện Hà Đông ở tỉnh Quảng Nam (3).

Sau một thời gian, ông về Kinh đô Huế giữ chức Biện lý ở Bộ Binh. Năm 1869, ông và các đồng liêu trong Bộ làm việc tích cực, cho nên được vua Tự Đức khen thưởng rất hậu (4).

Vào năm 1873, khi đang làm Bố chính tỉnh Thanh Hóa, ông và các quan trong tỉnh không đánh dẹp được vụ “đốt nhà cướp của” do một đám giặc từ bên Tàu tràn qua, cho nên ông bị giáng 2 cấp, nhưng được tiếp tục làm việc tại chỗ (5).

Trong thời gian giữ chức Bố chính ở Thanh Hóa suốt hơn một thập kỷ, ông nổi tiếng là thanh liêm. Sách Đại Nam Thực Lục ghi rằng vào khoảng 1876 khi đi qua Thanh Hóa và Nam Định để nhậm chức Tổng đốc ở tỉnh Hải An, Phạm Phú Thứ nghe người địa phương nói rằng Phạm Đức Trạch đến giữ chức Bố chính ở Nam Định chỉ “mới một năm mà túi làm quan hơn số thu vào của Bố chính Hoàng Hữu Xứng 10 năm” (6).

Nhờ có đức tính thanh liêm như vậy, cho nên, qua năm sau (1877), Hoàng Hữu Xứng được triệu về kinh đô Huế giữ chức Tà Thị Lang Bộ Lại, Kiêm coi viện Đô Sát (7).

Vào năm 1879, xảy ra một vụ tham nhũng của Hồng lô Tự khanh sung Quản lý Thượng cục tỉnh Bình Thuận Nguyễn Chí Tâm. Các quan ở tỉnh tâu trình lên cho triều đình biết. Vua Tự Đức sai quan Khoa đạo Tạ Ngọc Đường đi điều tra nội vụ. Từ Huế vào đến Bình Thuận, Tạ Ngọc Đường nhận tiền hối lộ của Nguyễn Chí Tâm, nên bênh vực bị cáo, và “hặc tâu” ngay cả người đi điều tra vốn là một kẻ nghiện thuốc phiện nữa. Triều đình bèn cử Hoàng Hữu Xứng đi Bình Thuận tra xét vụ án. Ông đã điều tra mọi sự thật một cách minh bạch và kịp thời. Ngay sau đó, Nguyễn Chí Tâm và Tạ Ngọc Đường đều bị trị tội. Còn Hoàng Hữu Xứng thì “được thưởng gia 1 cấp, kỷ lục 6 thứ” (8).

Năm sau (1880), ông được thăng chức, bổ làm Thự Tuần Phủ tỉnh Hà Nội (9).

Vào đầu năm 1882, thấy Pháp chuẩn bị đánh thành Hà Nội lần thứ hai, ông đã cùng với một số quan chức đang trị nhậm tại Hà Nội và Sơn Tây mật tâu lên vua Tự Đức một “kế sách dự phòng” để giữ vững lãnh thổ Bắc Kỳ. Nhà vua nghe theo và cho thi hành kế sách phòng thủ đó (10).

Tuy nhiên, vì hai bên không cân sức nhau về mặt chiến thuật chiến lược cũng như vũ khí đạn dược, cho nên thành Hà Nội thất thủ vào tay thực dân Pháp. Quan thủ thành Hoàng Diệu thắt cổ tự tử để giữ tròn danh tiết. Các quan khác điều bỏ thành mà chạy. Riêng “Quan tuần Hoàng Hữu Xứng bị giặc bắt, chửi giặc thậm tệ, rồi nhịn ăn” (11). Ông tuyệt thực mấy ngày thành bệnh, rồi sau đó sức khỏe trở lại bình thường.

Nghe tin Hà Nội thất thủ, vua Tự Đức sai bắt trói tất cả quan tỉnh tại đây, đưa “về kinh đô đợi án”. Trong một bài dụ bây giờ nhà vua ca ngợi Hoàng Diệu và lên án tất cả quan tỉnh Hà Nội, như Bố chính Phan Văn Tuyền, Án sát Tôn Thất Bá, Đề đốc Lê Văn Trinh, các chánh phó lãnh binh Hồ Như Phong, Nguyễn Đình Dương, Lê Trực. Các quan viên ấy điều bị cách chức Hoàng Hữu Xứng cũng thế, nhưng ông được triều đình “phái đi hiệu lực”, nghĩa là bổ đi làm việc để đoái công chuộc tội. Qua thời kiến phúc (1884), trừ Phan Văn Tuyền là “bị cách chức về quê chịu sai dịch”, những người còn lưu lại đều được cho khai phục phẩm trật và chức tước (13).

Khi phái đi hiệu lực, Hoàng Hữu Xứng được bổ chức Chánh Sơn phòng Cam Lộ (tỉnh Quảng Trị).

Qua năm 1884, ông được khai phục hàm Lâm Viện năm sau, thành Hán Lâm Viện Tu Soạn (14), rồi Quang lộc Tự Khanh. Cuối năm ấy (1885), sau khi vua Đồng Khánh lên ngôi, ông là một trong những triều thần được sung làm “nhật giảng quan” để giảng sách cho nhà vua.

Vào tháng 7 năm 1886, nhà vua “chuẩn cho Quang Lộc Tự Khanh lãnh Thị lang Bộ lại là Hoàng Hữu Xứng kiêm quản Viện Đô Sát”. Nhưng sau đó một tháng thì thân mẫu ông tạ thế, ông phải nghỉ 2 tháng để cử tang, cho nên, việc kiêm quản Viện Đô Sát được giao cho Tà Tham tri Bộ Hồ Trần Lưu Huệ.

Sau khi nghỉ tang xong, vào tháng 10-1886, Hoàng Hữu Xứng được triều đình giao phó đứng ra điều khiển làm bộ sách “Đại Nam quốc Cương giới Vựng biên”, vì thấy ông là “người trầm tĩnh, học vấn cũng rộng, văn phòng làm việc của ông đặt tại Nội các trong Từ Cấm Thành. Nhưng sau đó một tháng thì nhà vua cho phép ông chuyển nơi làm việc đến tại Sở Tu Thư ở Quốc Sử Quán trong Kinh Thành.

Sau 2 tháng làm việc, vào tháng 12-1886, ông dâng lên vua một bài phàm lệ gồm 11 điều quy định về cách thức biên soạn bộ sách ấy để thỉnh thị ý kiến của nhà vua. Nhà vua liền “chuẩn cho theo nghĩ làm việc”.

Qua gần nửa năm biên soạn, bộ sách được hoàn tất vào tháng 5-1887. Sách gồm 7 quyển và một bản đồ cả nước. Thấy sách soạn thảo thành công tốt đẹp, nhà vua cho Hoàng Hữu Xứng được hưởng thực phái đều được khen thưởng. Rồi nhà vua lại cho ông được sung chức Toản tu ở Quốc Sử Quán (15).

Vào thời Thành Thái (1889-1907), Hoàng Hữu Xứng ngoài chức Toản tu còn kiêm giữ chức vụ Sử Quán, lãnh thượng thư Bộ Công, kinh diên Giảng quan, quản chiếu Tu thư sở (16).

Đến năm 1900, quan hàm của ông được ghi như sau: phó Tổng tài, Hiệp biện Đại học sĩ sung Kinh diên Giảng quan. Với chức vụ phó tổng tài ấy, Hoàng Hữu Xứng đã phụ trách biên soạn xong bộ Đại Nam Thực Lục chính biên Đệ ngũ kỷ, viết về những sự kiện lịch sử xảy ra tại Việt Nam từ cuối 1883 đến 1885 (17).

Làm xong bộ sử vào năm 1900, ông đã bước vào tuổi thất tuần.

Năm ấy (1900), ông dâng sớ xin nghỉ hưu. Vua Thanh Phái phê rằng: “Ông là người kỳ cựu trong triều đình, đã từng trải trong ngoài, nay tuổi già sức yếu, viện lệ xin hưu. Trẫm cũng chuẩn y để tỏ lòng yêu mến tôi lão”. Từ đó, ông về sống cuộc đời nhàn tản ở quê nhà. Đến năm 1905, ông chỉ bị bệnh nhẹ rồi qua đời, được an táng tại nền đình cũ trong làng, có xây lăng và dựng bia. Nhưng trong cuộc đấu tranh vừa qua (1972), lăng và bia điều bị hư hỏng. Vào năm 1987, di hài ông được con cháu dời về quy táng tại Nương Âm, cũng là một địa danh ở trong làng Bích Khê (19).

Thuở sinh thời, tuy ông chỉ đổ cử nhân, nhưng vì có kiến thức rộng, cho nên ông đã hai lần được triều đình cử chấm thi chiến Tiến sĩ. Trong lần chấm khoa thi Hội năm 1892, ông đã chấm đậu các tử sĩ dưới đây (về sau trởi thành danh nhân):

– Vũ Phạm Hàm, đậu đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ.

– Nguyễn Thượng Hiền, đậu đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân.

– Chu Mạnh Trinh, đậu đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân (20). Và trong lần chấm khoa thi Hội năm 1898, ông đã lấy Đào Nguyên Phổ đậu đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân và lấy 5 sĩ tử người Quảng Nam đậu tiến sĩ cùng một lượt (Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn, Ngô Truân, Dương Hiền Tiến), được gọi là “Ngũ phụng tề phi” (21).

                                   BỘ SÁCH “ĐẠI NAM QUỐC CƯƠNG GIỚI VỰNG BIÊN” CỦA HOÀNG HỮU XỨNG.
Sử chép rằng vào tháng 9 năm Đồng Khánh nguyên niên (tháng 10-1886), triều đình nhà Nguyễn đã quyết định cử đại thần Hoàng Hữu Xứng đứng ra phụ trách việc biên soạn bộ sách Đại Nam quốc Cương giới Vựng Biên. “Bấy giờ, viện Cơ Mật tâu nói: Cương giới nước ta, phía bắc gần với nước Đại Thanh, phía tây nam giáp với nước Xiêm La, Miến Điện; Từ trước phải có giới hạn đích ở chỗ nào. từ trước đến giờ, quốc sử ít thấy chép đến… Kể ra bờ cõi non sông cũng là cách học bác vật, biển rộng mây trùng, đường xa muôn dặm, người ta còn nghĩ dò tìm được, huống chi cương giới nước ta, mà lại còn không bàn, bàn mà không xét, tưởng không phải chỉ để cho người biết được ít nhiều! Nghĩ nên xin phái quan, thuộc, tìm xét khắp cả, duy công việc ở Bộ, Viện, Quán, Các, bề bộn, nếu giao cho làm kiêm cả, sợ không chuyên chú kỹ càng, khó mong thành hiệu. Xin nên đặt viên có trách nhiệm để đôn đốc việc ấy. Quang lộc Tự Khanh lãnh Thị lang Bộ lại là Hoàng Hữu Xứng là người trầm tĩnh, học cũng hơi rộng, xin cho theo nguyên hàm sung làm đồng lý, cấp cho ấn khâm phái quan phòng, và phái viên dịch theo để làm việc, đến ở phòng nội các làm việc. Phàm hễ nước ta tiếp giáp với nước Thanh, nước Xiêm, và sông Khung Giang (tức là sông Cửu Long), đích là chỗ nào, đều xem xét rõ ràng, cần có chứng cớ đích xác, biên chép thành sách và vẽ đồ bản để tham khảo(22).

Chính Hoàng Hữu Xứng đã có công thực hiện tác phẩm ấy, cho nên, cách đây khoảng 20 năm, trong một bộ sách mang tính văn tịch chỉ xuất bản tại Hà Nội, ông Trần Văn Giáp và các đồng tác gia đã liệt Hoàng Hữu Xứng vào hàng 852 tác gia Việt Nam từ xưa đến thế kỷ XX. “Lược truyện các tác gia Việt Nam là một cuốn sách ghi rõ tên tuổi, sự nghiệp, văn chương các nhà trứ thuật của Việt Nam… Chúng tôi quan niệm tác gia là tất cả các vị nào đã có làm sách, về bất cứ một môn loại nào, từ thi văn, sử truyện, cho đến bút ký phiên dịch v.v…(23)

Riêng về tác gia Hoàng Hữu Xứng nằm ở số 576 (tập I, trang 437), Trần Văn Giáp ghi rằng ngoài bộ sách “Đại Nam quốc Cương giới Vựng biên”, ông còn có viết bài bạt cho cuốn sách “Cung kỷ luân âm”, và sau đó là dấu hiệu viết tắt hai chữ vân vân. Nhưng, trong mục sách dẫn ở tập II, ông Trần không cho biết gì thêm về “Cung kỷ luân âm” và tác giả của nó. Ông chỉ mách rằng nó thuộc loại văn học và số ký hiệu của nó ở thư viện khoa học xã hội là A.417. Trong khi đó thì “Đại Nam quốc Cương giới Vựng biên” được xếp vào loại sách sử địa và mang số ký hiệu là A.748.

Hiện nay, các sách loại đó đã được chuyển về Viện nghiên cứu Hán Nôm ở đường Đặng Tiến Đông, quận Đống Đa, Hà Nội.

Một nguồn tin chính thức cho biết Viện nghiên cứu Hán Nôm đang bảo lưu đến 5 bản “Đại Nam quốc Cương giới Vựng biên” với 5 ký số hiệu khác nhau:

  1. Bản A.748 : gồm 7 quyển, 398 trang, kể cả tờ tấu, phàm lệ và mục lục.
    2. Bản A.249 : có 220 trang, lược sao từ bản A.748.
    3. Bản A.1.342 : có 104 trang, gồm quyển 3 và quyển 5.
    4. Bản A.1.109 : có 96 trang, gồm quyển 6 và quyển 7.
    5. Bản VHv.1.721 : có 98 trang, chép riêng tỉnh Quảng Nam.

Tất cả 5 bản đều ở dạng chép tay, chưa được khắc in.

Nhìn chung, 4 bản đều là những bản lược sao hoặc trích sao từ bản trước (A.748). Do đó, chỉ có bản này là quan trọng và đáng chú ý nhất.

Vừa qua, chưa có dịp trở lại Hà Nội để nhân bản toàn bộ các tư liệu chữ Hán này, chúng tôi chỉ nhờ photocopy được 14 trang quan trọng nhất thuộc các phần sau đây của bản chính (A.748):

– Tờ tấu của Hoàng Hữu Xứng sau khi soạn xong bộ sách (4 trang).
– Bài phàm lệ đầu sách (6 trang).
– Bản mục lục sách (4 trang).

Tờ tấu của Hoàng Hữu Xứng đề ngày mồng 9 tháng 4 năm Đồng Khánh thứ hai, tức ngày 1-5-1887, nay xin tạm dịch toàn văn như sau:

Khâm phái Sở Tu Thư, Quang lộc Tự khanh, Lãnh Hữu thị Lang Bộ Lại, thần là Hoàng Hữu Xứng, kính tâu: vừa biên soạn thành dạng bản sách Đại Nam quốc Cương giới Vựng biên, nay cung kính tiến trình cùng với bản tấu để xin Hoàng thượng thẩm định. “Vào một ngày thuộc tháng 9 năm ngoái, tiếp được phiến chỉ do Viện Cơ Mật cung lục, Hoàng thượng chuẩn định thần sung làm đồng lý trong việc nghiên cứu kiểm tra cương giới nước ta, tỉnh nào tiếp giáp với Trung Quốc, Xiêm La, Miến Điện, Khung Giang (sông Cửu Long), đích thị là xứ nào, cần có căn cứ chính xác, sưu tập lại, biên chép thành sách và vẽ thành bản đồ. Khảo cứu đầy đủ rồi lại được Hoàng thượng đặt tên cho sách là “Đại Nam quốc Cương giới Vựng biên”, và tuân hành làm theo bài phàm lệ gồm 11 điều (24).

Thần trộm nghĩ sách này có thể làm rõ về sự quan hệ ở cương giới. Cương giới phía tây của miền thượng du nước ta, từ xưa đến nay triều đình chưa đến kinh lý, còn có nạn sách vỡ tam sao thất bản, việc khảo đính lại thiếu xót.

Nhưng nay tuân chiếu theo phàm lệ, thần đôn đốc việc sưu tầm tìm hiểu các sách và bản đồ nước ta và Trung Quốc cũng như Tây phương, rồi nghiên cứu, dịch thuật, ghi chép, thu thập lại (Sách là Thực Lục chính biên của nước ta, tham khảo thêm những sách của các nhà biên thuật. Bản đồ thì các loại bản đồ của nước ta, tham khảo thêm bản đồ của Trung Quốc và Tây Phương, cùng bản đồ mới vẽ của các tỉnh. Nếu có nhượng bỏ đến năm ba tỉnh thì cũng kính xin đề cập tới luôn, vì sự ghi chép cương giới ở những nơi đó cũng chưa được rõ ràng).

Nếu có chỗ chưa biết được rõ thì để khuyết chứ chẳng dám làm một cách khiêng cưỡng hoặc lấy ý mình mà điền thế vào. Tùy theo nơi, nếu cần thì làm phần cẩn án phụ thêm ở dưới mỗi khoản, đợi sau sẽ khảo đính. Toàn bộ sách và từng phần của sách đều có bản đồ kèm theo; cùng với phụ lục và phụ khảo, đóng thành 7 quyển. Thần chẳng ngại dốt, kính sợ tuân theo lệnh của Hoàng thượng, chẳng dám ngại khó, kính tham khảo thêm những tài liệu ngoài sử sách của triều đình, lượm lặt các sách vở cũ ngày xưa còn xót lại, và hỏi han thêm ý kiến của nhiều người, tuy đã cố gắng nhiều nhưng vẫn còn sai lầm thiếu sót, xin kính sợ tuân theo những điều sữa chữa.

Hoàng thượng đã chuẫn cho các đại thần ở viện Cơ Mật là Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình, Nguyễn Thuật và Hoàng Hữu Thường đọc và sửa.

Nay kính cẩn viết thành dạng bản và vẽ riêng một bức bản đồ chung lớn (đại tổng đồ), đều xin tiến trình, dám xin mạo muội kính đệ lên cùng tập tấu, và xin đợi tôn ý quyết định của Hoàng thượng.

Kính tâu,
Ngày mồng 9 tháng 4 năm Đồng Khánh thứ hai.
Thần: Hoàng Hữu Xứng
.

Về bài phàm lệ tiếp theo sau đó, chúng tôi xin khỏi dịch ra ở đây, vì hơi dài và đã có dịch ở sách Đại Nam Thực Lục (25).

Nhưng, để biết qua nội dung cốt lõi của bộ “Đại Nam quốc Cương giới Vựng biên”, chúng tôi xin dịch phần mục lục của nó, như sau:

“Quyển 1: – Phần tổng quát của bộ sách
– Phủ Thừa Thiên, trực thuộc Kinh sư.

Quyển 2:  – Hai tỉnh Hữu trực kỳ: tỉnh Quảng Trị, tỉnh Quảng Bình.
– Ba tỉnh Hữu kỳ: tỉnh Hà Tĩnh, tỉnh Nghệ An và tỉnh Thanh Hóa.

Quyển 3: – Hai tỉnh Tả trực kỳ: tỉnh Quảng Nam, tỉnh Quảng Ngãi.
– Bốn tỉnh Tả kỳ: tỉnh Bình Định, tỉnh Phú Yên, tỉnh Khánh Hòa, tỉnh Bình Thuận.

Quyển 4: Các tỉnh Bắc kỳ: tỉnh Ninh Bình, tỉnh Nam Định, tỉnh Hà Nội (dạo Mỹ Đức phụ thuộc), tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Hưng Yên, tỉnh Thái Nguyên, tỉnh Hải Dương, tỉnh Quảng Yên.

Quyển 5: Các tỉnh Bắc kỳ (tiếp theo): tỉnh Sơn Tây, tỉnh Hưng Hóa, tỉnh Tuyên Quang, tỉnh Lạng Sơn, tỉnh Cao Bằng.

Quyển 6: Các tỉnh Nam kỳ: tỉnh Biên Hòa, tỉnh Gia Định, tỉnh Định Tường, tỉnh Vĩnh Long, tỉnh An Giang, tỉnh Hà Tiên.
– Phần phụ lục: thành Trấn Tây.

Quyển 7: – Các thuyết khác nhau về cương giới
– Các thuyết khác nhau về Khung Giang
– Các thuyết nói ngờ vực về cương giới: Đồng trụ (của Phục Ba tướng quân Mã Viện)- Phụ lục về các nước hiện nay tiếp giáp với nước ta: Xiêm La, Nam Chưởng, Cao Man
– Phụ khảo về Vạn Tường, Chiêm Thành, Thủy Chân Lạp

Nhìn chung, bộ sách “Đại Nam quốc Cương giới Vụng biên” ghi chép về địa lý toàn quốc, bao gồm Kinh đô Huế và các tỉnh địa hạt, vị trí và tên gọi thay đổi qua các thời. Ngoài ra, còn có phần khảo cứu riêng về sông Cửu Long, về cột Đồng trụ thời xưa và về một số nước có biên giới sát với nước ta lúc đó.

Trong lịch sử Việt Nam, tính đến cuối thế kỷ XIX, dường như chưa có bộ sách nào chuyên khảo về biên giới quốc gia như “Đại Nam quốc Cương giới Vụng biên” mà Hoàng Hữu Xứng biên soạn.

Sống trong thời điểm phần lớn đất đai các tỉnh thành nước ta đã mất hẳn vào tay thực dân Pháp và chủ quyền của dân tộc xem như không còn nữa mà viết được và vẽ được thành bản đồ về lãnh thổ và lãnh hải quốc gia mình một cách cụ thể như thế, thì đó là cả vấn đề. Nó biểu hiện sự can đảm và tấm lòng yêu quý Tổ quốc của những người đề xuất, và nhất là của tác giả, trước cường quyền của ngoại bang. Ít nhất, đây cũng là lời xác quyết một lần nữa về chủ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của dân tộc “Đại Nam” đương thời.

Trên hoạn lộ đầy thăng trầm của mình suốt ba thập kỷ từ năm 1860 đến 1900. Và trong bối cảnh lịch sử đầy biến động đau thương của đất nước, Hoàng Hữu Xứng đã đi từ “một con tuấn mã trong hàng Cử nhân” của vua Tự Đức, đến một lão thần mến yêu của vua Thành Thái. Quá trình hoạt động và sự nghiệp đời ông gắn liền với thời kỳ mạt vận đầy khó khăn phức tạp của triều Nguyễn.

Tiếp thu được một nền nho học truyền thống của gia đình và của triều đình, ông đã đem hết sở học sở tồn ra phục vụ dân tộc với một cuộc sống thanh liêm, trong sáng. Nhờ có tính trung thực, ông đã hai lần được bổ nhiệm đứng đầu Viện Đô Sát (1877 – 1886) là cơ quan trung ương có quyền giám sát và hạch tội tất cả các quan lại và cả nhà vua. Ông cũng được triều đình cử đi thanh tra vụ án tham nhũng và hối lộ lem nhem tại tỉnh Bình Thuận vào năm 1879.

Về sự nghiệp văn hóa, lúc mới ra làm quan (1860) ông giữ chức huấn đạo, tức là người cầm đầu ngành giáo dục của một huyện Tuy Viễn (Bình Định). Về sau, khi về nhậm chức tại Kinh đô, ông đã được cử làm “Đổng Lý” trong việc biên soạn bộ “Đại Nam quốc Cương giới Vựng biên” vào những năm 1886 – 1887 và làm phó Tổng tài phụ trách việc biên soạn bộ “Đại Nam Thực Lục chính biên Đệ ngũ kỷ” vào những năm 1894 – 1900. Ngoài ra, ông còn viết bài bạt cho cuốn “Cung kỷ luận âm” và làm nhiều thơ phú. Như vậy, ông đã dạy học, chấm thi, làm sách, làm văn, làm thơ. Sự nghiệp văn hóa nói chung đáng được gọi là một tác gia, và nên chăng, một nhà văn hóa.

 P.T.A (Cửa Việt – Số 17 – Tháng 10 năm 1992)

(Bà con họ Hoàng hậu duệ của ngài Hoàng Hữu Xứng xin phép được trích đăng bài viết của nhà sử học Phan Thuận An với lòng trân trọng và biết ơn tác giả).

(1) Về tên tự và hiệu của Hoàng Hữu Xứng, có ba tư liệu nói khác nhau: Bình Như, Bình Chi, Bích Chi.

– Gia phả họ Hoàng viết: “Tự Bình Như, hiệu Song Bích”

– Sách “Lược truyện các tác gia Việt Nam” ghi “Tự Bình Chi hiệu Song Bích”.

– Bài “Hà Thành chính khí ca” viết: “Bích Chi là hiệu, năm mươi tuổi già”.

(2) Vì nguyên quán là làng Bích Khê thuộc huyện Đăng Xương, cho nên khi làm lại gia phả họ Hoàng vào năm 1876, Hoàng Hữu Xứng đã dùng cái tên sau đây để đặt cho nó: “Xương Khê Hoàng tộc thống phố chính biên”. Chữ Khê lấy ở tên làng, chữ Xương lấy ở tên huyện.

3,4,5,6,7,8,9,10,12,13,15,16,17,22,25 Đại Nam Thực Lục, bản dịch của Viện Sử học, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1974.

(11) Hoàng Đạo Thúy “người và cảnh Hà Nội”, nxb Hà Nội 1982, trang 200.

(14) “Xương Khê Hoàng tộc Thống phố chính biên” in ronéo. Đà Nẵng 1984, trang 36.

(18) Dẫn từ tập tiểu sử một nhân vật họ Hoàng, nhan đề là “Họ Hoàng Bích Khê Triệu Phong – Quảng Trị”, ấn hành tại Sài gòn năm 1989, in typo, không đánh số trang. Theo anh Hoàng Hữu Chỉ, cháu gọi Hoàng Hữu Xứng bằng cố, bài thơ này đã từng được viết lên một tấm áo hoành phi, treo ở nhà thờ của anh, tại 183/15/8 đường 68. Thành phố Huế.

(19) “Xương Khê Hoàng tộc thống phố chính biên”, đã dẫn, trang 35 – 36. Bia ở mộ Hoàng Hữu Xứng hiện nay đã được làm mới và ghi bằng chữ quốc ngữ.

(20) Cao Xuân Dục, Quốc Triều Khao Bảng lục, Long Cương tàng bản, quyển III, tờ 14 ab, 15ab, quyển IV, tờ 4b, 5ab, 6a.

(21) Tham khảo thêm: Cao Xuân Dục, Quốc Triều Đăng Khoa lục, bản dịch của Lê Minh Lưu, Bộ Quốc Gia giáo dục xuất bản. Sàigòn 1962. Trang 213-215,229-233.

(23) Trần Văn Giáp và các cộng tác viên, sách đã dẫn, tập I, trang 7, sách gồm hai tập: Tập I in năm 1971, đề cập đến 735 tác giả viết sách bằng chữ khối vuông (Hán, Nôm). Tập II in năm 1972, đề cập đến 117 tác giả viết sách bằng chữ La tinh (Quốc Ngữ).

(24) Bài phàm lệ chi có 11 điều. Nhưng sách DNTL (tập XXXVII, trang 217) viết thành 12 điều.

Đây là bản đồ ĐẠI NAM QUỐC CƯƠNG GIỚI VỰNG BIÊN do Ngài Hoàng Hữu Xứng truyền lại. Hiện đang được ông Hoàng Thạch Thiết (Đ.17) bảo quản theo trách nhiệm của dòng trưởng.

 

DANH MỤC SÁCH
DO NGÀI HOÀNG HỮU XỨNG
SÁNG TÁC HOẶC BIÊN SOẠN

  1. CÚC KHÊ TRƯƠNG TƯỚNG CÔNG THỦ CHUYẾT
    1 bản viết, 98 tr, 28 x 16, 1 tựa
    VHv.230
    MF.1738
  2. Thủ chuyết lục:văn thơ làm vào dịp Trương Quang Đản về hưu. Xem Trương Cúc Khê Thủ Chuyết  240; VHv. 854.
  3. Xương Khê Hoàng Tướng công thoại nông tập(Cao Xuân Dục đề tựa năm Thành Thái 12, 1900): thơ, văn, trướng, đối của Hoàng Hữu Xứng làm nhân dịp về hưu, gồm sớ xin hưu, biểu tạ ơn; và thơ, trướng, văn, câu đối của bè bạn gần xa mừng tặng Hoàng Hữu Xứng vào dịp này.

LITTÉRATURE

  1. Thủ chuyết lục: Textes divers offerts à Cúc Khê (Trương Quang Đản) lors de son départ retraite. Voir Trương Cúc Khê Thủ Chuyết  240; VHv. 854
  2. Xương Khê Hoàng Tướng Công thoại nông tập(Ouvrage préfacé par Cao Xuân Dục en l’an 12 de Thành Thái, 1900): Recueil de pòemes, de panneaux et de sentences parallèles, rédigés par Hoàng Hữu Xứng lors de son départ en retraite: sa demande de mise en retraite et son texte de remerciement, et des pòemes, des panneaux, des sentences parallèles offerts par ses amis proches et lointains, pour la même occasion.
  3. CUNG KỈ LUẬN ÂM
    Nguyễn Thuật biên tập. Trương Trọng Hữu, Nguyễn Thức kiểm hiệu, Hoàng Hữu Xứng viết bạt. In tại Hà Đình năm Thành Thái Đinh Dậu (1897).
    3 bản in.
    A. 417, VHv. 269: 114 tr., 24 x 13.
    Paris. SA. HM. 2227: 113 tr., 26 x 13.
    MF. 3129.
    Các bài châu phê, sắc dụ, thơ văn của Tự Đức ban cho Nguyễn Thuật khi ông này làm Cơ mật viện đại thần và được cử đi sứ Trung Quốc.

LITTÉRATURE: textes de cironstance
Observations, instructions et pòemes de Tự Đức dédiés à Nguyễn Thuật, membre du Cơ mật viện (Conseil secret de l’État), lors de son départ comme ambassadeur en Chine.

  1. ĐẠI NAM CHÍNH BIÊN LIÊT TRUYÊN SƠ TẬP
    [Quốc Triều Liệt Truyện Sơ Tập]
    Nguyễn Trọng Hợp, Bùi Ân Niên, Trương Quang Đản, Đoàn Văn Bình, Hoàng Hữu Xứng, … soạn. Hồ Đắc Mưu, Hồ Quý Chiếu hiệu đính. Quốc sử quán triều Nguyễn in năm Thành Thái thứ nhất (1889).
    6 bản in, 2 bản viết (8 T, 33Q), 1 biểu dâng sách, 1 phàm lệ, 1 tổng mục.
    VHv. 1678/1-8: 1294 tr., 29 x 21, in.
    VHt. 1/1-11: 1294 tr., 31 x 21, in.
    A. 2687/1-4: 1294 tr., 27 x 19, in.
    VHv. 1677/1-7: 1288 tr., 26 x 14, in (thiếu T6, T7; lẫn 1 tập của Đại Nam thực lục)
    Paris. BN.A.6 vietnamien: in.
    Paris. BN.a.21 vietnamien: in.
    VHv. 1676/1-9: 1056 tr., 23 x 18, viết. Thiếu Q 33.
    Paris, EFEO.VIET/A/Hiest. 14 (1-6), viết.

Tập truyện các bà Hậu phi, các Hoàng tử, Công chúa, các bề tôi, bậc trung thần, hạnh nghĩa, liệt nữ, những kẻ tiếm thiết, người ngoại quốc… thời Gia Long (1802-1819).

BIOGRAPHIES.
Biographies du Vietnam: Section principales, premières série.
Imprimé en 1889, par le Bureau des Annales (Quốc sử quán). 33 chapitres, en 7 fascicules.
Biographies des personnages, après Gia Long, 1802 sq: reines, princes, princesses, sujets, hommes vertueux, femmes édifiantes, rebelles et aussi étrangers.

  1. ĐẠI NAM CƯƠNG GIỚI VỰNG BIÊN
    Hoàng Hữu Xứng, Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình, Nguyễn Thuật, Hoàng Hữu Thượng biên soạn năm Đồng Khánh 2 (1886)
    1 bản viết, 590 tr., 26.7 x 21, 1 số, 1 phàm lệ, 1 mục lục, chữ Hán.
    Paris, SA. Ms.b.30.
    Tập bản đồ bờ cõi nước Việt Nam, gồm: Bản đồ phủ Thừa Thiên (Q1); Bản đồ các tỉnh (Q2 – Q6); Các thuyết về biên giới, sông vịnh, các nước giáp giới và bài khảo về Vạn Tượng, Chiêm Thành, Thủy Chân Lạp (Q7).

GÉOGRAPHIE: cartes.
Recueil d’atlas des frontières du Vietnam. Carte de la province de Thừa Thiên (premier fassicule); Cartes de chaque province (fascicules 2 à 6); Discussions sur le découpage frontalier du Viet nam (septième fascicule); En annexe: différentes recherches sur les pays voisins tel que le Laos, Champa et Chân Lạp.

  1. ĐẠI NAM QUỐC CƯƠNG GIỚI VỰNG BIÊN
    [Đại Nam Cương Giới Vựng Biên Lược Sao]
    Hoàng Hữu Xứng biên soạn, Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Xứng, Nguyễn Thuật, Hoàng Hữu Thường duyệt chính.
    5 bản viết (7Q), 1 phàm lệ, 1 mục lục, 1 biểu dâng sách
    A.748: 398 tr., 29 x 20
    A.1199: 96 tr., 28 x 16 (chỉ có Q6 và Q7)
    A. 1342: 104 tr., 29 x 16 (chỉ có Q3 và một phần Q5, có bản đồ)
    VHv. 1721: 98 tr., 29 x 16 (chỉ có t. Quảng Nam).
    Paris. SA. HM. 2133
    MF. 1652 (A. 748)
    MF. 2390 (VHv. 1721)
    Paris. EFEO. MF. 11/2/165 (A. 748, A. 1342, A. 249, A. 1199)

Khảo về địa danh, diên cách, diện tích, cương giới… của cả nước và các tỉnh. Có một số chuyên khảo khác như: Những ý kiến khác nhau về cương giới, những ý kiến khác nhau về sông Mê Công, bàn về Cột đồng, về Tượng Quận… Sách còn chép các nước tiếp giáp với Việt Nam như Xiêm La, Nam Chưởng, Cao mên, Vạn Tượng, Chiêm Thành, Thủy Chân Lạp.

GÉOGRAPHIE
Étude sur les noms de lieu, les changments survenus, les superficies, les frontières, ect. du pays entier et des provinces. Autres études: différentes opinions sur les frontières, sur le Mékong, réflexions sur la Colonne de bronze, sur le Tượng Quận, ect. Pays limitropes du Vietnam: Nam Chưởng, Campuchéa, Champa, Thủy Chân Lạp.

  1. ĐẠI NAM QUỐC SỬ QUÁN TÀNG THƯ MỤC
    Trương Quang Đản, Nguyễn Thuật, Hoàng Hữu Xứng, Cao Xuân Dục, Ngô Huệ Liên biên tập và viết lời tựa năm Thành Thái 12 (1900)
    1 bản viết, 17 tr., 1 tựa, chữ Hán.
    Paris. SA. HM. 2185.
    Mục lục sách của Thư viện Quốc Sử quán triều Nguyễn Thành Thái (1889 – 1907), gồm 103 loại sách.

CATALOGUE
Repertoire des livres de la bibliothèque du Bureau d’Histoire sous la règne de Thành Thái. Préface relatant les circonstances de l’ établissemen de ke répertoire, rédigée par le directeur Trương Quang Đản. Environ cent trois titres.

  1. LUẬN NGỮ THÍCH NGHĨA CA
    Tự Đức biên soạn, Hoàng Hữu Xứng, Ngô Huệ Liên duyệt, Hoàng Bính, Nguyện Thiện kiểm hiệu. In năm Thành Thái 8 (1896).
    2 bản in (bộ 7Q), 1 mục lục, có chữ Nôm.
    A. 186/1-2: 1110 tr., 29 x 17.
    VHv. 709/3-6: 798 tr., 26 x 16,5 (thiếu Q1 – Q2)
    Chú thích âm đọc, nghĩa chữ và diễn Nôm theo thể 6 – 8, 20 thiên sách Luận ngữ.

ÉDUCATION
Traduction en Nôm, vers 6 – 8, des 20 chapitres du Lunyu, avec notes sur la prononciation et explication des mots.

  1. TỰ ĐỨC THÁNH CHẾ GIẢI NGHĨA CA
    [Tự học Giải Nghĩa Ca]
    Tự Đức sáng tác. Hoàng Hữu Xứng, Ngô Huệ Liên, Hoàng Bính biên tập.
    9 bản in (bộ: 13Q), có mục lục, có chữ Hán.
    VHv. 626/1-4; VHv. 627/1-4; VHv. 628/1-4; VHv. 629/1-4; VHv. 630/1-4; VHv. 631/1-4; VHv. 363/1-4:
    in năm Thành Thái 9 (1897), 610 tr., 28 x 18.
    AB. 5/1-2: in năm Thành Thái 10 (1898), 602 tr., 28 x 17
    AB. 311: in năm Thành Thái 10 (1898), 144 tr., 29 x 17 (chỉ còn từ Q 7-9).

Sách dạy chữ Hán (thể 6-8), giải nghĩa bằng chữ Nôm. Các chữ được sắp xếp thành 7 mục lớn: Kham dư (thiên văn, địa lý), Nhân sự (quan hệ xã hội, con người), Chính hóa (giáo dục), Khí dụng (vật dùng), Thảo mộc (cây cỏ), Cầm thú (động vật, chim muông) và Trùng ngư (côn trùng, tôm cá).

(*) Các bản VHv. 626-631 đều cùng một ván khắc, giấy lệnh hội đẹp. Riêng VHv. 626, ngay đầu sách có sắc chỉ của nhà vua cho in sách, cùng các bài biểu do bề tôi phụng soạn. VHv. 363 giấy còn mới, có thể in muộn hơn các bản trên, nhưng vẫn cùng một loại ván khắc.

DICTIONNAIRE
Vocabulaire bilingue Han – Nom, en vers 6-8. Les mots sont classés en 7 grands chapitres: Astronomie et géographie; Rapports sociaux et l’homme; éducation; Outils et instruments; Végétaux; Animaux et oiseaux; Insectes et poissons.
(*) Les exemplaires VHv. 626-631 sont imprimés sur la même planche, sur du beau papier dit “lệnh hội”. En particulier, l’exemplaire VHv. 626, contient, dès le début, l’ordre royal autorisant l’impression, ainsi que les pétitions composées par les mandarins. L’exemplaire VHv. 363, encore neuf, doit avoir été imprimé longtemps après les exemplaires précités, mais sur la même planche.

                                                                                                                                                       (Sưu tầm)

Bài 4

CHƯƠNG TRÌNH KHÁCH MỜI:

:   Nhà nghiên cứu TRẦN XUÂN AN
    và nhân vật lịch sử

HOÀNG HỮU XỨNG (1831-1905),
HÀNH TRẠNG BIÊN NIÊN

Trần Xuân An

     Thao tác lược khảo hành trạng của nhân vật lịch sử Hoảng Hữu Xứng, căn cứ chủ yếu vào “Đại Nam thực lục” (gọi tắt là Thực lục), rất dễ trùng lặp với người đã thực hiện trước, như nhà nghiên cứu Phan Thuận An với một bài lược khảo nhằm hình thành tiểu sử Hoàng Hữu Xứng, đã đăng ở Tạp chí Cửa Việt vào năm 1992 (số 17, tháng 10). Tuy vậy, tôi cố gắng bám sát tư liệu “Đại Nam thực lục” hơn, lại xen vào vài dòng bình luận để làm rõ, và khi cần thiết, tôi đã trích dẫn nguyên văn từ Thực lục. Từ quá trình thực hiện thao tác lược khảo ấy, cuối cùng tôi mạnh dạn đưa ra nhận định khái quát về Hoàng Hữu Xứng, không chỉ với góc độ ông là một nhân vật lịch sử mà còn chú trọng đến công việc biên soạn sử kí của ông – Hoàng Hữu Xứng với tư cách là phó tổng tài Quốc sử quán triều Nguyễn (từ 1887 đến 1900).

(TXA)

Sách sử về các nhà khoa bảng triều Nguyễn đã ghi lại:
“Hoàng Hữu Xứng
(cha con, anh em cùng thi đậu)
Người xã Bích Khê, huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị; cha của Hoàng giáp Hoàng Hữu Bính 
(*); anh của Hoàng Hữu Bỉnh” (1).

Đó là một trong 22 sĩ tử đỗ cử nhân khoa thi hương năm Nhâm Tí 1852.

Đồng thời, sách ấy còn cho hậu thế biết, lúc cuốn sách đang được tu chỉnh, bổ sung, Hoàng Hữu Xứng “hiện làm tham tri, gia hàm thượng thư sung toản tu Sử quán, giảng quan tòa Kinh diên” (1).

Về hạnh trạng Hoàng Hữu Xứng, sách Thực lục (2) còn ghi được những nét chính. Từ những nét chính này, có thể thấy được trọn vẹn cuộc đời ông.

Vào tháng 10 nguyệt lịch năm Tân Dậu (1861), mặc dù mới được bổ nhiệm chỉ bốn tháng, thụ huấn đạo quyền tri huyện Tuy Viễn Hoàng Hữu Xứng cùng với đồng sự và các quan tỉnh Bình Định được triều đình khen thưởng bằng ngân tiền “Triệu dân”, do công lao bắt được viên đạo trưởng người Tây dương, xâm nhập trái phép, tên là Y-ty-Anh, cùng bốn đạo trưởng người nước ta và số người theo một loại tôn giáo mà triều đình đang cấm vì an ninh của đất nước cũng như của vương triều (3). Sau đó, ông còn tỏ ra có tài điều tra hình sự, được các quan tỉnh và Bộ Hình đánh giá là xuất sắc, tâu xin thăng chức vượt cấp cho ông. Tháng 3 nguyệt lịch năm Nhâm Tuất (1862), Hoàng Hữu Xứng được bổ làm tri huyện Hà Đông (nay là Tam Kỳ), thuộc tỉnh Quảng Nam.

Đến tháng 5 nguyệt lịch năm Kỉ Tị (1869), biện lí Hoàng Hữu Xứng là một trong số ít quan chức Bộ Binh được nhận xét là đảm đương khối lượng công việc nhiều, nhưng vẫn rất nhanh chóng, tinh tường. Ông được vua Tự Đức khen ngợi, ban cho một đồng kim tiền “Viết huệ” và bảo thêm rằng, khi việc được yên, sẽ thăng thưởng rất hậu (4).

Nhưng đến tháng 2 nguyệt lịch năm Quý Dậu (1873), khi Hoàng Hữu Xứng đang giữ chức bố chánh tỉnh Thanh Hoá, thì bọn phỉ Tàu (vốn ở Trung Hoa tràn sang, tranh chiếm đất đai nước ta để xưng hùng xưng bá) lại từ tỉnh Hưng Hoá kéo vào huyện Trình Cố, các xứ Quan Hoá, Cẩm Thuỷ thuộc tỉnh do ông quản lí. Lần này, ông cùng đồng sự bị giáng 2 cấp, cho lưu lại làm việc. Trong khi đó, Tôn Thất Tĩnh bị giáng 3 cấp, Nguyễn Giản bị giáng đến 4 cấp. Thậm chí các quan thuộc tỉnh Thanh Hoá, kể cả các quan dự bàn (tham mưu), còn bị vua Tự Đức khiển trách theo ngôn ngữ của bậc hoàng đế bấy giờ: “Trước phái đi đánh dẹp, chưa thấy có tình trạng gì khó, bèn thác là lương hết, quân tan, đều đem quân rút về quân thứ, thực là hèn nhát quá lắm” (5).

Tháng 6 nguyệt lịch năm Giáp Tuất (1874), Hoàng Hữu Xứng vẫn đang còn làm bố chính ở Thanh Hoá. Nhà thơ tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến bấy giờ cũng là án sát và Tôn Thất Tĩnh là hộ đốc. Đó là thời điểm cuộc tương tàn lương – giáo diễn ra ở các tỉnh Thanh – Nghệ – Tĩnh – Bình. Các quan tỉnh Thanh Hoá ” Cho là bọn giặc từ Nghệ An lan tràn đến gần,hạt ấy là quê hương của nhà Vua,nên phải phòng bị nghiêm ngặt,tư báo quân thứ Bắc Kỳ cho vũ sinh tỉnh ấy về (nguyên trước trích phái đi theo làm việc bắt giặc ở quân thứ Tái Nguyên) và bàn ủy biền binh tiếp viện đánh dẹp” 6). Tôn Thất Thuyết nhận được tờ tư của các quan tỉnh Thanh Hoá, bèn bàn với Hoàng Tá Viêm, và kéo quân vào, đánh dẹp theo sách lược tạm thời “ngọc đá đều cháy” (7). Việc đánh dẹp không những lực lượng “dữu dân” của các cố đạo Pháp mà còn cả lực lượng “sát tả” do Trần Tấn, Đặng Như Mai lãnh đạo là cả một bi kịch lịch sử của triều Nguyễn và dân tộc ta!

Trong thời gian Hoàng Hữu Xứng làm quan ở Thanh Hoá, ông được tiếng là người thanh liêm. Chính Phạm Phú Thứ, vào tháng 4 nguyệt lịch năm Bính Tí (1876), khi đi ngang qua Thanh Hoá cũng nghe tiếng tốt ấy. Ông “nghe người nói Đức Trạch ở chức mới một năm mà túi làm quan hơn số thu vào của bố chánh Hoàng Hữu Xứng mười năm” (8).

Sau một thời gian nhậm chức tả thị lang Bộ Lại, vào tháng 5 nguyệt lịch năm Đinh Sửu (1877), Hoàng Hữu Xứng được vua Tự Đức chuẩn y cho ông kiêm coi Viện Đô sát tại Huế (9). Việc ông được kiêm nhiệm quản lí Viện Đô sát là do ông đặc biệt có tài điều tra các vụ án. Tài năng ấy đã thể hiện ngay ở bước đầu làm quan (1862). Vào thời đoạn này, vụ án Nguyễn Chính Tâm ở Bình Thuận cùng với quan khoa đạo lại hút thuốc phiện và ăn của đút là Tạ Ngọc Đường lại được Hoàng Hữu Xứng làm rõ, và án đã được định. Tháng 10 nguyệt lịch năm Kỉ Mão (1879), “Hữu Xứng vì tra ra sự thực án ấy, và các án xét đều thấy đúng hẹn, được thưởng gia một cấp, kỉ lục sáu thứ” (10).

Tháng giêng nguyệt lịch năm Canh Thìn (1880), Hoàng Hữu Xứng được thăng tuần phủ Hà Nội. Cùng một dịp với ông, Hoàng Diệu được thăng tổng đốc Hà – Ninh (Hà Nội – Ninh Bình). Thực lục cũng ghi chép: Khi hai vị quan mới này nhậm chức, tổng đốc cũ là Trần Đình Túc vẫn còn ở lại nhiệm sở để cố vấn trong một thời gian (11)”.

Tháng hai nguyệt lịch năm Nhâm Ngọ (1882) là thời điểm thực dân Pháp lại một lần nữa gây hấn tại Bắc Kỳ. Trước tình hình đó, tổng đốc Hoàng Diệu, tuần phủ Hoàng Hữu Xứng cùng quan tỉnh Sơn Tây là Nguyễn Đình Nhuận cùng nhau họp bàn, viết bản tấu kính gửi vào triều đình tại Huế. Ý chính của bản tấu là dự phòng để đánh trả giặc Pháp, cụ thể là phải tăng cường quân binh, đồn luỹ, súng đạn ở các tỉnh thượng du để giữ trung châu Bắc Kỳ. Bởi lẽ, Pháp mạnh về đường sông, đường biển nhờ tàu thuỷ, còn tác chiến ở vùng núi non hiểm trở, chúng lại yếu kém, nên một khi chúng thấy ta tăng cường ở thượng du, giữ trung châu như thế, chúng sẽ không dám động đến ta. Bản tấu còn xin cho Hoàng Tá Viêm đóng ở hạt Sơn Tây, để cùng các quan tỉnh, quan đạo, quan sơn phòng trấn giữ, chiến đấu. Bản tấu này được vua Tự Đức chuẩn y sau khi đình nghị (12).

Tháng 3 nguyệt lịch năm Nhâm Ngọ (1882), cùng với tuần phủ Hoàng Hữu Xứng, án sát Tôn Thất Bá và tổng đốc Hà – Ninh Hoàng Diệu, Hà Nội trở thành điểm nóng của cả nước. Đó là những nhân vật chính của sự kiện thất thủ thành Hà Nội lần thứ hai. Sự thật đó đã được ghi chép lại trong Thực lục. Về Hoàng Hữu Xứng, ông “bị phái viên nước Pháp bắt giữ (Phái viên nước Pháp muốn lấy lễ độ dụ Xứng. Xứng không chịu khuất phục, chửi mắng hắn, cũng không bị giết. Rồi sai đem Xứng về dinh tuần phủ cũ giam lại). Lúc ấy, Xứng đã nhịn ăn thành ốm. Bá mời vào, Hữu Xứng lại từ chối ngay. Bá hai lần khóc, nói sự lợi, hại. Xứng lại nghĩ, không tạm nhận thành, sợ thêm khó, nhân cũng gượng dậy, nghe theo. Nhưng lại bàn chỉ do Bá nhận một mình, mà cũng cùng kí tên thông tư cho Hoàng Tá Viêm, Nguyễn Chính (Chánh) cùng các tỉnh láng giềng: Xem thế có thể thừa cơ được, nên làm [:đánh] ngay thì làm [:đánh], chớ lấy việc nhận thành làm ngại” (13).

Sau đó khoảng 3 tháng, hậu quả của sự kiện thất thủ thành Hà Nội cũng được Thực lục chép rõ, với bản dụ của vua Tự Đức. Chiếu theo quân luật bấy giờ, Tự Đức trách phạt các quan tuỳ theo mức độ ứng phó của từng người trong sự kiện, chỉ khen ngợi Hoàng Diệu đã tử tiết (14).

Nhưng kết luận cuối cùng về sự kiện ấy đã được triều nghị. Thực lục thuộc kỉ Kiến Phúc, ở mục tháng 11 nguyệt lịch năm Quý Mùi (1883), đã ghi: “vì cớ lần ấy đường lối chiến hay hoà chưa xác định, tình hình diễn biến quá bất ngờ, việc phòng thủ có khó khăn, nên ra đặc ân giảm tội đến mức thấp nhất”. Theo đó, Hoàng Hữu Xứng cùng với những viên quan đồng sự đều chỉ bị “phái đi hiệu lực”, tức là chịu sai đi làm việc chuộc tội. Triều nghị cũng tôn vinh Hoàng Diệu (15).

Tháng 9 nguyệt lịch năm Ất Dậu (1885), sau khi Đồng Khánh lên ngôi, Hoàng Hữu Xứng cùng với năm người khác phải sung làm nhật giảng quan ở nhà kinh diên (giảng dạy, tư vấn cho vua hằng ngày về kinh sách). Lê Trinh, một quan viên cùng quê Triệu Phong, cũng cùng ông làm việc này, nhưng với chức vụ triển thư (16).

Đến tháng 6 nguyệt lịch năm Bính Tuất (1886), Hoàng Hữu Xứng, vốn đã được khai phục hàm quang lộc tự khanh lãnh chức vụ thị lang Bộ Lại, phải kiêm quản thêm Viện Đô sát (17). Đây là một công việc mà ông tỏ ra rất có năng lực, như quá trình hoạn lộ đã được ghi nhận.

Tháng 8 nguyệt lịch năm Bính Tuất (1886), Hoàng Hữu Xứng gặp tang, xin phép nghỉ hai tháng để lo liệu, tại ngụ sở (kinh đô Huế) (18).

Tháng 9 nguyệt lịch năm Bính Tuất (1886), Hoàng Hữu Xứng được đề cử làm đổng lí việc biên soạn sách về cương giới nước ta, vì ông là “người trầm tĩnh, học cũng hơi rộng”. Và “tháng sau, vua chuẩn cho viên ấy đến Sở Tu thư ở Quốc sử quán” (19).

Tháng 11 nguyệt lịch cũng năm Bính Tuất (1886), Hoàng Hữu Xứng viết xong bản phàm lệ, đề xuất tên sách là “Đại Nam cương giới vựng biên”, liền đệ tâu lên vua. Trong bản phàm lệ khá dài và khá chi tiết này, ông đã trình bày chủ đích, đối tượng khảo sát và phương pháp làm sách. Đặc biệt về đối tượng khảo sát, tức là xác định lãnh thổ, biên giới nước ta, ông không quên ghi chép rõ những vùng đất nước ta dưới triều nhà Hồ, nhà Mạc đã bị mất vào tay các triều đại Trung Hoa; và xứ Nam kỳ thuộc Pháp, ông cũng đề xuất cần phải ghi rõ nhưng kín kẽ: “sáu tỉnh Nam Kỳ xin phải chép cả vào trong khoản chép tổng quát, và chép riêng biệt để cho còn danh hiệu” (20). Bản phàm lệ cho thấy, Hoàng Hữu Xứng muốn lưu lại chứng cứ về lãnh thổ Đại Nam nhất thống cho hậu thế, chứ không chịu mất hẳn vào tay Trung Hoa và Pháp.

Đến tháng 4 nguyệt lịch năm Đinh Hợi (1887), pho sách “Đại Nam cương giới vựng biên” đã được đổng lí Hoàng Hữu Xứng cùng đồng sự làm xong, gồm 7 quyển và một bức địa đồ. Ông được thăng thực thụ hàm thị lang Bộ Lại, thự tả tham tri (nguyên lãnh quan lộc tự khanh); các tuỳ phái cũng được gia thưởng. Sau đó, Hoàng Hữu Xứng sung chức toản tu ở Quốc sử quán (21).

Thực lục còn ghi lại rõ ở các phần đầu sách của kỉ Tự Đức, kỉ Kiến Phúc, Hoàng Hữu Xứng là phó tổng tài khi Quốc sử quán làm hai kỉ này (22).

Trên đây là những gì đã được ghi nhận trong Quốc triều hương khoa lục” và các kỉ “Đại Nam thực lục chính biên” về nhân vật lịch sử và nhà chép sử Hoàng Hữu Xứng. Qua đó, hậu thế cũng đã có thể thấy rõ cuộc đời, hành trạng của ông, đặc biệt là cách biên soạn sử kí theo phương thức tập thể với cách thuật sự, giọng văn khách quan đến lạnh lùng của Quốc sử quán triều Nguyễn.

Dẫu vậy, hậu thế vẫn có thể đi đến những nhận định xác đáng: Khi đảm trách các chức vụ cai quản các địa phương từ cấp huyện đến cấp tỉnh hay các sự vụ ở triều đình, Hoàng Hữu Xứng là một vị quan nhiều năng lực, đặc biệt là tài Bao Công (23) điều tra hình án, thanh liêm, yêu nước, chống Pháp. Sau thời điểm nước ta hoàn toàn bị thực dân thống trị (05-7-1885, nhất là sau khi Đồng Khánh lên ngôi), khoảng chừng hơn một năm, ông là nhà biên soạn sách về lãnh thổ, cương giới đất nước. Ở chức trách này, ông vẫn kín đáo mà mạnh mẽ thể hiện lòng yêu quý, ý thức giữ gìn từng tấc đất của Tổ quốc ta, kể cả những vùng đất đã bị Trung Hoa và Pháp chiếm lấy. Khi là nhà chép sử, mặc dù dưới bóng tối thực dân Pháp, ông vẫn giữ được vẹn nguyên tinh thần chống Pháp, chống Trung Hoa (nhà Thanh) và đặc biệt là tôn trọng sự thật lịch sử. Đến nay, hậu thế có thể đọc thấy cái tâm ấy bên trong, đằng sau những dòng chữ của Quốc sử quán triều Nguyễn thời Hoàng Hữu Xứng, mặc dù đó là công trình của nhiều tập thể sử quan trải qua nhiều thời kì, với phương thức làm việc nghiêm ngặt, cân nhắc từng câu chữ (đến mức không những thực dân Pháp, mà ngay cả hoàng thân, hoàng đế cũng bị phê phán nếu có hành vi sai trái). Nói cho cùng, Hoàng Hữu Xứng và Quốc sử quán ít nhất là đã có công lao to lớn trong việc ghi chép lại các bản dụ, cáo, bản án, tấu, sớ vốn có giá trị xác tín rất cao, cao nhất, trong công việc khảo chứng tư liệu lịch sử, mà không bộ sử nào có thể so sánh được. Đối với hậu thế chúng ta, dĩ nhiên, cũng cần có các thao tác xới lật cần thiết với quan điểm khoa học, dân tộc nhất khi sử dụng bộ sử kí ấy, đặc biệt là các kỉ ấy (24).

Trần Xuân An

Khởi viết: 21:45, 16-02 HB11 (2011); viết xong: 16:22, 17-02 HB11
Chỉnh sửa: 20:30, 17-02 HB11
Chỉnh sửa lần cuối, sau khi đã viết bài thứ hai về đề tài này: 17:43, 23-02 HB11 
(**)
(*) Hoàng Hữu Bính tức Hoàng Bính hay Hoàng Hữu Tiếp – người dịch chú thích. Xem chú thích (1).
(1) Cao Xuân Dục, “Quốc triều hương khoa lục”, Nguyễn Thuý Nga, Nguyễn Thị Lâm dịch, Cao Tự Thanh hiệu đính và giới thiệu, Nxb. TP.HCM., 1993, tr. 312.
(2) Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam thực lục, chính biên” (ĐNTL.CB.), kỉ Tự Đức, kỉ Kiến Phúc và kỉ Đồng Khánh, bản dịch Viện Sử học, Nxb. KHXH., 1973-1976, 1976, 1977-1978.
(3) ĐNTL.CB., kỉ Tự Đức, tập 29, sđd., 1974, tr. 245 & 293. Vấn đề “cấm đạo”, trước cưỡng ước Nhâm Tuất 1862 (thật ra là mãi đến tháng 9-1885…), cần được khảo sát với quan điểm lịch sử – cụ thể. Thuở bấy giờ, ngoài ý thức bảo vệ an ninh đất nước trước sự xâm nhập trái phép, đó là ý chí bảo vệ văn hóa dân tộc Việt Nam, là sự khẳng định nền độc lập của Tổ quốc và của vương triều Nguyễn. Sự bảo vệ và khẳng định ấy là biểu hiện của tinh thần yêu nước trước hiểm họa ngoại xâm từ Phương Tây. Đó cũng là chủ trương không những của các nước Hồi giáo, mà còn của các nước Thần giáo, tam giáo (Nho – Lão – Phật) như Nhật Bản, Trung Quốc… Ngày nay, có thể có quan điểm này nọ khác xưa, nhưng thuở bấy giờ là như vậy. Hậu thế chúng ta, với tinh thần khoa học, không thể tránh né, cắt xén lịch sử, mà cần phải am hiểu đầy đủ tình hình bấy giờ, về một số giai đoạn Thiên Chúa giáo đã trở thành công cụ tâm linh – chính trị, tạo nội phản tại bản xứ do các nước thực dân như Pháp, Tây Ban Nha lợi dụng, và về tư tưởng, cách thức đối phó của tiền nhân thuở đó để cảm thông – niềm cảm thông trên nền tảng sự thật lịch sử.
(4) ĐNTL.CB., kỉ Tự Đức, tập 31, sđd., 1974, tr. 333.
(5) ĐNTL.CB., kỉ Tự Đức, tập 32, sđd., 1975, tr. 276.
(6) ĐNTL.CB., kỉ Tự Đức, tập 33, sđd., 1975, tr. 68-70.
(7) Xem: Trần Xuân An, ““Ngọc đá đều cháy”, chủ trương tạm thời trong vụ trấn áp cuộc nội chiến lương – giáo ở Thanh – Nghệ – Tĩnh – Bình vào năm 1874”, Tạp chí Xưa & Nay trích đăng, số 284, tháng 5-2007, tr.42
(8) ĐNTL.CB., kỉ Tự Đức, tập 33, sđd., 1975, tr. 284.
(9) ĐNTL.CB., kỉ Tự Đức, tập 34, sđd., 1976, tr. 48.
(10) ĐNTL.CB., kỉ Tự Đức, tập 34, sđd., 1976, tr. 275-276.
(11) ĐNTL.CB., kỉ Tự Đức, tập 34, sđd., 1976, tr. 298.
(12) ĐNTL.CB., kỉ Tự Đức, tập 35, sđd., 1976, tr. 100-101.
(13) ĐNTL.CB., kỉ Tự Đức, tập 35, sđd., 1976, tr. 108-109.
(14) ĐNTL.CB., kỉ Tự Đức, tập 35, sđd., 1976, tr. 128.
(15) ĐNTL.CB., kỉ Kiến Phúc, tập 36, sđd., 1976, tr. 33.
(16) ĐNTL.CB., kỉ Đồng Khánh, tập 37, sđd., 1977, tr. 46.
(17) ĐNTL.CB., kỉ Đồng Khánh, tập 37, sđd., 1977, tr. 176.
(18) ĐNTL.CB., kỉ Đồng Khánh, tập 37, sđd., 1977, tr. 193.
(19) ĐNTL.CB., kỉ Đồng Khánh, tập 37, sđd., 1977, tr. 209.
(20) ĐNTL.CB., kỉ Đồng Khánh, tập 37, sđd., 1977, tr. 217-220.
(21) ĐNTL.CB., kỉ Đồng Khánh, tập 37, sđd., 1977, tr. 281.
(22) ĐNTL.CB., kỉ Tự Đức, tập 27, sđd., 1973, đặc biệt ở tr. 29; kỉ Kiến Phúc, tập 36, sđd., 1976, tr. 15-16. Có hai điểm cần lưu ý: 1) Bản phàm lệ kỉ Kiến Phúc, với sự phân định danh nghĩa “dấy quân cần vương”, “khởi binh” hay “nghịch”nghĩa binh hay giặc, tuy cũng chỉ là người đó, việc đó), theo mốc thời gian là ngày mồng 1 tháng 10 năm Ất dậu (1885), đã định đoạt cả việc chép sử ở kỉ Đồng Khánh. Ngay ở kỉ Đồng Khánh (sđd., tr. 15-16), cũng đã chép lại đoạn phàm lệ ấy nguyên ở kỉ Kiến Phúc (đệ ngũ kỉ). 2) Mặc dù ở phần “Vâng sắc khai chép những tên và chức tước” của Quốc sử quán khi làm kỉ Kiến Phúc (tr. 16-17), chúng ta thấy Hoàng Hữu Xứng làm phó tổng tài thứ hai (dưới Nguyễn Thuật và trên Cao Xuân Dục), nhưng ở tập tâu về việc khắc xong bản gỗ (có nghĩa là đã in xong bản rập hay đã in xong thành sách lưu hành nội bộ), thì chỉ Cao Xuân Dục (vẫn tự xưng là phó tổng tài thứ ba), Ngô Huệ Liên và Trần Sĩ Trác (vẫn hai toản tu cao nhất) đứng tên ở tập tâu, mà không có tên Trương Quang Đản (tổng tài), Nguyễn Thuật và Hoàng Hữu Xứng (hai phó tổng tài thứ nhất, thứ hai). Như vậy, phải chăng về việc khắc in, Cao Xuân Dục là người chịu trách nhiệm chính?
(23) Giữa tài điều tra hình án (tài Bao Công), đức tính thanh liêm, năng lực học vấn, vai trò chứng nhân lịch sử với công việc ghi chép sử kí, hẳn có một mối quan hệ rất hữu cơ.
(24) Xem thêm: Trần Xuân An, “Thơ sử và những bài thơ khác”, tập thơ, trong đó có bài “Hoàng Hữu Xứng (1831-1905)”, Nxb. Thanh Niên, tháng 01-2011, tr. 51 & 79. Ngoài ra, trước đó, TXA. đã có nhiều trang, đoạn viết về nhân vật lịch sử này, qua các đầu sách về lịch sử đã xuất bản.
(**) Tác giả (TXA.) đã viết thêm bài khảo luận “Hoàng Hữu Xứng (1831-1905) và Thực lục”, 22-02-2011.

                                                                                 HOÀNG HỮU XỨNG (1831-1905) VÀ THỰC LỤC

Đntl Mộc Bản

Đại Nam Thực lục-mộc bản

Đntl 10 Tập

Đại Nam thực lục – bản quốc ngữ

     Quảng Trị, vốn là nơi đóng dinh thời Nguyễn Hoàng mở cõi và sau đó, từng là một phần kinh sư của vương triều Nguyễn. Trên vùng đất này, dòng họ Hoàng ở làng Bích Khê, huyện Triệu Phong đã có nhiều đóng góp để làm rạng rỡ quê hương. Dẫu vậy, phải đến Hoàng Hữu Xứng (1831-1905), vị tổ đời thứ 13, trở đi, họ Hoàng ấy mới thật sự có nhiều người còn lưu lại tên tuổi trong sử sách. Tuy nhiên, bản thân sự nghiệp vị tổ khai sáng họ tộc – Hoàng Hữu Xứng – vẫn còn ít nhiều những tranh luận trên sách báo hiện nay. Cũng cần phải nói ngay rằng, sở dĩ còn tồn tại những ý kiến này nọ là bởi hai nguyên nhân: Thứ nhất, dư luận dân gian không xác đáng khởi xuất từ những bài thơ, truyện thơ nặc danh hoặc có tác giả thì tác giả ấy (Nguyễn Văn Giai, tục gọi Ba Giai) vốn không am hiểu tường tận, lại thiên kiến, quen nếp đả kích. Thứ hai, bản thân Hoàng Hữu Xứng vừa là một nhân vật lịch sử lại vừa là phó tổng tài Quốc sử quán khi chỉnh lí kỉ Tự Đức (1947-1883), biên soạn kỉ Kiến Phúc (1883-1885), về hưu vào năm 1900, và còn sống sau khi kỉ Kiến Phúc đã được khắc in, đưa vào kho sử, lưu hành trong nội bộ triều đình, hoàng tộc (1902).

Nguyên nhân thứ nhất, thiết tưởng không cần bàn luận nhiều, vì các bài thơ, truyện thơ ấy vốn thuộc lĩnh vực văn chương nghệ thuật không được bảo chứng bằng tư liệu. Đó không phải là sử học. Sử học là một lĩnh vực cần đến rất nhiều tư liệu và phải là các tư liệu được khảo chứng, có giá trị. Thứ đến, lại là một nguyên nhân nẩy sinh từ sự không am hiểu phương thức biên soạn tập thể của Quốc sử quán. Đó là phương thức mà mọi tư liệu đều được khảo chứng, thẩm định và mọi chi tiết thuật sự đều được bàn luận, cân nhắc bởi hàng vài ba chục người, lại trải qua nhiều tập thể sử quan.

Để sáng tỏ hơn, chúng ta thử xem Quốc sử quán đã viết về Hoàng Hữu Xứng như thế nào. Cụ thể hơn, trong “Đại Nam thực lục” (gọi tắt là Thực lục) (*), hành trạng của ông có phải đã được ghi chép lại chỉ theo một chiều hướng đề cao, ngợi ca? Rõ ràng không phải vậy. Như mọi người khác, Hoàng Hữu Xứng dĩ nhiên vẫn có những ưu điểm cùng với những hạn chế khác. Có điều, ưu hay khuyết nhược điểm được ghi chép vào Thực lục đều là những gì đã được triều nghị, đã được chính bản thân vua Tự Đức hay các vua sau đó ban dụ, hoặc chí ít cũng căn cứ vào những bản tấu của các vị đại thần có uy tín rõ rệt, và chính những bản tấu ấy cũng đã được chính nhà vua châu phê (nên gọi là châu bản).

  1. Trước khi mất nước (7-1885): vị quan đáng kính
  2. Vị quan mẫn cán và thanh liêm:Về mặt ưu điểm, sự mẫn cán của Hoàng Hữu Xứng thể hiện ở chỗ ông đặc biệt có tài điều tra các vụ án. Chính vì tài Bao Công này, nên suốt đời làm quan của ông đã có nhiều giai đoạn ông được giao phó phụ trách Đô sát viện (1). Sự mẫn cán của ông còn thể hiện ở thời điểm ông cùng đồng sự đã được vua Tự Đức khen thưởng là mặc dù đảm đương những khối lượng công việc nặng nề nhưng vẫn xử lí một cách tinh tường, nhanh chóng (2).

Thanh liêm cũng là một đức tính thuộc vào loại ưu điểm của Hoàng Hữu Xứng. Phạm Phú Thứ đã có lần tìm hiểu ý dân ở Thanh Hoá và tâu về triều như vậy (3).

  1. Nhân vật lịch sử chống ngoại xâm:

2a. – Thực thi chính sách “cấm đạo”: Quốc sử quán đã chép trong Thực lục như sau: Tỉnh Bình Định bắt được một đạo trưởng người Tây dương tên là Y-ty-Anh. Các quan tỉnh, huyện đều được thưởng gia một cấp và tiền vàng, tiền bạc có thứ bậc khác nhau, đi đốc bắt là quyền huyện Tuy Viễn Hoàng Hữu Xứng, được thưởng tiền “Triệu dân” bằng bạc hạng lớn, hạng nhỏ mỗi thứ đều năm đồng)” (4). Cũng vụ việc ấy, ở đoạn khác, được ghi chi tiết hơn: Duy Hữu Xứng khi làm quyền huyện, tiết thứ bắt được một người đạo trưởng người Tây dương và bốn đạo trưởng người nước ta … giải nộp để xét” (5). Phải nói là Quốc sử quán rất trung thực, vì lưu lại một thành tích như thế dưới thời thực dân Pháp thống trị đất nước ta, là trở thành tì vết, thậm chí có thể rơi vào nguy cơ bị trả thù, ít ra cũng bị “trù yếm”. Cũng có thể kể thêm về vai trò của Hoàng Hữu Xứng trong vụ đánh dẹp cả “dữu dân” thuộc cố đạo Pháp lẫn lực lượng “sát tả” của Trần Tấn, Đặng Như Mai ở Thanh – Nghệ – Tĩnh – Bình (6). Đây là trường hợp Hoàng Hữu Xứng và đồng sự đã bị rơi vào hai gọng kìm thù oán, nhưng Quốc sử quán vẫn ghi lại.

2b. – Đối phó với phỉ Tàu: Thời đoạn những năm 60 của thế kỉ XIX, nước ta phải đối phó với bọn Tàu đã biến tướng thành phỉ, tràn sang xâm chiếm đất đai, dân cư để xưng hùng xưng bá, mặc dù triều đình đã hết sức vỗ yên, cho phép tự giải giáp để làm ăn sinh sống. Năm 1869, Hoàng Hữu Xứng là biện lí Bộ Binh, rất tích cực trong việc xử lí các việc quân từ các quân thứ tâu về, và được vua khen thưởng, như đã nói trên (2). Nhưng khi ông trấn nhậm tại tỉnh Thanh Hoá, với chức trách quan văn (bố chánh), lại bị khiển trách chung với đồng sự. Quốc sử quán chép lại nguyên văn bản dụ của vua Tự Đức, lời lẽ rất thậm tệ: Trước phái đi đánh dẹp, chưa thấy có tình trạng gì khó, bèn thác là lương hết, quân tan, đều đem quân rút về quân thứ, thực là hèn nhát quá lắm” (7). Xin nhớ rằng, dụ của vua, không ai có quyền xuyên tạc, thêm bớt! Giả định như Quốc sử quán có thiên vị với Hoàng Hữu Xứng, họ chỉ cần thêm vào vài dòng diễn giải, để làm nhẹ tội đi, nhưng trong Thực lục vẫn chỉ như vậy.

2c.- Tinh thần chống Pháp: Giữ khí tiết và linh hoạt ứng phó trong sự kiện thất thủ thành Hà Nội lần thứ hai: Với quan điểm lịch sử – cụ thể, chúng ta đều biết rằng, chống sự xâm nhập của Thiên Chúa giáo (không phải Thiên Chúa giáo mọi thế kỉ, mọi nước), lúc bấy giờ, là chống thực dân Pháp, chống thực dân Tây Ban Nha. Nhưng ở thời điểm 1882, lúc Hoàng Hữu Xứng làm tuần vũ Hà Nội, ông mới thực sự cùng đồng sự vạch ra phương án phòng thủ (8), trực tiếp chiến đấu với giặc Pháp. Đây là trường hợp ông bị Ba Giai chê bai, châm biếm một cách đầy thiên kiến. Tuy nhiên, sự thật đó, Thực lục chép nguyên văn như sau: “… Diệu uỷ án sát Tôn Thất Bá ra ngoài thành để thương thuyết, Bá vừa ra khỏi thành, quân Pháp đã bắn ngay. Diệu cùng tuần phủ Hoàng Hữu Xứng chia đường đốc thúc quân lính chống đánh rất lâu, quân ta và quân Pháp đều có bị thương và chết. Chợt thấy kho thuốc súng phá, quân ta rối loạn, quân Pháp bắc thang lên thành, thành bèn bị mất (chống nhau tự giờ mão đến giờ mùi mới mất). Diệu đi lẫn vào trong đám quân hỗn loạn, một mình đến trước đền Quan Công (ở ngoài tường ngăn trong thành), thắt cổ ở dưới gốc cây to. Đề đốc Lê Văn Trinh, bố chính Phan Văn Tuyển, lãnh binh quan Lê Trực, phó lãnh binh quan Hồ Văn Phong, Nguyễn Đình Đường đều chạy cả. Ngay lúc ấy Hữu Xứng đi tìm hỏi Diệu, không biết Diệu ở đâu, bèn vào thềm bên tả hành cung, bỗng bị phái viên nước Pháp bắt giữ (Phái viên nước Pháp muốn lấy lễ độ dụ Xứng. Xứng không chịu khuất phục, chửi mắng hắn, cũng không bị giết. Rồi sai đem Xứng về dinh tuần phủ cũ giam lại). Sau rồi phái viên nước Pháp đón Bá về (Bá chạy đến xã Nhân Mục) giao tỉnh thành cho. Bá vào thành cùng với Xứng. Xứng có bàn tạm nhận (Lúc ấy, Xứng đã nhịn ăn thành ốm. Bá mời vào, Hữu Xứng lại [từ] chối ngay. Bá hai lần khóc, nói sự lợi, hại. Xứng lại nghĩ, không tạm nhận [thành], sợ thêm khó, nhân cũng gượng dậy, nghe theo. Nhưng [lại] bàn [chỉ] do Bá nhận một mình, mà [cũng] cùng kí tên [thông] tư cho Hoàng Tá Viêm, Nguyễn Chính [:Chánh] cùng các tỉnh láng giềng: Xem thế có thể thừa cơ được, nên làm [:đánh] ngay thì làm [:đánh], chớ lấy [việc] nhận thành làm ngại. Và đem việc ấy nhận tội, tâu lên). Nhưng quân Pháp vẫn đóng giữ ở hành cung” (9).

Sau đó khoảng 3 tháng, hậu quả của sự kiện thất thủ thành Hà Nội lại được Thực lục chép rõ: “Tháng 5, vua sai bắt trói ngay quan tỉnh Hà Nội (tuần phủ Hoàng Hữu Xứng, bố chính Phan Văn Tuyển, án sát Tôn Thất Bá, đề đốc Lê Văn Trinh, chánh lãnh binh Hồ Như Phong, phó lãnh binh Nguyễn Đình Đường, Lê Trực) về kinh đợi án. Vua dụ rằng: Vừa rồi Hà Thành có việc, Hoàng Diệu quyết chí cố giữ, thà chết không hai lòng. Các quan chính nên cố sức làm việc đến chết, mới hợp nghĩa hiến thân cho nước. Thế mà hết lòng trung, chết vì tiết nghĩa, chỉ có một mình Hoàng Diệu. Bọn [quan võ] Lê Văn Trinh [, Hồ Như Phong, Nguyễn Đình Đường, Lê Trực] đều là quan to một tỉnh, sợ chết, tham sống, bỏ thành chạy trốn. Phan Văn Tuyển lại trốn trước, đến Sơn Tây, thì hèn nhát, không tài quá lắm. Hoàng Hữu Xứng tuy không ra khỏi thành nhưng không biết sống thác với thành. Tôn Thất Bá ra ngoài thành thương thuyết lại cùng với chúng dần dà trốn khéo. Quan giữ đất đai, gặp khi hoạn nạn, há nên như thế! [Tất cả] đều phải [bị] cách chức trước, trói giải ngay về kinh, xét rõ, để tỏ rõ phép luật. Còn quản suất giữ thành và quan phủ huyện, thông phán, kinh lịch giao cả cho đốc phủ mới xét rõ, tâu lên. (Sau đến năm Tự Đức thứ 36, tháng 11, nghị chuẩn cho Diệu được bày thờ ở Đền Trung Nghĩa. Bọn Xứng đều cách chức cho làm việc chuộc tội (sau đều cho khai phục), Tuyển phải cách chức về quê chịu sai dịch)” (10).

Xin nhấn mạnh: Thực lục thuộc kỉ Kiến Phúc, ở mục tháng 11 nguyệt lịch năm Quý Mùi (1883), cũng ghi rõ như thế, với lí do “vì cớ lần ấy đường lối chiến hay hoà chưa xác định, tình hình diễn biến quá bất ngờ, việc phòng thủ có khó khăn, nên ra đặc ân giảm tội đến mức thấp nhất”. Theo đó, Hoàng Hữu Xứng cùng với những viên quan đồng sự đều chỉ bị “phái đi hiệu lực”, tức là chịu sai đi làm việc chuộc tội (11).

Đây là sự kiện mà sử sách hiện nay vẫn còn khắc hoạ ra hai Hoàng Hữu Xứng khác nhau. Một, theo cách của Ba Giai. Hai, ông vẫn giữ được khí tiết của một vị quan yêu nước (mắng giặc khi đã thua trận, sa cơ), có trách nhiệm, tuân thủ quân luật bấy giờ (không bỏ thành, tuyệt thực) nhưng biết linh hoạt ứng biến với tình hình (ông gửi thư cho Hoàng Tá Viêm: “xem thế có thể thừa cơ được, nên làm ngay [đánh Pháp ngay tại thành Hà Nội] thì làm [tức là cứ đánh], chớ lấy [việc] nhận thành làm ngại [vì có ông trong thành, ông có thể bị đạn quân ta bắn trúng]”). Tuy vậy, Quốc sử quán vẫn chép lại nguyên văn lời dụ của vua Tự Đức với ngôn từ rất mực hoàng đế phong kiến, với dụng ý răn đe mọi quan quân khác, hơn là lời lẽ đúng mực của tập thể thẩm phán (triều nghị) (10 & 11).

  1. Sau khi mất nước (7-1885): nhà soạn sách giữ được lòng yêu nước
  2. Quyết giữ từng tấc đất Tổ quốc trong việc soạn sách địa lí:Trong Thực lục, kỉ Đồng Khánh (1885-1888), có chép lại bản phàm lệ do chính bản thân Hoàng Hữu Xứng viết, với tư cách là đổng lí việc biên soạn “Đại Nam cương giới vựng biên”. Trong đó, có đoạn thể hiện rõ ý thức giữ gìn từng tấc đất của Tổ quốc, kể cả những vùng đất bị Trung Hoa chiếm lấy dưới các triều Hồ và Mạc, đặc biệt là Nam Kỳ từ 1862, 1867: “Sáu tỉnh Nam Kỳ xin phải chép cả vào trong khoản chép tổng quát, và chép riêng biệt để cho còn danh hiệu” (12). Ông muốn lưu lại chứng cứ để về sau khôi phục lại chủ quyền, chứ không cam đành mất hẳn cho Trung Hoa và Pháp. Ngoài ra, trong sách về cương giới ấy, còn có một bản đồ.(Bản đồ nầy có một phó bản hiện được ông Hoàng Thạch Thiết,hậu duệ họ Hoàng đời 17,đích tôn của cụ Hoàng Hữu Xứng- bảo quản tại nhà riêng ở Thành Phố Hồ Chí Minh theo chế độ trách nhiệm của dòng trưởng.Đặc biệt trên bản đồ , chủ quyền về quần đảo Hoàng Sa đã được xác lập dưới địa danh Hoàng Sa Thổ.Có thể xem ảnh chụp lại bản đồ được giới thiệu ở cột NHÂN VẬT của trang web họ Hoàng.)
  3. Trung thực trong quá trình biên soạn Thực lụcvới phương thức tập thể: Là một toản tu, rồi là phó tổng tài trong ba vị phó, dưới quyền của một tổng tài khác, thuộc tập thể sử quan vài ba chục người (các tập thể này trải quan nhiều thời kì, có thay đổi), Hoàng Hữu Xứng vẫn hiện diện trong Thực lụcđúng mức như hành trạng thực trong đời làm quan của mình. Như đã nói, chính nhờ phương thức biên soạn tập thể, có bàn luận, tranh cãi, để đi đến nhất trí từng chi tiết, từng câu chữ khi biên soạn Thực lục, nên Thực lục có thể xứng đáng để được gọi là tín sử. Trong bài viết trước, tôi đã nghĩ rằng, giữa tài điều tra hình án (tài Bao Công), đức tính thanh liêm, năng lực học vấn, vai trò chứng nhân lịch sử với công việc ghi chép sử kí của Hoàng Hữu Xứng, hẳn có một mối quan hệ rất hữu cơ. Tôi cũng đã viết: Khi là nhà chép sử, mặc dù dưới bóng tối thực dân Pháp, ông vẫn giữ được vẹn nguyên tinh thần chống Pháp, chống Trung Hoa (nhà Thanh) và đặc biệt là tôn trọng sự thật lịch sử. Đến nay, hậu thế có thể đọc thấy cái tâm ấy bên trong, đằng sau những dòng chữ của Quốc sử quán triều Nguyễn thời Hoàng Hữu Xứng, mặc dù đó là công trình của nhiều tập thể sử quan trải qua nhiều thời kì, với phương thức làm việc nghiêm ngặt, cân nhắc từng câu chữ (đến mức không những thực dân Pháp, mà ngay cả hoàng thân, hoàng đế cũng bị phê phán nếu có hành vi sai trái). Nói cho cùng, Hoàng Hữu Xứng và Quốc sử quán ít nhất là đã có công lao to lớn trong việc ghi chép lại các bản dụ, cáo, bản án, tấu, sớ vốn có giá trị xác tín rất cao, cao nhất, trong công việc khảo chứng tư liệu lịch sử, mà không bộ sử nào có thể so sánh được. Đối với hậu thế chúng ta, dĩ nhiên, cũng cần có các thao tác xới lật cần thiết với quan điểm khoa học, dân tộc nhất khi sử dụng bộ sử kí ấy, đặc biệt là các kỉ ấy (13).

(Trần Xuân An  –  9:50 — 15:06, 22-02 HB11 (2011).

(*) Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam thực lục, chính biên” (ĐNTL.CB.), kỉ Tự Đức, kỉ Kiến Phúc và kỉ Đồng Khánh, bản dịch Viện Sử học, Nxb. KHXH., 1973-1976, 1976, 1977-1978.

(1) đến (12): (1) Kỉ Tự Đức, tập 34, sđd., tr. 275-276; (2) Tập 31, sđd., tr. 333; (3) Tập 33, sđd., 1975, tr. 284; (4) & (5) Tập 29, sđd., tr. 48, 245 & 293; (6) Tập 33, sđd., tr. 68-70. Xem: Trần Xuân An, ““Ngọc đá đều cháy”, chủ trương tạm thời trong vụ trấn áp cuộc nội chiến lương – giáo ở Thanh – Nghệ – Tĩnh – Bình vào năm 1874”, Tạp chí Xưa & Nay trích đăng, số 284, tháng 5-2007, tr.42; (7) Tập 32, sđd., tr. 276; (8) Tập 35, sđd., tr. 100-101; (9), (10) & (11) Tập 35, sđd., tr. 108-109, tr. 128; kỉ Kiến Phúc, tập 36, sđd., tr. 33; (12) Kỉ Đồng Khánh, tập 37, sđd., 1977, tr. 217-220.

(13) Xem thêm: Trần Xuân An, “Hoàng Hữu Xứng (1831-1905), hành trạng biên niên”, bài khảo luận, chưa đăng tải, xuất bản.

———–oOo————

Trước khi bước vào lãnh vực nghiên cứu lịch sử. Trần Xuân An đã là nhà thơ. Tập thơ thứ 11 của ông nhan đề là: Thơ Sử và những bài thơ khác. Trong tập thơ này ông đã dành một phần quan trọng để ghi lại những cảm xúc của nhà sử học đối với đất nước, con người của quê hương Quảng Trị trong đó có nhân vật lịch sử Hoàng Hữu Xứng.

Bài 30
Trần Xuân An

HOÀNG HỮU XỨNG (1831-1905)

Ông mắng giặc Tây và tuyệt thực
về kinh lầm lũi trước ngai rồng
vận suy thế nước nhoà mê tỉnh
(giặc đánh, thép trui lẫn mật hồng!)

Nước mất, Ông lặng thầm chép sử 
quản chi xuôi ngược, cứ gom đầy
muôn đời mặt nước là công lí
phun ngược đổ xuôi vẫn thẳng ngay

Chống Pháp, Pháp đày, sử gọi giặc
nghìn sau hậu thế sẽ tôn vinh
(dăm đời nhân vật đành lem nhọ
sử thắt tâm Ông như cực hình!)

Yêu sử, Ông đau thời khuyết sử
cam làm nghịch sử, khỏi hư không
nhưng ai đảo được cân công lí
Sử quán giữ tâm – tâm ẩn trong.

                                                     TXA.

Tran Xuan An

Nhà nghiên cứu sử học Trần Xuân An

Bài 5

Đnqcgvb

Bản đồ và sách ĐNQCGVB

SÁCH MỚI:

HOÀNG HỮU XỨNG

  ĐẠI NAM QUỐC CƯƠNG GIỚI VỰNG BIÊN

___________________________________

  • Đại Nam quốc cương giới vụng biên  (ĐNQCGVB) là sách của tác giả Hoàng Hữu Xứng.Ts Vũ Thị Lan Anh và Ts Vũ Việt Bằng dịch theo tài liệu gốc bản chữ Hán do Viện Sử học,Viện Hàn Lâm KHXH Việt Nam cung cấp.

Nhà Xuất bản Hà Nội và Cty Cồ phần Tri thức Văn Hóa Sách Việt Nam   (VINABOOK JSC) phát hành tháng 9-2020.

                                                     HOÀNG HỮU XỨNG -(1831-1905)

Tự Bình Như,hiệu Song Bích,nguyên quán làng Bích Khê huyện Triệu Phong tình Quảng Trị. Ông đậu Cử nhân năm Canh Tý (1852) thời Tự Đức,được vua nhận xét là “ con tuấn mã trong hàng cử nhân” và là người có “ học lực hơi rộng”.Ông làm quan liên tục trong 40 năm (1860-1900),trải qua  7 triều vua. Năm 1882 được bổ nhiệm làm Tuần phủ thành Hà Nội.Sau vụ thành Hà Nội thất thủ  (1),ông bị triều đình cách chức,đưa đi coi việc sơn phòng ở Quảng Trị về sau mới dần dần phục chức, làm Thượng thư bộ Công rồiThượng thư Bộ Lễ-Hiệp biện Đại học sĩ và Phó Tổng tài Quốc sử quán,sung Kinh Diên giảng quan  .Tháng 10 năm 1886 dưới triều vua Đồng Khánh,ông được triều đình giao chức Đổng lý chủ trì biên soạn sách Đại Nam quốc cương giới vựng biên.(Vựng biên nghĩa là biên soạn tổng hợp). Ông cùng các cộng sự đã nổ lực sưu tầm,tổng hợp và đối chiếu thực địa để viết mới bổ sung.Đến ngày 1.5.1887 thì hoàn thành công trình này.

Trước đó ông đã tham gia biên soạn bộ Đại Nam thực lục và quyển Cung kỹ luận âm.

                                                     ĐẠI NAM QUỐC CƯƠNG GIỚI VỰNG BIÊN.

Bộ sách gồm 7 quyển ghi chép về địa lý toàn quốc từ Bắc tới Nam.Lúc bấy giờ thực dân Pháp đã chiếm xong Nam kỳ lục tỉnh và bắt đầu thiết lập chế độ cai trị.Các nước Lào,Cao Miên,Xiêm La ở phía Tây và Trung Hoa ở phía Bắc thường có những sự kiện tranh chấp biên giới phức tạp với Đại Nam .Vì vậy,nội dung chủ yếu và mục đích yêu cầu của việc biên sọan sách này của ĐNQCGVB là phân định biên giới đất liền giữa nước ta và các nước láng giềng nói trên.Cả những vùng đất từng bị nhà Minh,nhà Thanh chiếm đoạt ở biên giới phía Bắc và Nam kỳ lục tỉnh thuộc quyền cai trị của Pháp cũng được ghi chép kỹ càng với tinh thần bảo tồn sự toàn vẹn lãnh thổ cho đời sau.Riêng những địa phương không có đường biên giới chung với nước nào khác thì sách chỉ ghi chép tổng quát.Lúc bấy giờ  tuy chưa có vấn đề tranh chấp chủ quyền về biển đảo nhưng trên bản toàn đồ đi kèm bộ sách cũng đã xuất hiện  hình ảnh một số hải đảo và những địa danh như Hoàng Sa khẩu,Vạn lý Trường Sa…Để rộng đường tham khảo,mỗi địa phương đều được giới thiệu với phần mở đầu là Diên cách địa danh nói về quá trình thay cũ đổi mới trong tên gọi các vùng đất quan trọng của địa phương đó.Việc nghiên cứu địa hình địa vật trên biên giới đất liền còn có ý nghĩa chiến lược quốc phòng đối với triền Nguyễn nhất là trước nguy cơ xâm lược của giặc Pháp.Vào thời kỳ hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết nắm giữ triều chính,chiến lược sơn phòng được bí mật tăng cường nhằm xây dựng căn cứ chống Pháp ở vùng Tân Sở-Quảng Trị. Trong  ĐNQCGVB còn có phần khảo cứu riêng về sông Khung (tức sông Mê Kông hay sông Cửu Long) và về cột đồng Mã Viện khá công phu và thú vị.

Ngoài phần biên soạn bằng chữ,sách còn kèm nhiều bản đồ của các địa phương và một bức toàn đồ.Nhưng theo ghi chú ở chân trang 10, (bản dịch của Ts Vũ Thị Lan Anh và Ts Vũ Việt Bằng) thì “ Bản chữ Hán ghi là có bản đồ nhưng không thấy bản đồ in kèm”.Như thế số bản đồ kèm với bản gốc của bộ sách sách dâng nộp lên triều đình đã thất lạc.

Rất may là hiện nay hậu  duệ của họ Hoàng –Bích khê ở TPHCM vẫn còn giữ được một bản toàn đồ của ĐNQCGVB.Có lẽ đây là một phó bản mà cụ Xứng làm thêm để đề phòng khi bản chính bị thất lạc.Bản phó này có kích cỡ 40 cm x110cm được  nhiều đời con cháu họ Hoàng bảo quản khá tốt hơn 100 năm nay.Ngoài vài chỗ chữ Hán bị rách nát,hình ảnh toàn đồ vẫn nguyên vẹn.Phần lớn chữ Hán ghi chú còn có thể đọc được bằng mắt thường.

Tôi- (người viết bài này)  cũng là hậu duệ của cụ Xứng.Sau khi sách ĐNQCGVB được phát hành chúng tôi đã mua ngay một số bản để gửi cho bà con họ Hoàng ở trong và ngoài nước.Chúng tôi cũng đã gửi thư trân trọng bày tỏ lòng biết ơn  hai dịch giả là Ts Vũ Thị Lan Anh và Ts Vũ Việt Bằng .Đồng thời chúng tôi đã gửi cho hai dịch giả ảnh sao chụp lại bức toàn đồ nói trên để làm tài liệu tham khảo hoặc sử dụng khi cần.

                                   HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN

( Bài đã đăng tạp chí Hồn Việt của Trung Tâm Nghiên cứu Quốc học và Hội Nhà Văn Việt Nam năm tháng 10 năm 2020)

 CHÚ THÍCH.-

(1).- Trong cuộc đời làm quan của ngài Hoàng Hữu Xứng có sự kiện Hà thành thất thủ,không thể không nhắc đến.Vào đầu năm 1882, thấy quân Pháp chuẩn bị đánh thành Hà Nội lần thứ hai, Hoàng Hữu Xứng đã cùng Tổng đốc Hoàng Diệu mật tâu lên vua Tự Đức một “kế sách dự phòng” để giữ vững lãnh thổ Bắc Kỳ. Nhà vua nghe theo và cho thi hành kế sách phòng thủ đó Tuy nhiên, vì hai bên quá chênh lệch về mặt vũ khí đạn dược cho nên thành Hà Nội thất thủ ( Trong một bức tranh vẽ cảnh chiến sự trên mặt thành Hà Nội do một họa sĩ Pháp vẽ,cho thấy trong lực lượng quân Pháp đánh chiến Hà Nội lúc bấy giờ còn có đến 2 khinh khí cầu quân sự).Tổng đốc Hoàng Diệu tuẩn tiết. Các quan văn võ khác bỏ thành mà chạy,thậm chí có người đã bí mật theo giặc,làm phản,đốt kho thuốc súng khiến quân ta trắng tay.Riêng Tuần  phủ Hoàng Hữu Xứng  trên đường vào hành cung tìm Hoàng Diệu thì bị giặc bắt.Ông chửi mắng  giặc rồi tuyệt thực và khước từ mọi hành động mua chuộc của Pháp.Sau đó triều đình Huế sai khâm mạng Trần Đình Túc mang chỉ dụ của vua Tự Đức bảo ông đình chỉ tuyệt thực để lo việc Hà Nội sau khi thất thủ rồi về kinh chịu tội.

     Việc ông tuyệt thực rồi ăn lại đã bị Nguyễn Văn Giai (tức Ba Giai-Tú Xuất?) làm thơ chê bai nặng lời trong  hai bài thơ Hà thành chính khíHà thành thất thủ.Tuy nhiên sau này các nhà nghiên cứu sử học nghiêm túc như Phan Khoang,Phạm Văn Sơn,Phan Thuận An,Trần Xuân An,Trần Văn Tích….đã dựa vào chính sử,ghi nhận rằng Hoàng Hữu Xứng đã tích cực bám trụ và chỉ huy chiến đấu đến phút cuối chứ không hề bỏ thành chạy trốn như nhiều quan văn võ khác.Ông đình chỉ tuyệt thực là theo mệnh lệnh của triều đình.Chúng tôi là hậu duệ họ Hoàng xin ghi nhận tất cả những lời khen chê ấy với sự tỉnh táo và tinh thần thực sự cầu thị để chia sẻ vinh nhục cùng tiền nhân.Và chúng tôi hy vọng có thể nói rõ vấn đề này trong một dịp khác.( HPNP)

Bản đồ ĐNQCGVB -ảnh chụp từ bản gốc

Vnmap

Bản đồ ĐNQCGVB – (ảnh chụp từ bản gốc)

 

Thachquan

Bàn giao bản đồ

    Bản đồ ĐNQCGVB,(bản gốc) đã được bàn giao cho Ts. HOÀNG THẠCH QUÂN (Đ18) con trai ông Hoàng Thạch Thiết vào sáng ngày 13-5-2023 tại khu tiểu nghĩa trang gia đình trong vườn nhà ông Hoàng Phủ Ngọc Phan ở TPHCM.Việc bảo quản bản đồ này từ nay do ông Hoàng Thạch Quân chịu trách nhiệm.

HPNP.

 

Bài 6

VỀ MỘT BẢN ĐỒ  BỊ NHẬN LẦM LÀ

 CỦA TÁC GIẢ HOÀNG HỮU XỨNG

(Tài liệu tham khảo_)

__________________________________________________

    

                             Bài của Phạm Hoàng Quân

Thứ Tư, Ngày 24 tháng 2-2010

LTS: Phạm Hoàng Quân là tác giả một số bài viết về cổ sử Trung quốc liên quan đến biển Đông, lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu. Phạm Hoàng Quân hiện sống và làm việc tại Sàigòn.

TCHL

Sau khi đọc bài viết “Phát hiện một bản đồ cổ Việt Nam ”[1][1] của tác giả Nguyễn Đình Đầu [NĐĐ] chúng tôi thấy có nhiều điểm bất ổn. Vì điều kiện khách quan chưa thể xác định vấn đề một cách chắc chắn, nên bài viết này xem như cùng với độc giả, cùng với H. E. Meinheit và ông NĐĐ thảo luận và tìm hiểu thêm. Độc giả nên đọc lại bài viết của ông NĐĐ trước khi đọc bài viết này, vì chúng tôi hạn chế trích dẫn lại.

Hình 1.

* Tóm lược về thời điểm và nội dung sự việc:

  • Năm 1982, Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ mua được một bản đồ nền giấy vẽ màu, địa danh viết bằng chữ Hán, có tên “Việt Nam Toàn tỉnh dư đồ” [VNTTDĐ] (Hình 1)[2][2]. Người bán bản đồ này là một nhà buôn đồ cổ có tiếng người Mỹ, người bán không cho thông tin liên quan và cũng không rõ xuất xứ của bản đồ.

Mùa đông năm 2008, tập san The Portolan – cơ quan của Hội bản đồ Washington [Washington Map Society] – đăng bài viết của Harold E. Meinheit, nội dung bài viết này giới thiệu bức VNTTDĐ và kết quả nghiên cứu bản đồ này.

  • Tháng Giêng năm 2009, H. E. Meinheit và Howard Lange [chủ tịch Washington Map Society] gởi thư đề nghị ông NĐĐ cho ý kiến về bài viết của Meinheit, đồng thời gợi ý ông NĐĐ nghiên cứu tiếp để giải quyết vài thắc mắc của Meinheit.
  • Tháng 3. 2009, tạp chí “Xưa và Nay” – cơ quan của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam – số 328 đăng bài nghiên cứu của ông NĐĐ.
  • Ngày 31 tháng 3.2009, Talawas đăng lại bài “Phát hiện một bản đồ cổ Việt Nam” trên “Xưa và Nay”, số 328.

Bài viết của ông NĐĐ có 2 ý lớn: 1/. Giới thiệu tóm tắt công trình nghiên cứu của H. E. Meinheit; 2/. Giải tỏa được thắc mắc của Meinheit qua việc xác định được người soạn/vẽ VNTTDĐ là Hoàng Hữu Xứng, và năm hoàn thành là 1887.

Việc nhận xét, kết luận về VNTTDĐ, ngoài tính chất giám định một hiện vật cổ, còn mang một ý nghĩa khác thuộc lĩnh vực học thuật chuyên ngành lịch sử địa lý. Cổ vật (tạm gọi) này là một bản đồ hành chánh liên quan đến lịch sử địa lý Việt Nam nên việc kết luận cần phải hết sức cẩn thận. Sau khi đọc bài viết của ông NĐĐ, chúng tôi thấy những lập luận trong nghiên cứu còn nhiều điểm sơ hở và kết luận hơi vội. Trước khi đặt nghi vấn, chúng tôi sẽ khát quát về cơ sở nghi vấn. Để tiện theo dõi, tạm thời chia cơ sở nghi vấn làm 3 phần: xem địa đồ, đọc địa đồ, nghiên cứu địa đồ.

Cơ sở 1- Xem địa đồ [được cho là] cổ

[coi, quan sát] địa đồ nhằm mục đích xác định thật – giả, mới – cũ. Địa đồ cổ/cũ phổ biến có 2 loại: loại in và loại vẽ. Đây chỉ nói riêng về loại địa đồ vẽ (ứng với VNTTDĐ).

Đối với địa đồ không rõ xuất xứ việc coi địa đồ đặc biệt quan trọng, tất cả những yếu tố thuộc hình thái vật chất của địa đồ và hình thức biển hiện/ diễn tả trên mặt địa đồ đều phải được xem xét tỉ mỉ.

  1. Thuộc về hình thái vật chất, xem xét các yếu tố: Giấy, mực, màu vẽ [loại, kích thước, nơi sản xuất, năm sản xuất]. Các yếu tố này – ngoài cảm tính và kinh nghiệm của giám định viên – có khi cần phải có sự hỗ trợ bởi phương tiện kỹ thuật
  2. Thuộc về hình thức biểu hiện, xem xét về bút pháp hội họa [tinh, thô, hợp thể hay ngoại lệ…], con dấu, ký hiệu hoặc ghi chép bên lề…, về những mâu thuẫn nếu có.

Nghiên cứu của Meinheit, qua giới thiệu tóm tắt của ông NĐĐ không cho thấy những chi tiết cần thiết thuộc phần giám định hiện vật như nêu trên. Mặt khác, trong phần nghiên cứu thêm của mình. Ông NĐĐ có viết: “Bản đồ VNTTDĐ được vẽ bằng bút lông và mực tàu, trên giấy bản dài 152cm rộng 98cm. Truyền thống xưa nay của Trung Hoa và Việt Nam chưa vẽ bản đồ nào to lớn như vậy”. Đoạn văn này, giá trị thông tin rất kém, lại sai ở nhiều điểm:

Một là, địa đồ rõ ràng được thực hiện với thành phần chính là màu nước [không phải mực tàu], loại màu sắc thấy được trên địa đồ có thể là màu nước [thủy thái]; mực màu thỏi [ngũ thái mặc] màu nước của Tây phương [water colors]. (vì chỉ nhìn VNTTDĐ qua file ảnh và bìa tạp chí Xưa và Nay, nên ở điểm này chúng tôi không xác định cụ thể được)

Hai là, giấy Bản mỏng hơn giấy Dó, thường chỉ dùng vào việc in sách, cả giấy Bản và giấy Dó đều có chiều rộng không quá 50cm [giới hạn này tương ứng với chiều rộng 1 cánh tay của người thợ làm giấy], kích thước lớn nhất của giấy Dó và giấy Bản không vượt quá 120cm x 50cm. Địa đồ VNTTDĐ có kích thước 152 x 98 cm, nếu được vẽ trên nền giấy Bản hoặc giấy Dó cần phải thông tin thêm “được ráp bởi mấy mảnh”, và cả tình trạng biểu, bồi,…

Ba là, [điểm sai này không thuộc kỹ thuật khảo tả mà thuộc về ý thức/tư tưởng phóng túng trong nghiên cứu] sai trong nhận định “Truyền thống xưa nay của Trung Hoa và Việt Nam chưa vẽ bản đồ nào to lớn như vậy”.

Xin đưa một trong nhiều thông tin rất cũ:

“Năm 1685 (Khang Hi 24), quan chức ở Quảng Châu hoàn thành bức “Quảng Đông tổng đồ”, vẽ màu trên nền lụa, kích thước 295 cm x 196 cm.” [3][3]

Nói chung, việc xem xét cẩn thận về hình thái vật chất của địa đồ chỉ có thể thực hiện khi trực tiếp nhìn, cầm, sờ vào hiện vật, và việc này chúng tôi chỉ nêu ra để độc giả lưu ý nếu có điều kiện tiếp xúc VNTTDĐ.

Cơ sở 2 – Đọc địa đồ

Đọc địa đồ, hay nói cách khác là xem xét về nội dung mà địa đồ thể hiện, [việc này có thể tiến hành trên ảnh chụp]. Đối với địa đồ cổ/cũ không ghi năm thực hiện, việc đọc kỹ các địa danh hành chánh giúp xác định niên đại của địa đồ một cách tương đối, các loại tên gọi khác được ghi nhận trên địa đồ, như tên núi, sông, thành, trấn, lị sở, đồn, ải, chùa, miếu, hồ, đầm, cửa biển, hải đảo… cũng là những chi tiết góp thêm thông tin để xác định niên đại. Nói chung, muốn tiến hành nghiên cứu một địa đồ cổ hoặc ứng dụng địa đồ cổ vào công trình nghiên cứu đều phải đọc, dịch, chú giải hệ thống địa danh, hoặc cục bộ, hoặc toàn phần, tùy theo mục đích công việc.

Không đọc kỹ nội dung địa đồ sẽ đưa đến những sai lầm kỳ cục, thậm chí hỏng cả bài nghiên cứu. Dưới đây dẫn ra vài trường hợp sai nặng/nhẹ để tham khảo.

  1. Địa đồ Thành Thăng Long đời Lê được Pierre Huard đưa vào sách với chú thích: “Citadelle de l’epoque Ts’ing” (thành trì thời nhà Thanh) – hình 2.[4][4]

Hình 2.

  1. Địa đồ trong Hải Quốc đồ chí của Ngụy Nguyên (Thanh, TQ) được ông Nguyễn Hồng Thao dùng minh họa cho bài viết và dẫn giải rằng trong đó có nêu địa danh “Bãi Cát Vàng” mà Lê Quý Đôn đã nói đến trong Phủ biên tạp lục[5][5]. (Hình 3)
  2. Một trích đoạn Trịnh Hòa hàng hải đồ được ông NĐĐ minh họa cho bài viết và bảo “các đảo nằm trong đó đều thuộc chủ quyền Giao Chỉ quốc tức nước Đại Việt ta”, xem kỹ lại thì các đảo ông NĐĐ cần nói lại nằm ở đoạn khác của địa đồ, tức là bóc nhầm đoạn địa đồ không có liên quan gì đến phần lý luận để minh họa[6][6].

Hình 3.

  1. An Nam đồ được vẽ bởi người Trung Quốc đời Minh, nơi một cửa biển viết “Tiểu Trường Sa Hải Khẩu” được ông Ngô Đức Thọ đọc là “Tiểu Nữ Bối Hải Khẩu”, rồi trên cơ sở cái ‘nữ bối’ mà lập luận, rốt cuộc hỏng cả bài viết.[7][7]

Ở ba trường hợp a, b và c người viết dùng địa đồ để minh họa hoặc củng cố lập luận, việc đọc không kỹ dẫn đến ảnh hưởng một phần bài nghiên cứu. Trong trường hợp d, địa đồ là đối tượng chủ thể để nghiên cứu, việc đọc sai và phát triển suy luận trên nền tảng sai nên toàn bộ bài viết bị gãy đổ.

Cơ sở 3 – Nghiên cứu địa đồ cổ

Sau khi đã xác định chắc chắn địa đồ đang xét là địa đồ cổ, việc nghiên cứu giúp xác định thêm các yếu tố về niên đại, về tác giả hoặc nơi thực hiện. Công việc này thông thường là lấy độ tuổi được phỏng định của địa đồ cho vào giai đoạn lịch sử cụ thể để tạo cho địa đồ một lý lịch, vì địa đồ cổ tương quan mật thiết với lịch sử, lịch sử địa lý nên thường được đối chiếu hoặc gắn kết với lịch sử, lập luận hợp lý sẽ tăng tính thuyết phục. Việc nghiên cứu cũng góp phần phân định cấp độ giá trị của địa đồ. Tỉ như, địa đồ hành chánh mà được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách như Sử quán, bộ Công, bộ Binh thì giá trị cổ vật và giá trị tham khảo cao hơn so với địa đồ được thực hiện bởi một người dân thường. Tuy nhiên, để tránh trường hợp địa đồ được làm giả cổ bởi một người giỏi về lịch sử địa lý và kỹ thuật họa đồ, người ta thường phải phối hợp xem xét trên cả 3 cơ sở, và giá trị tham khảo của cả 3 cơ sở này đều được coi trọng.

  1. Các điểm cần xét lại

Trên đây là những cơ sở cơ bản có thể dựa vào để đi đến những nghi vấn về kết quả nghiên cứu VNTTDĐ của H. E. Meinheit và ông NĐĐ, như sau:

  1. Dựa vào cơ sở 1.b, thấy “VNTTDĐ” thiếu hẳn hệ thống đường giao thông, trong đó gồm đường thiên lý từ Bắc chí Nam và các đường phân nhánh đi các nơi. Tham khảo vài địa đồ thời Minh Mạng như “Đại Nam Nhất Thống toàn đồ” (1840); “Đại Nam toàn đồ” (1838), thì thấy rằng, mặc dù kích thước các địa đồ này rất nhỏ vẫn thể hiện khá rõ ràng hệ thống giao thông đường bộ…
  2. VNTTDĐ cũng thiếu nhiều đảo lớn ven bờ và quần đảo xa bờ. Ở điểm này, ông NĐĐ lý giải là “bản đồ vẽ chưa xong”, chúng tôi cho là vẽ thiếu, vì kỹ thuật màu nước không cho phép chồng màu [nhằm thể hiện một vật thể khác] lên màu nền, ở VNTTDĐ, màu nền thể hiện mặt biển đã hoàn chỉnh, nếu ý đồ của người vẽ có định thể hiện các đảo, họ sẽ phải chừa khoảng trắng của nền giấy ở nơi cần thiết, hoặc sẽ đi một nét viền để định hình vật thể ấy. Còn một lý do nữa để khẳng định địa đồ không thể “vẽ chưa xong” (sẽ nêu ở phần nghiên cứu địa đồ cổ).
  3. Dựa vào cơ sở 2, thấy các địa danh cực quan trọng, kể cả quốc danh bị viết sai như:

Giao chỉ quốc [giới], đối với những địa điểm thuộc biên giới Đại Thanh và Đại Nam, địa đồ Đại Nam phải ghi Thanh quốc [giới], hoặc cụ thể hơn như Quảng Đông giới, Quảng Tây giới, Vân Nam giới, hoặc cụ thể hơn nữa thì ghi “Hiệp Thanh Quốc Trấn An phủ giới” chẳng hạn. Cách ghi Giao Chỉ quốc nơi địa giới

cho phép suy đoán, tay vẽ địa đồ là người Trung Hoa.

  • Phú Xuân tỉnh: Địa danh hành chánh triều Nguyễn chưa từng có tên đơn vị này, Phú Xuân có thể được ghi là Phú Xuân thành hoặc Phú Xuân kinh, để thay thế chữ Kinh thành, Kinh sư. Tuy nhiên, để biểu thị đơn vị hành chánh ở vùng này phải viết là Thừa Thiên phủ, như cách ghi trên “Đồng Khánh Ngự Lãm địa dư chí đồ”.
  • Việt Nam đô thành ở vị trí hoàng thành Huế, nơi này đúng ra phải được ghi là Kinh sư hoặc Kinh thành. Mặt khác, cách gọi “Việt Nam đô thành” là cách gọi rất lạ (sẽ nói riêng về điểm lạ này). Địa đồ Đồng Khánh (1886 – 1888) phần Thừa Thiên tỉnh, vị trí Hoàng Thành được ghi là Kinh thành.
  • Tên của bức địa đồ “Việt Nam Toàn tỉnh dư đồ” có 2 điểm đáng phải lưu ý:

–         Việt Nam hay Đại Nam , trong thời điểm được ông NĐĐ xác nhận cho VNTTDĐ, tức năm 1887, tên chính thức của nước ta vẫn còn gọi Đại Nam .

–         Theo mô tả của Meinheit thì tên địa đồ được ghi ở sau lưng bằng dòng chữ Hán “Việt Nam toàn tỉnh dư đồ”. Tên một địa đồ, giống như tựa đề một bài viết, giống như tên một quyển sách, là nơi “định danh” cho toàn bộ nội dung được miêu tả, sao lại không ghi ở mặt trước mà lại ghi ở sau lưng? Theo nguyên tắc, ngoài việc phải đề tên địa đồ ở bề mặt địa đồ, còn phải chọn nơi trang trọng nhất để viết dòng chữ này. Qua khảo sát một số địa đồ cổ của Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam thấy có 3 vị trí trên bề mặt địa đồ dành để ghi tên địa đồ.

Một là: Tên địa đồ viết theo chiều dọc, bắt đầu từ góc trên bên phải, tức ứng với dòng thứ nhất theo cách viết văn bản chữ Hán [đại đa số theo cách này].

Hai là: Tên địa đồ viết thành hàng ngang ở trên địa đồ [thiểu số].

Ba là: Tên địa đồ được viết nhiều dòng, tạo thành một khối, đặt ở giữa phần trên của địa đồ [thiểu số].

Tóm lại, do file ảnh chúng tôi sử dụng chất lượng không cao, các địa danh nhỏ rất khó đọc, trên đây chỉ xét tổng quan về hình thể và vài địa danh lớn. Những điểm mà chúng tôi cho rằng thiếusai đối với VNTTDĐ, độc giả đều kiểm chứng được. Có thể đặt một giả thuyết rằng “Việt Nam Toàn tỉnh dư đồ là một địa đồ giả cổ, do một cá nhân nào đó vì mục đích kinh doanh làm ra”.

  1. Dựa vào cơ sở 3, chúng tôi cho rằng việc trích lục dài dòng về sự kiện soạn vẽ Đại Tồng đồ trong “ Đại Nam thực lục” khó có thể là cơ sở để chứng thực VNTTDĐ là do Hoàng Hữu Xứng thực hiện. Xét riêng 2 điểm đáng lưu ý trong phần dẫn chứng của ông NĐĐ, một là, “ Ngày 9 tháng 4 năm Đinh Hợi (1887), sử Thực lục ghi: pho sách cương giới vựng biên đã xong (gồm 7 quyển và 1 bức địa đồ)”; hai là, tờ tâu của Hoàng Hữu Xứng đề ngày mồng 9 tháng 4 năm Đồng Khánh thứ 2 (tức 1-5-1887) báo cáo về việc hoàn thành bộ sách Đại Nam quốc cương giới vựng biên, có kèm một bức Đại Tổng đồ, dâng lên cho vua Đồng Khánh coi. Người đọc dễ bị thu hút bởi sự trùng khớp tư liệu về sự kiện có sự xuất hiện của một bức Đại Tổng đồ, tuy nhiên Thực lục, và Tờ tấu là tư liệu ngoại biên có liên quan với nhau mà không có chi tiết liên quan/dính dáng đến đối tượng đang xét. Như thế nào gọi là tư liệu có dính dáng đến đối tượng? Thí dụ như trong tờ tấu ấy, Hoàng Hữu Xứng viết “Đại Tổng đồ, mà chúng thần soạn/vẽ có chiều dài một thước năm tấc hai phân Tây, chiều rộng chín tấc tám phân Tây, được vẽ màu …” thì đó là chi tiết cho thấy có sự dính dáng đến đối tượng.

Về bức “Đại Tổng đồ” mà Hoàng Hữu Xứng cùng đồng sự ở Quốc Sử quán thực hiện, thực chất là một phụ lục của bộ sách Đại Nam quốc cương giới vựng biên, bức địa đồ này nếu còn, thì tên gọi của nó hẳn sẽ ghi đàng hoàng ở mặt địa đồ, với tên gọi đầy đủ là: Đại Nam quốc cương giới tổng đồ (rất có thể Đại tổng đồ là cách gọi vắn tắt), nói chung là, tên địa đồ phải trùng với tên sách, tức là đúng tính chất/chủ đề của nó. Sớm xác định VNTTDĐ của một nhà buôn đồ cổ nào đó người Mỹ là Đại Tổng đồ của Hoàng Hữu Xứng, nếu như sau này phát hiện được một địa đồ lớn khác có những điểm gần với nội dung bộ sách Đại Nam quốc cương giới vựng biên, thì không biết phải nói sao.

  1. Nghi vấn và giả thuyết

Trở lại vấn đề ghi nhận thiếu và ghi nhận sai trong VNTTDĐ. Hoàng Hữu Xứng với cương vị Đổng lý (tức như nay là Chủ biên) công trình Đại Nam quốc cương giới vựng biên, coi sóc, đọc duyệt việc soạn sách và soạn vẽ đại tổng đồ ở Quốc Sử quán, đây có thể xem là công trình trọng điểm cấp nhà nước. Riêng về việc vẽ địa đồ, Hoàng Hữu Xứng đã cẩn thận tham khảo các địa đồ cũ, mới của nước ta, địa đồ Trung Quốc, địa đồ Tây Phương, lòng lúc nào cũng lo sợ thiếu sót. Công trình làm xong, bốn đại thần ở Viện Cơ mật là Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình, Nguyễn Thuật, Hoàng Hữu Thường đọc và sửa (theo tờ tấu đã dẫn). Kết quả là địa đồ được dâng lên vua Đồng Khánh ghi sai tên Quốc gia, sai tên Thủ đô, đề tên địa đồ sai quy cách, vẽ thiếu đường sá, thiếu hải đảo…!

Trong bài nghiên cứu của ông NĐĐ, chúng tôi thấy ông phân vụ việc riêng lẻ để lý luận, đại khái là cho qua chuyện, như để xác định VNTTDĐ do Hoàng Hữu Xứng soạn vẽ năm 1887, ông NĐĐ dẫn các văn bản năm ấy có việc ấy, rồi xác nhận địa đồ đã vẽ xong dâng lên vua. Đồng thời, để lý giải đối tượng địa lý quan trọng mà VNTTDĐ không thể hiện, thì ông NĐĐ lại đồng quan điểm với Meinheit mà cho là do địa đồ vẽ chưa xong!

Trở lại vấn đề Đại Tổng đồ trong Đại Nam Quốc cương giới vựng biên, sau khi trích dẫn mấy trang trong Đại Nam thực lục và đối chiếu với tờ tấu của Hoàng Hữu Xứng, ông NĐĐ lại trích dẫn Di sản Hán Nôm Việt Nam Thư mục đề yếu, mục đích của ông NĐĐ là để khẳng định sự thất lạc của Đại Tổng đồ. Tuy nhiên, điều đặc biệt quan trọng cần phải trích dẫn đầy đủ thì ông NĐĐ lại bỏ sót, chúng tôi thấy trong thư mục, sách Đại Nam quốc cương giới vựng biên[8][8] được ghi nhận hiện còn 5 bản viết, 7 quyển, 1 phàm lệ, 1 mục lục, 1 biểu dâng sách. Trong 5 bản viết này có 4 bản không đầy đủ, mỗi bản thiếu vài quyển. Ở bản thứ 4 “ký hiệu A. 1342; 104 trang, 29 x 16 (chỉ có quyển 3 và một phần quyển 5, có bản đồ)”. Như vậy, trong bản A-1342, phần nội dung sách tuy mất nhiều nhưng địa đồ vẫn còn, nếu như ông NĐĐ đọc xuống thêm 3 dòng của trang sách đã tham khảo thì địa đồ tưởng mất hóa ra còn. [Hồi cuối năm 2005, tôi có đến Thư viện Viện Hán Nôm (Hà Nội) xin sao chụp một ít sách, trong đó có bản A. 1342, nhưng ông Viện trưởng Trịnh Khắc Mạnh bảo là bản A. 1342 nằm trong số những sách không được tham khảo và sao chụp, tôi bèn thôi, không mơ đến chuyện xem địa đồ ấy nữa].

Như vậy, bức Đại tổng đồĐại Nam thực lục ghi nhận và tờ tấu của Hoàng Hữu Xứng nói đến có thể là bức địa đồ nằm trong sách “Đại nam Quốc cương giới vựng biên”, (bản nay mang ký hiệu A. 1342). Muốn xác định rõ điều này ắt phải cậy cục mấy vị ở Viện Hán Nôm, xin mấy vị ấy xem sơ về sách ấy bản đồ ấy và góp ý thêm với ông NĐĐ.

Về giả thuyết VNTTDĐ là do người Trung Hoa thực hiện, ngoài điểm đã nêu về tên gọi Giao Chỉ, chúng tôi dựa vào cách đề tên địa đồ, tên địa đồ được viết là Việt Nam toàn tỉnh dư đồ, thủ đô thì viết là Việt Nam đô thành – nếu địa đồ này được thực hiện 1887 như ông NĐĐ xác định; hoặc trong khoảng 1830-1875 như Meinheit phỏng đoán – thì cách gọi tên nước Việt Nam là cách gọi của vua quan nhà Thanh đối với nước ta. Trong giai đoạn này, Thanh triều hoặc gọi nước ta là An Nam, hoặc gọi Việt Nam, gọi Việt Nam là dựa vào sự kiện năm 1803, vua Gia Khánh đổi gọi tên này từ tên Nam Việt do vua Gia Long đề nghị, [mặc khác, có lẽ vua quan nhà Thanh dị ứng với tên gọi Đại Nam, mà triều Nguyễn dùng chính thức (đến năm 1945)].

Tham khảo vài địa đồ tập Trung Quốc như Hoàng triều Trung Ngoại nhất thống dư đồ, khắc in năm Đồng Trị thứ 2 (1863), phần hướng nam, quyển 9, ghi tiêu đề là “Việt Nam quốc”, địa đồ cũng viết vậy. Trong Lịch đại địa lý diên cách đồ của Mã Trưng Lân, khắc in năm Đồng Trị thứ 10 (1871), ở các địa đồ thứ 19, 20, 21 tức Quảng Đông toàn đồ, Quảng Tây toàn đồ, Vân Nam toàn đồ, thấy các nơi biên giới Đại Thanh – Đại Nam đều ghi là Việt Nam quốc giới. Địa đồ Đông nam dương các quốc diên cách đồ trong quyển 1, sách Hải quốc đồ chí (1842) của Ngụy Nguyên cũng thấy ghi tên nước ta là Việt Nam ; ở quyển 5, quyển 6 của sách này khi viết về nước ta cũng viết là Việt Nam . Cách ghi tên Việt Nam còn gặp ở nhiều sách và địa đồ khác, có thể kể thêm như: Việt Nam tập lược (1871) của Từ Diên Húc; Việt Nam khảo lược (1877) của Cung Sài; Việt Nam dư địa đồ thuyết (1883) của Lữ Điều Dương …

Trong khi ấy, thư tịch ở nước ta, pho sách liên quan mật thiết với vấn đề đang nói là Đại Nam nhất thống chí, tên sách này thể hiện quốc hiệu chính quy, ở phần Phàm lệ, điều thứ 5, viết: “Trọn cả nước vẽ chung một bản đồ Đại Nam quốc, một bản đồ riêng xứ Trung kỳ ,…” (bản năm Duy Tân thứ 3 – 1910).

Tóm lại, giả thuyết nêu trên căn cứ vào sự bất phù hợp trong cách tự xưng của người nước ta hồi thời Nguyễn [gọi Đại Nam ], và căn cứ vào sự phù hợp với cách gọi/viết của người Trung Hoa hồi đời Thanh [gọi Việt Nam ].

[9][1] Xưa và Nay số 328, tháng 3. 2009, tr. 8-13.

[10][2] Đây là hình đã in trên bìa Tạp chí “Xưa và Nay” số 328. Tuy nhiên, hình này được cấp bằng file từ tòa soạn X&N phía Nam .

[11][3] Quảng Châu lịch sử địa đồ tinh túy, Trung Quốc đại bách khoa toàn thư Xuất bản Xã, Bắc Kinh 2003.

[12][4] China d’hier et d’au Jourd Hui Civilisation–Art–Techniques, Horizons de France, Paris, 1960, p.128.

[13][5] TS Nguyễn Hồng Thao, Sang xứ bò tót tìm dấu tích Hoàng Sa – Trường Sa, TuanVietNam, 01/4/09.

(http://tuanvietnam.net/sang-xu-bo-tot-tim-dau-tich-hoang-sa-truong-sa).

[14][6] Phạm Hoàng Quân, Bàn tiếp về sách “Hoàng Sa – Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam nhìn từ Công pháp quốc tế” của Nguyễn Q. Thắng, Talawas, 30.10.08 (http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14620&rb=0302)

[15][7] Phạm Hoàng Quân, Sai lầm của ông Ngô Đức Thọ trong việc nghiên cứu “An Nam đồ”, Talawas, 23/3/09, (http://www.talawas.org/?p=1334)

[16][8] Di sản Hán Nôm Việt Nam Thư mục đề yếu,tập 1, tr. 496, số thứ tự 863.

http://www.hopluu.net/default.aspx?LangID=38&tabId=494&ArticleID=999 Nguồn trích dẫn (0)

Tìm tag: Bản đồ, Biển Đông, Đông Nam Á

Bản đồ Bị Nhận Lầm

 

      

 

 

 

 

Bài 7

Những chuyện kể về:

BỨC CHÂN DUNG Ngài HOÀNG HỮU XỨNG

Hh Xung 1 1

Đó là bức chân dung ngày xưa vẫn thờ ở Từ đường Chi Nhất.

  1. Ông Cố và anh Chắt

Ngày xưa, cứ mỗi lần kỵ giỗ tại nhà Thờ Chi nhất ở Bích Khê, trước lễ 2 ngày từ đường đã mở cửa. Thường trực trông coi từ đường dạo ấy là một người vẫn được bà con dòng họ quen gọi là “anh Chắt”. Là “Chắt nội đích” của cụ Hiệp, nên thứ hệ gia tộc được biến thành tên gọi luôn cho tiện, chứ tên khai sinh của anh là Hoàng hữu Tăng, con đầu của ông Hồng Lãng Hoàng hữu Trảng. Anh Chắt sinh ngày 11 tháng 10 Canh Tí (1900) và mất ngày 8-10-Ất Dậu (1945) có mộ xây tại Bàu Choi Bích Khê. Tính đến nay, nếu còn tồn tại, anh vừa đúng trăm tuổi.

Nhờ bàn tay “tài hoa” của anh Chắt mà mọi khí tự của từ đường chi nhất luôn sạch sẽ, bóng lộn, ngăn nắp. Từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới không hề có rác rến, mạng nhện. Mỗi khi có giỗ, nhất là từ đường được anh Chắt chăm sóc hết sức chu đáo; mọi người ai cũng tấm tắc khen Anh là hiếu thảo với tổ tiên.

Hồi mới lên năm, sau một trận đau nặng, tai anh từ đó không còn nghe được, do vậy, anh phát âm không được chuẩn xác và chỉ nói vói những tiếng mà anh đã biết đến khi anh bị đau. Tuy thiếu từ vựng để diễn đạt nhưng mọi người vẫn hiểu được Anh vì anh còn khả năng diễn tả bằng 2 bàn tay nữa. Trong từ đường, anh đặc biệt chăm sóc bức chân dung của ông Cố. Thỉnh thoảng, người ta bắt gặp Anh đứng trầm ngâm trước bức chân dung. Có khi xa xa ngắm nhìn, có khi ghé sát mắt xem xét rất kỹ lưỡng từng chi tiết.

Bức chân dung của Cụ Hiệp được vẽ bằng phẩm màu (Aquarelle), với kích cỡ 60x80cm. Khung chạm trổ hoa văn nổi, thếp vàng trên nền đen. Ảnh được lồng kính đàng hoàng góc dưới cung bên phải bức chân dung có mấy chữ Hán nhỏ viết theo chiều dọc, có dấu triện son vuông nhỏ đóng ỏ cuối dòng chữ. Đó là tên và con dấu riêng của tác giả là Cụ Nguyễn Khắc Nhân, biệt danh là Ký Vẽ, một họa sĩ truyền thần, cận thần của Vua Thành Thái.

  1. Về Cụ Nguyễn Khắc Nhân – tác giả bức chân dung

Cụ Nguyễn Khắc Nhân là thân phụ của bốn anh em họa sĩ lừng danh cố đô Huế một thời: Phi Hổ, Phi Long, Phi Hùng và Phi Phụng (Maria Mộng Hoa). Cụ Nhân gốc ở Thanh Hóa. Cụ Nguyễn Khắc Nhân vốn là bạn đồng liêu với Cụ Hiệp.

Cụ Nguyễn Khắc Nhân, được biết là một cận thần tâm đắc của vua Thành Thái. Ông có tài vẽ truyền thần trực tiếp, đặc biệt là “truyền thần theo ký ức” mà vẫn giống như in. Cụ thường cải trang dân thường lang thang vào chợ Đông Ba, la cà quán xá để “nhiếp hồn” các mỹ nhân Huế rồi về vẽ lên giấy, trình lên “ngài Ngự”. Ngài Ngự thích ai thì lệnh cho Thị vệ quân đem bản vẽ của cụ Nhân đi đối chiếu rồi mời lên kiệu, đưa về Tử Cấm Thành. Ngài Ngự tập trung người dẹp Kinh sư nói là để làm cung phi song thực chất là lập đội nữ – binh của cung đình để huấn luyện võ nghệ, tập tành quân sự – Cũng có dư luận cho là Ngài Ngự tuyển để “chơi bời” trác táng che mắt mật thám Tây. Dẫu sao, đây chỉ là các giai thoại chung quanh một ông Vua có tinh thần yêu nước.

Cụ Nhân và Cụ Hiệp Biện rất thân nhau và hay trà đàm mỗi sáng. Bức chân dung mặc đại triều của  Cụ Hiệp được cụ Nhơn thực hiện với tài năng “truyền thần theo ký ức” sau một tháng lui tới chuyện trò. Theo ông Hàm Quang cháu nội của Cụ Hiệp, đã từng được Cụ Hiệp nuôi dạy từ khi Bố đẻ qua đời cho biết thì cụ Nhơn đã vẽ “quá giống” nhất là “thần sắc”. Đây là một bức chân dung được vẽ theo bút pháp “kiểu Tàu”. Toàn thể là những đường nét chi ly, như được chụp với một ống kính có độ sắc nét cao. Đây cũng là cái mà anh Chắt đã say mê “nghiên cứu” vì anh cũng là một họa sĩ, dù chỉ là “tay ngang”. Trên vách vôi của “buồng học” nhà thờ Chi – (cũng là chỗ thường trú của anh Chắt) lúc đó, có một bức tranh vẽ bằng bút chì cảnh sóng nước đò giang sông an cựu Huế, với cầu Tiệm rượu, tháp chuông nhà thờ Phú Cam, và một bức cảnh nông dân đang đập đất trên đồng Bích khê đường nét khá điêu luyện – Đấy là tác phẩm của anh Chắt. Ngoài mỗi tháng 4 lần thắp nhang và quét dọn bàn thờ tổ tiên, thời gian còn lại anh dành hết cho việc luyện vẽ và đan đát mây tre…

  1. Ngài Hoàng Hữu Xứng lại bị Tây bắt

Năm 1946 Tây mở cuộc ruồng bố xuống các Làng mạc nằm ven lộ chạy về Cửa Việt để đặt ban “Hội – tề” làm tay sai cho chúng. Bích Khê ở tuyến đầu hành quân nên bị “càn” trước nhất. Lần ấy, bức chân dung cổ quý giá của nhà thờ ta bị bọn Tây tịch thu đem lên Tỉnh. Cũng may ở tỉnh có gia đình ông Hoàng ngọc Viên (Đời 16), cũng là chắt nội Cụ Hiệp đang lánh cư tại đó, hay “tin dữ”, liền tìm mọi cách tiếp xúc với quan Tây chỉ huy đơn vị hành quân để xin nhận lại bức chân dung của ông Cố. Tưởng cũng nên biết, ông Viên đã đỗ Tú-tài Tây lại từng làm Thông Phán của Tòa Sứ Pháp nên khả năng đàm thoại tiếng Pháp rất lưu loát, do đó, đã dễ dàng tranh thủ cảm tình với viên quan chỉ huy trong công tác “địch vận” này. Thật hú hồn, nếu không kịp thòi thu hồi bức ảnh, có lẽ Cụ Hiệp chúng ta đã phải một phen phiêu bạt giang hồ.

Để phòng “tai nạn” lần khác, vì con cháu Cụ Hiệp rất ý thức câu “Phước bất trung lai”, nên đã đem Cụ ra hiệu Ảnh ở Quảng Trị chụp lại – Các tấm ảnh nhỏ xuất xứ từ bức chân dung do Cụ Nguyễn Khắc Nhân vẽ truyền thần đã được phân chia cho một số con cháu, trong đó, nhạc sĩ Hoàng thi Thơ cũng giữ được 1 tấm để sau này in trong tập “hồ sơ lý lịch bằng ảnh” về 50 năm văn nghệ của ông.

  1. Lại một vận hạn nặng của Cụ Hiệp:

1972, khi chiến trận ác liệt tràn tới quê nhà, từ đường Chi nhất sau bao nạn kiếp, lần này thì bị hủy diệt hoàn toàn bởi bom đạn. Trên mảnh đất hương hỏa xưa, chỉ còn lại 1 đống gạch vụn. Bức chân dung Cụ Cố, cũng như bức chân dung ông Hồng Lãng, cùng với bao di sản tình thần quí báu khác của dòng họ đã thành tro bụi. Như vậy, Cụ Hiệp của chúng ta lại thêm một lần nữa “qua đời”! Con cháu Cụ ngẩn ngơ trước sự mất mát lớn lao này, cùng với sự vắng bóng của ngôi từ đường thân thương qua bao phen gắn bó; một công trình kiến trúc cổ thật quí giá bằng chính mồ hôi, trí tuệ của Ngài Hoàng hữu Lợi đời 12 đã tự tay phác mẫu và đích thân chỉ đạo cho thợ chạm chạm các phù điêu trên các cột, kèo, đòn tay… với một trình độ kỹ thuật ít thấy…

  1. Cụ Hiệp Biện “tái sinh”:

1963, bốn năm sau ngày về lánh cư tại Lương y Huế, ông Nghè năm, cháu nội út của Cụ Hiệp đã lệnh cho cậu con trai là Hoàng Hữu Chỉ vẽ cho “ông Cố” 1 bức chân dung để thờ.

Từ tấm ảnh chụp lại nhỏ bé trắng đen, Cụ Hiệp đã được chuyển sang cỡ 30×40 bằng màu nước Nhật Bản. “Ông Cố” quá linh thiêng đã nhập hồn vào bàn tay của người cháu nội đời 16 để bức chân dung mới này có một “thần thái” không kém bản gốc ở Bích Khê, chỉ tiếc là kích cỡ hạn chế hơn nhiều.

Trong năm ấy, nhà thơ Bích Hồ ghé lai ngâm Vịnh xướng họa với nhà thơ Hàm Quang, thấy “ông nội” mình ngồi oai vệ đó cũng đăng ký một bức để treo nơi nhà ở ngã tư âm hồn. Thế là thêm “1 cố” nữa “xuất xưởng”. Bức này không biết về sau ông Bích Hồ mang đi đâu khi không còn ở nơi nhà cũ ở Thành nội Huế nữa.

Bây giờ, các bức chân dung được “tái sinh” lần đầu tiên trong năm 1963 ấy vẫn được thờ tại nhà của anh Hoàng Hữu Chỉ ở Huế. Mỗi năm, vào ngày 2/12 âm lịch, con cháu Cụ Cố ở Huế lại tề tựu để chiêm bái dung nhan Cụ. Tính đến nay, tuổi thọ của bức chân dung đời mới này đã được 40.

  1. Cụ Cố “xuất thế” lần 3:

Chừng vào khoảng 1965 ở Đà Nẵng bỗng “nổi cộm” lên một cái đám cưới với chụp ảnh màu, quay Cinémá phim nhựa, rầm rộ dư luận thành phố mà tài tử, giai nhân không ai khác – hơn là con cháu đời 17 họ Hoàng Bích Khê. Để phô trương “oai danh” dòng tộc , ông HH Kiên, bố đẻ của Bác sĩ tân lang, trước đó có “đặt hàng” với “họa sĩ chân dung” gia đình 1 bức chân dung ông Cố mặc triều phục, bằng sơn dầu – ngoại, kích cỡ 60x80cm bằng bức của Cụ Nguyễn Nhơn vẽ đầu tiên.

Lần đầu tiên trong đời thằng cháu đời 16 được thiên hạ gọi là “Hoàng Chân Dung”đã kiếm được kha khá nhờ “ông Cố nội vô tư” của mình để mua gạo nuôi đàn con nheo nhóc kể cũng là ý trời! Dẩu nhiều biến động lớn của lịch sử đất nước và gia đình, bức chân dung này của Cụ Hiệp sau bao lần “trôi nổi” nay đã “định cư tại nhà ở Sài Gòn.

Cụ Cố “phân thân” độ trì con cháu:
Tình hình Cụ Cố được yên ổn cho đến 1990 thì lại có chuyển biến mới. Với sự tích cực tiếp tay của thằng chắt nội nghề ảnh, cụ được “sản xuất” hàng loạt cỡ ảnh màu 20x25cm gửi tặng cùng khắp từ Huế đến Quảng trị, Đà nẵng, Sài gòn… bất cứ nơi nào có bàn thờ của Cụ. Con cháu chắc chắn không thiếu sự phò trợ của Ngài để mạnh khỏe, ăn nên làm ta, học hành tiến bộ…

Những biến cố trầm trọng trong “đời” Cụ Hiệp:
Biến cố 1: Tai nạn đến với Cụ tại Trại Phúc Sa, Nước Ngọt, phía nam đèo Phước Tượng, Quận Phú Lộc, Thừa thiên. Ở dó, ảnh chụp lại được phóng cỡ 40×50 một hôm bị “mối xông” sạch, sáng ra, chỉ còn 2/3 mặt.

“Hoàng Chân Dung” được triệu dụng. Sau 3 ngày, 1 bức chân dung đồng kích cỡ cũ dược “tái hiện” với màu nước và giấy canson. “Hoàng” được 1 chầu bia bọt và tiết canh vịt bầu… Đó là vào năm 1998!

Biến cố 2 (1999): Đây là biến cố trầm trọng nhất cũng xảy ra tại trại Phúc Sa nói trên vì chủ trại “trở quẻ”: triệt nhà cũ để lên lầu! Chân dung Cụ Hiệp vẽ mấy tháng trước được “thỉnh hạ” để ở 1 góc lều tạm trú, sát mặt đất. Một bửa sáng lật ảnh ra định lau chùi thì trại chủ giật thót: ông “cố nội” không cánh mà bay! Chỉ còn thấm bìa carton Isorel. Tất cả “ông cố nội” đều đã chui vô bụng mối. Thật là “triệu bất tường”! Suy nghĩ sinh ra bấn loạn. Bất loạn sinh ra cao áp huyết. Áp huyết cao dẫn tới tai biến não. Ông Chắt 84 tuổi ngã vật 1 ngày đêm mới lại tỉnh. May là nhẹ, chưa mất trí – Hoàng chân Dung có mặt kịp thời để hỗ trợ tinh thần “ông già gân”. Sự hỗ trợ này được cụ thể hóa bằng 1 bức chân dung phóng từ phim chụp lại vói cỡ 30×40. Trại Phúc Sa Lạc thành nhà lầu với sự xuất hiện trong khí thế của ông Cố mặc triều phục nhất phẩm. Trại chủ lúc đó chích thuốc bị nhằm gân nên phải lết với…3 chân. Đó là một sự cố đáng buồn không phải do Cụ Cố “phạt” mà bởi một “nữ bác sĩ loại chuyên tu” của địa phương.

  1. Kể tiếp chuyện bức chân dung ở Mỹ

Câu chuyện ông Nguyễn Khắc Nhân vẽ ảnh ngài Hoàng Hữu Xứng đã được giới thiệu ở Mỹ – một lần trên tờ báo của cựu học sinh trưởng Đồng Khánh ở hải ngoại và một lần khác trên nội san của trường đại học Mỹ thuật SAN JOSE (Academy of Art – San Jose – USA).

Người kể là Hồ Mộng Nhã Uyển (SN 1971) con gái của Phan thị Mộng Hoàn và cháu ngoại bà Maria Mộng Hoa. Năm 18 tuổi, Nhã Uyển đã có cuộc triển lãm tranh lụa rất thành công ở Sài gòn (1989). Năm 1990, theo gia đình sang Mỹ theo diện H.O, Nhã Uyển đã tham dự 1 kỳ thi tuyển do công ty Hoạt Hình Walt Disney (Disney’s Animation) tổ chức trên toàn Canada và Hoa kỳ với hơn 300 thí sinh. Cô được lọt vào vòng 38 người trúng tuyển. Sau 1 năm được công ty nầy đào tạo, cô thi mãn khóa huấn luyện, đỗ đầu trong số 4 người được công ty tuyển dụng. Báo chí ở Mỹ có bài phỏng vấn để giới thiệu tài năng trẻ. Nhân dịp này cô đã đem chuyện ông Nguyễn Khắc Nhân vẽ chân dung Cố Hiệp bằng phương pháp truyền thần ký ức. Ai cũng cho là lạ và lý thú.

 

23806707188 D31cc5c9a6 O

Hồ Mộng Nhã Uyển
-một hậu duệ tài năng của cụ Nguyễn Khắc Nhân.

                                                                                                                                             HOÀNG HỮU CHỈ

 

 

 

Bài 8

NGÀI HOÀNG GIÁP HOÀNG HỮU BíNH

 và khoa thi năm Kỷ Sửu (1889)

                                                                                                                                      HOÀNG HỮU CHỈ 

ChỮ Hhb 3

Di bút của ngài Hoàng Giáp Hoàng Hữu Bính

Năm Kỷ Sửu (1889), tức Thành Thái nguyên niên, triều đình cho mở khoa thi Tiến sĩ. Nhưng sắp tới ngày truyền lô (công bố kết quả) thì xảy ra binh biến 23 tháng 5 mà vua Hàm Nghi phải xuất bôn. Sau đó, theo chỉ dụ của vua Đồng Khánh, những người đã đậu Hội thí 1885 được đặc ân cho thi Đình vào khoa Ký Sửu 1889 và các khoa sau đó. Hai mươi ba thí sinh mới và cũ ấy, sau đó, được chia làm 2 toán; một toán gồm 11 người và một toán 12 người, đi theo một quan viên hướng dẫn, tiến về hai phía Tả và Hữu Vu của điện Cần Chánh. Trên mặt bằng điện đã trải sẵn chiếu hoa và bày sẵn 23 cái “yên”, 23 cái “tráp” (tức cái rương, tiện nghi để thí sinh kê tay khi viết bài và cắt đặt đồ dùng). Khi nghe quan nội giám hô to: “Thánh thượng tứ tọa” (Vua cho phép được ngồi), ai nấy phủ phục tạ ân vua rồi ngồi xuống chiếu. Tiếp theo đó, nội dung đề thi được quan nội giám công bố. Việc làm này, hồi đó được gọi là “khai độc chế sách”. Ở mỗi “yên” của thí sinh ai nấy đều đã được phát sẵn một cuốn giấy viết nội dung đề thi, các thí sinh đều mở ra xem kỹ lại. Đầu đề khoa thi Đình năm ấy là 1 bài văn sách, 1 bài luận, hạn trong 1 ngày, từ 7 giờ sáng tới 7 giờ tối phải làm cho xong. Việc đầu tiên là thí sinh phải ghi rõ họ tên, tuổi tác, quê quán, lý lịch tam đại, đậu thi Hương khoa nào, phân số đạt được trong kỳ thi Hội, ngày vào Điện thí… vào đầu quyển thi. Quyển thi lần này có kẻ đường kẻ đỏ được triều đình phát không cho thí sinh. Sau hồi lệnh, nhà vua hồi cung, cuộc thi liền triển khai. Thời gian này, ở Tả và Hữu Vu điện Cần Chánh luôn có 2 vị võ quan ngồi giám sát cuộc thi, 2 quan đô thống thì làm công việc kiểm soát tổng quát cũng giống như 2 quan ngự sử trong lần thi Hội ở La Chữ. Chiếu ngồi của thí sinh cách xa nhau hằng 6 mét và toàn cục diện đều nằm trong tầm quan sát tốt của 2 quan đô thống và đội tuần sát, thí sinh khó lòng bàn bạc, gian lận mà không bị phát hiện.Chừng 2 tiếng đồng hồ, 23 lính Ngự tiền thị vệ bưng đến 23 khay sơn son thếp vàng với ấm chén, đĩa, có trà Tàu và trầu cau, đặt lên chiếu hoa của mỗi thí sinh. Đó là đồ sành sứ quý giá, danh tiếng Thế Đức và Nhật Bản chạm rồng, bịt bạc. Cau là một miếng cau tươi và trầu là trầu quế têm cánh phượng.

Khoảng 11 giờ trưa, mỗi thí sinh lại được lính Ngự vệ bưng đến 1 khay khác bằng gỗ trắc khảm xà cừ, trên đặt 1 con dao chuôi bạc, 2 quả chuối ngự, 1 trái anh đào, 1 trái tuyết lê. Các đặc sản thực vật này đều là cây trái danh tiếng của Thừa Thiên Huế và Quảng Trị. Đúng ngọ, lại thêm 1 mâm cơm nữa đem đến với đủ thức ăn sang trọng như yến sào, tái bò, chả giò Huế, thịt gà, tương gừng, cơm gạo Ngự. Các món ăn đều được đựng trong các đồ sành sứ Giang Tây, Nhật Bản bịt bạc, chạy chỉ vàng. Đũa là thứ đũa làm bằng ngà voi bịt bạc.

Dùng bữa xong, các thí sinh tự rửa lấy chén bát, đồ dùng của mình với nước nóng do Ngự vệ quân cung cấp và bỏ vào “tráp” cất. Tất cả đồ dùng là quà kỷ niệm của nhà vua ban tặng cho thí sinh trong cuộc thi Đình theo truyền thống thi cử phong kiến nên không thu hồi lại. Đến 3 giờ chiều, trà tàu, trái cây quí hiếm lại được mang đến; tráp của thí sinh lại đầy thêm một số vật dụng, chén bát… nữa của vua ban. Đặc biệt với chiếc mâm đồng ba chân chạm long, ly, qui, phụng không thể bỏ vào tráp được, nhưng sau này các thí sinh cũng xách tay mang về. Đúng 7 giờ tối, các thư lại được lệnh đi thu hồi quyển thi của thí sinh. Nhưng bài thi này được chuyển cho các quan Nghè bút thiếp và các quan viên chữ tốt sao chép lại nguyên văn. Sự sao chép được giám sát kỹ bởi 3 vị quan trong hội đồng thi với phương cách: đọc nội dung bài gốc rồi dò lại các bản sao. Sau khi thấy không còn sai sót, cả 3 quan viên trên cùng ký tên chịu trách nhiệm nơi cả bản gốc lẫn bản sao. Điều đặc biệt cần chú ý là với thi Đình, bài thi cốt ở ý tưởng biểu đạt, không cần “văn hay chữ tốt”. Viết thảo vẫn được chấp nhận.

Trang phục tiến sĩ

Đệ tam giáp màu xanh lục, bối tử (mảnh gấm vuông khâu giữa ngực áo) màu đỏ thêu hình cò trắng (còn gọi là lộ tư) bằng chỉ bạc. Mũ cánh chuồn màu xanh lam được cài hoa bạc, phía trước 1 hoa, phía sau 1 hoa. Mũ cánh chuồn không thêu gì. Hia bằng vóc đỏ. Đai lưng bằng “đoạn” cũng màu đỏ dát 3 miếng bạc, phủ đồi mồi và 7 miếng đồng phủ các miếng sừng đen cắt mỏng, gọi là ô giác. Hốt làm bằng ngà voi.

Mũ áo tiến sĩ Đệ nhị giáp cũng giống như tam giáp, chỉ khác 2 cánh mũ được thêu chỉ bạc, bối tử thì thêu hình chim trĩ trắng (còn gọi là “Bạch nhàn”). Đai lưng cũng có thêm một miếng bạc mạ vàng.

Lĩnh mũ áo xong, mỗi vị tân tiến sĩ được hướng dẫn đến một văn phòng bên trong Ngọ Môn để cài trâm và thay đổi trang phục mới. Sau đó, tất cả ra đứng sau quan Tham tri bộ Lễ để đợi hành lễ.

Xong lễ “truyền lô”, danh tánh các vị tiến sĩ Đệ nhị giáp, Đệ tam giáp, Phó bảng được đem niêm yết tại Phu Văn Lâu. Đậu Đệ nhị, Đệ tam giáp… tên được ghi lên bảng vàng có vẽ rồng, gọi là “Giáp bảng”. Còn phó bảng thì ghi vào bảng sơn đỏ, gọi là “Ất bảng”, treo bên cạnh “Giáp bảng”.

Năm ấy, giật giải Khôi nguyên là cụ Hoàng Bính, người làng Bích Khê, huyện Thuận Xương (nay là huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Cụ Hoàng Bính đậu tiến sĩ Đệ nhị giáp Đệ nhất danh, tức thủ khoa. Người đậu nhì là cụ Nguyễn Viết Bình, quán xã Đặng Xá, huyện An Đức, Hà Nội.

Dự thi Đình năm ấy có tất cả 23 vị nhưng chỉ “trượt” có 1: đó là cụ Đảm Thận Bình, người quán Hưng Mặc, tỉnh Bắc Ninh. Cụ không vào được Phó bảng vì bị “văn bất cập phân”.

Thân thế và sự nghiệp của tiến sĩ thủ khoa Kỷ Sửu

Đến đây, tưởng cũng cần nên biết rõ hơn về vị đậu thủ khoa của khoa thi tiến sĩ năm Kỷ Sửu 1889. Năm ấy, cụ Hoàng Bính mới có 33 tuổi. Cụ sinh năm Đinh Tỵ (1857), là 1 trong số 6 sĩ tử trẻ nhất của khoa thi. Thân phụ của cụ Hoàng Bính là Hiệp biên đại học sĩ Hoàng Hữu Xứng, một trọng thần dưới triều vua Tự Đức, từng là kinh diên giảng quan (thầy dạy vua) của các triều vua Nguyễn kế thừa. Hiệp biện đại học sĩ Hoàng Hữu Xứng là một nhà văn hóa, một “trước tác gia” đã có công lớn biên soạn bộ sách “Đại Nam cương giới vựng biên” và bộ “Đại Nam thực lục chính biên đệ ngũ kỷ” cho triều Nguyễn. Ngài cũng từng là giám khảo của khoa thi Hội 1892, chấm đậu các sĩ tử Vũ Phạm Hàm, Nguyễn Thượng Hiền, Chu Mạnh Trinh, và năm 1898 chấm đậu một lượt 5 vị cử nhân người Quảng Nam là Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn, Ngô Truân, Dương Hiển Tiến mà người đời vẫn thường tôn vinh là “ngũ phụng tề phi” (năm chim phụng cùng bay) như đã có lần sử gia Phan Thuận An đề cập trong một bài viết về Ngài trên tạp chí Cửa Việt số 17 – tháng 10/1992.

Sau khoa thi tiến sĩ Kỷ Sửu, Hoàng giáp Hoàng Bính được bổ giáo thọ phủ Thuận Xương, Quảng Trị (1890). Qua 1891 lại được bổ Tri phủ Tuy An, Bình Định. Vì chống đối với quan Pháp, cụ quyết định treo ấn từ quan. Cụ rất ghét những thứ gì có dính líu tới “thằng Tây”, cực đoan đến độ chối từ cả chích thuốc khi đau ốm, chụp hình chân dung, nên vì thế, con cháu cụ sau này đã không biết đến mặt mũi của một nhân tài dòng họ. Tới Thành Thái V (1893), cụ được tái bổ Kiểm đốc sở Tu thư và thăng Thị độc học sĩ. Qua Thành Thái IX (1897), cụ được cử làm giám khảo trường thi Hương tỉnh Hà Nam. Đến 1898, chán chường hoạn lộ, cụ xin nghỉ hưu, về quê quán Bích Khê, Quảng Trị mở lớp quy tụ môn đồ, sĩ tử các tỉnh kéo về theo học rất đông và đỗ đạt cũng nhiều. Tiếng tăm cụ lừng lẫy ở Quảng Trị một thời với tài học và bút thiếp sinh động như rồng bay phụng múa.

Năm Thành Thái XII (1900), cụ lại được triều đình mời ra làm giám khảo trường thi Hương Bình Định và được thăng Hồng Lô Tự Khanh, bổ sung làm Toản Tu Quốc Sử quán và được Từ Dũ Thái hậu thưởng “Kim Khánh bội tinh”. Năm ấy cũng là năm cụ bị bạo bệnh qua đời, để lại tiếc thương cho bao người giữa lúc tuổi đời chỉ mới có 43. Triều Nguyễn truy tặng cụ Quang lộc Tự khanh. Đám tang cụ được tổ chức rất trọng thể tại quê nhà. Rất đông học trò cũ của cụ đang làm quan tại triều về dự và một số đã nghiêng vai trực tiếp khiêng linh cữu thầy mình từ nhà ra đến tận huyệt. Hiện nay, lăng mộ cụ vẫn tồn tại tốt ở làng Bích Khê, Triệu Phong, Quảng Trị, với sự chăm sóc của con cháu dòng họ. Còn tại đền Văn Thánh – Huế, có tên của tiến sĩ đệ nhị giáp Hoàng Bính trong số mấy chục bia tiến sĩ ở đó. Tên cụ cũng có trong bảng liệt kê danh sách tiến sĩ của triều Nguyễn ở trên lầu Ngọ môn hiện nay.   

                                                                                                                                                                   HHC.                                                                                                                                                                                    

  Hình ảnh trường thi xướng danh thời Nguyễn                                                                                                          

Thi Xưa

Bài 9

 

Dot Lo Huong Cu

 

                                                                  ĐỐT LÒ HƯƠNG CŨ
VĂN CHẤT BÂN BÂN

      Đọc gia phổ, thân thế và sự nghiệp của các bậc tiền bồi cũng như hành trạng con cháu họ Hoàng ngày nay tôi nghiệm thấy một điều là họ Hoàng nhà ta chỉ phát Văn mà ít phát Võ. Tôi thường nghe từ lúc nhỏ những danh phận của các tiền nhân chúng ta như Hiệp biện Đại học sỹ, Thái thường Tự khanh, Thị lang bộ Học, Tham tri bộ Lại hay Tri phủ, Tri huyện… các chức danh đó gắn liền với tên tuổi của cha ông được gọi gọn Cố Hiệp, Cố Thái, Ôông Học, Ôông Tham, Ôông Thị v.v… toàn là những văn quan. Những giai thoại, truyền kỳ về các vị cũng mang đậm nét văn chương, thi phú hay vài cái ngông nghênh của kẻ sĩ, nhà thơ. Những chức hàm võ quan như Đô thống, Lãnh binh, Đề đốc, Quân cơ sao mà thiếu vắng, chỉ nhì nhằng vài chức Cai, Đội chẳng có ấn tượng gì. Trong làng ngoài tỉnh nếu nói đến họ Hoàng Bích Khê, Quảng Trị cũng chỉ biết là một dòng họ về văn chương, khoa bảng.

Ngày nay kế thừa sự nghiệp các vị, con cháu họ Hoàng cũng được biết nhiều qua đường khoa bảng, văn chương là chính. Không thiếu tiến sĩ, giáo sư, nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ,bác sĩ, nhà báo… và cả đại kiện tướng cờ vua thế giới. Cầm, kỳ, thi, họa đều là những hành trang phải có của khách văn chương, nằm trong cái nghiệp văn hóa cuồn cuộn di truyền của dòng họ.

Thật là có lỗi nếu tôi không nhắc đến các võ quan họ Hoàng ngày nay, các đại tá, thượng tá, trung tá, thiếu tá và cả các sĩ quan cấp úy của cả hai miền Nam, Bắc (họ Hoàng nhà ta chưa có ai được phong tướng, kể cả Nam lẫn Bắc).

Đi theo nghiệp võ, cũng rất ít người cầm quân đánh trận thường chỉ làm các công việc về Văn như chỉ huy quân trường, thảo văn thư kế hoạch, giảng dạy, làm báo, vẽ tranh, những công việc Văn trong Võ. Không thiếu các vị những lúc rảnh rỗi việc quân lại làm thơ, ca hát tìm vui. Cái chất Văn họ Hoàng vẫn bàng bạc chi phối mọi sinh hoạt hay dương danh với đời. Xưa vua Tự Đức từng có lời nhận xét về vị trọng thần của ngài là Hiệp Biện Đại Học Sĩ Hoàng Hữu Xứng là “Văn chất bân bân” – nghĩa là chất văn hoàn mỹ từ trong ra ngoài. Nay con cháu họ Hoàng cũng lắm người kế thừa cái văn chất ấy. Ngay cả những người không được học hành nhiều cũng biết yêu thơ và sáng tác được thơ. Vậy xin trân trọng đốt lò hương cũ để thưởng thức tác phẩm cây nhà lá vườn của nhà ta.

                                                                                                                                           HOÀNG HỮU THỤC

 

THƠ CỦA CÁC VỊ ĐỜI 13-14-15.

Cadotetgt

CÂU ĐỐI CỦA Hàm Quang HOÀNG HỮU CẢNH

Xuan Nhat Cam Tac

Ham Quang

Thơ Hàm Quang

 

Vebichkhe

Giotletho

 

 

 

 

 

 Bài 10

                                            Đọc lại thơ 

 Bích Hồ HOÀNG PHỦ DỰC
(1904 – 1981)

                                                                                       Ảnh Ba

                                          HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN

Ba tôi thuộc thế hệ những người được tiếp thu những cái hay của ba nền văn hóa Việt – Hán và Pháp. Tiếng Pháp đủ để đi làm thư ký ngành hỏa xa thời Pháp thuộc. Chữ Hán đủ để dịch thơ Đường . Tiếng Việt thì được phát huy để sáng tác văn thơ tiếng Việt. Ba tôi làm thơ lấy hiệu là Bích Hồ. Chữ BÍCH này khá quen thuộc trong tên, hiệu của những người họ Hoàng. Ví dụ: Song Bích – Hoàng Hữu Xứng (Đ13); Bích Lâm – Hoàng Hữu Gia (Đ14); Bích Đàm – Hoàng Hữu Đản (Đ15) – Bích Hoàng, Bích Phong – (Hai trong nhiều bút hiệu của Hoàng Hữu Chỉ (Đ16); Hoàng Bích Hoài Anh (Đ16)… Những chữ Bích nói trên, đều có ngữ nguyên từ tên làng Bích Khê.

Ba tôi có một tập thơ chép tay dày hàng trăm trang khổ lớn gồm đủ loại:thơ tình, thơ tự sự, thơ thế sự, thời sự, hoặc thơ thù tạc. Ngoài ra còn một số câu đối và vài bài nghị luận văn chương. Những bài chép tay đầu tiên trong tập thơ có nét chữ rất đẹp – là thủ bút của một người cháu là ông Hoàng Hữu Hốt (Đ15), cựu học sinh Quốc Học Huế, liệt sĩ thời chống Pháp, con thứ của ngài Hoàng Hữu Tiêu. Về sau có thêm nhiều bài khác, chữ càng đẹp hơn, do họa sĩ Hoàng Hữu Chỉ chép giùm. Hồi nhỏ tôi chỉ đọc vì tò mò, chưa hiểu được chỗ hay chỗ dở. Nay có thể hiểu thì tiếc thay, tập thơ ấy đã thất lạc rồi. Tôi chỉ còn nhớ được vài bài và có bài chỉ nhớ được vài câu. Riêng về phần dịch thơ Đường thì tôi còn giữ được khá nhiều. Ấy là nhờ ông anh rể tôi là Trần Nguyên Các. Ông Các thích thơ Đường và thích những bài dịch thơ Đường của ba tôi nên ông sưu tập, đánh máy và cất giữ được một số.

Nay tôi xin được giới thiệu đôi vần trong số những gì còn sót lại và còn đọng lại mãi trong tôi.

  • Thơ tình cảm

Hình như suốt đời ba tôi chỉ có một mối tình và đó là mối tình lớn đối với mẹ tôi. Không có vợ bé, không hề có những chuyện tình ma chuột, mèo mả gà đồng, quan hệ ngoài luồng… Bài thơ tình đầu tiên của ba tôi đề tặng Diệu Ngọc (mẹ tôi) lúc hai người mới yêu nhau đã đăng trên báo Khuynh Diệp của ông Viễn Đệ, (một doanh nhân nổi tiếng ở Huế, chủ cơ sở sản xuất dầu khuynh diệp). Bài thơ khà dài nhưng tôi chỉ nhớ được vài câu như sau:

“Sầu tương tư đêm cũng như ngày
Hai má hồng đào em phai phấn
Hai mái tóc dày em hóa sưa
Sầu tương tư ngày nắng đêm mưa
Năm canh sáu khắc lòng ngẩn ngơ …”

Có một thời gian, ba tôi đi làm ăn xa nhà. Chắc ba tôi nhớ vợ con lắm nhưng ông không tự thú nhận điều đó mà mượn lời mẹ tôi để giải tỏa nỗi lòng:

“Chồng hỡi chồng, con hỡi con
Chàng đi thoắt đã mấy năm ròng
Trông vời nước biếc chòm mây bạc
Chạnh nhớ ngày xanh giọt lệ hồng”.

Mẹ tôi là người nội trợ có đôi bàn tay vàng. Bà từng được nữ sử Đạm Phương (bà tên là Tôn nữ Đồng Canh, cháu nội vua Minh Mạng và là mẹ của nhà văn Hải Triều) ủy nhiệm làm hiệu trưởng trường Nữ Công của Nữ Công Học Hội Huế do bà làm Hội trưởng. Học sinh của trường là những thiếu nữ thuộc các gia đình khá giả có xu hướng tân thời, được bà Đạm Phương đào tạo nhiều mặt để hội nhập vào xã hội mới. Mẹ tôi dạy cho họ các môn nữ công gia chánh như đan thêu, mứt bánh, nấu món ăn Tây, món Huế… Thấy mẹ tôi có khó khăn trong việc soạn giáo án, ba tôi bèn soạn giùm bằng văn vần. Ví dụ bài dạy làm tương:

“Làm tương phải học cho rành
Lấy loong đong nếp, đậu nành cho ngang.
Đậu nành bắt cát mà rang
Trở lưng vá lại mà nghiền bể hai…”

     Lúc nhỏ ba tôi có tên gọi là Vụng. Ông khá vụng về trong lao động chân tay. Vụng như thế mà chịu ngồi làm ba thứ thơ về tương, chao, bánh mì để phục vụ cho nghề nghiệp của mẹ tôi thì cái tình dành cho mẹ tôi hẳn nhiều lắm. Vậy tôi tạm xếp những bài thơ nói trên vào mục thơ tình luôn, được không nhỉ?

Tình bạn cũng là một nguồn cảm hứng lớn trong thơ của ba tôi. Ông nói về tình bạn ấy bằng những lời tha thiết:

“Bác Mộng Xuân, bác Mộng Xuân
Bác tôi tôi bác phong trần gặp nhau
Gặp nhau chưa được bao lâu
Tôi về bác ở thật đau đớn lòng”…

     Thuở ấy ở Huế có một người lãng tử tên là Vân Đàm. Chiều chiều người ta thường thấy ông ta mang một con khỉ trên vai ra ngồi trên bãi cỏ bên bờ sông Hương thổi vài bài sáo rất buồn. Rồi một hôm không thấy ông ta ra bờ sông thổi sáo nữa. Không biết đi đâu. Ba tôi bảo là ông ta đã theo Việt Minh đi kháng chiến. Ba tôi nhớ ông ấy đến quay quắt:

“Chiều chiều thơ thẩn dựa lan can
Ta nhớ Vân Đàm héo ruột gan”…

Trong khoảng những năm từ 1966 đến 1975, hai anh em tôi (Tường và Phan) thoát ly kháng chiến chống Mỹ để lại cha mẹ già neo đơn cô quạnh trong tuổi bảy mươi. Ba tôi viết mấy câu thơ nghe muốn ứa nước mắt:

“Bắt mặt trông ra biết hướng nào
Bốn phương đất rộng với trời cao
Năm canh tựa cửa mình đành vậy
Muôn dặm xa nhà trẻ biết sao!…”

  • Thơ tự sự, thời sự

Hồi trai trẻ, không biết ba tôi nghe lời ai xúi dại, ra Hòn Gai tính tìm việc làm ở mỏ than. Khi đến nơi, ông hiểu ngay rằng mình không thể kham nổi kiếp làm phu mỏ:

“Hỏi mình sao lại đến Hòn Gay
Ồ! Nợ tang bồng phải trả vay…”

Vào năm 1945, sau khi Nhật đảo chánh, ba tôi dẫn con gái đầu đi xe lửa ra Đồng Hới thăm bác tôi. Chuyến tàu ấy bị máy bay của quân Đồng Minh ném bom:

“Tháng giêng còn nhớ bữa mười ba
Minh Lệ tàu bay lại phá ga
Máy chuyển vang trời bom dội xuống
Thây nằm đầy đất, máu tuôn ra
Tài cao tướng họ đà hăng hái
Chết uổng dân mình thật xót xa
May được cha con ta sống sót

Nhờ ơn trời Phật,phúc ông bà.

     Năm 1975, ba tôi có làm một bài thơ rất thời sự:

“Mừng nay cách mạng đã thành công
Ước vọng lâu nay được thỏa lòng
Giải phóng cờ reo cùng đất nước
Hoan hô tiếng dội khắp non sông
Xích xiềng cởi mở dân Nam Việt
Ruột thịt đoàn viên giống Lạc Hồng…”

     Ba tôi mất năm 1981. Trước đó vài năm, ba tôi có làm một bài thơ rất ngắn:

“Năm nay tuổi lão bảy mươi tư
Ai ghét ai thương lão cũng ừ
Mái tóc Giáp Thìn đà bạc trắng
Mà lòng quân tử vẫn khư khư.”

Chỉ có bốn câu nhưng chứa đầy tâm sự. Ấy là tâm sự gì, ba tôi không hề nói ra và tôi cũng không ngờ rằng đây bài thơ cuối cùng của ba tôi trước khi từ giả cuộc đời – một cuộc đời buồn nhiều hơn vui.

  • Dịch thơ Đường

Ba tôi dịch khá nhiều thơ Đường nhưng nay chúng tôi chỉ còn giữ được khoảng ba mươi bài. Xin giới thiệu vài bài để những người yêu thích thơ Đường đọc và phẩm bình.

THANH MINH
Thanh minh thời tiết vũ phân phân
Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn
Tá vấn tửu gia hà xứ hữu
Mục đồng diêu chỉ Hạnh Hoa thôn
Đỗ Mục

Dịch:
Thanh minh gặp tiết mưa phùn
Qua đường khiến khách ngây hồn lắm nao
Hỏi thăm quán rượu nơi nào
Mục đồng vói chỉ đi vào Hạnh thôn.

VỌNG PHU THẠCH
Vọng phu xứ
Giang du du
Hóa vi thạch
Bất hồi đầu
Sơn đầu nhật nhật phong hòa vũ
Hành nhân qui lai thạch ưng ngữ.
Vương Kiên

Dịch:
Nơi đây là chỗ trông chồng
Nước sâu sông lạnh một giòng chảy mau
Thân này hóa đá đã lâu
Trơ trơ quyết chẳng quay đầu ngó ai
Đỉnh non mưa gió rứa hoài
Người về đá mới toan bài nói phô.

LƯƠNG CHÂU TỪ
Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi
Vương Hàn

Dịch:
Bồ đào rót chén dạ quang
Uống thời lưng ngựa giục vang tiếng tỳ
Sa trường say oắt cười chi
Xưa nay chiến sĩ mấy khi trở về.

  • Câu đối

Câu đối đề trước lăng mộ ông nội tôi là ngài Tùng Am Hoàng Hữu Quỵ (Đ14):

Chạnh nhớ cha, ngoảnh lại non Mai cao chất ngất
Ngùi thương mẹ, trông vời sông Hãn rộng mênh mông.

     Ba tôi thuộc lớp cựu trào, chuyên làm thơ cũ. Vào những năm 1930 thơ cũ đã đấu với thơ mới nhiều trận và thua dài dài. Nhưng các nhà thơ cũ không nghĩ rằng họ thất bại mà cho rằng thơ mới cũng như loại thời trang trẻ không thích hợp với người già và ngược lại. Các nhà thơ cũ tự động tập họp nhau lại trong những làng thơ gọi là thi xã. Ở Quảng Trị có Mai Hãn thi xã, ở Huế có Hương Bình thi xã. Đó là những hội văn nghệ phi chính phủ, hoạt động tự phát, không có kinh phí, không có trụ sở, không có chút quyền lợi danh vọng gì. Nhưng thi xã của các cụ là những sân chơi văn hóa rất lành mạnh để lớp người cao tuổi di dưỡng tâm hồn và khẳng định rằng mình vẫn tồn tại – Trong thế giới sáng tác ấy, ba tôi thực sự là một nhà thơ.

                                                                                                                                                              HPNP