Trang chủ

Bài 6

NHỮNG NGƯỜI CON TRAI
CỦA NGÀI HOÀNG HỮU XỨNG

Ngài Hoàng Hữu Xứng sinh được 7 người con trai, mỗi người đều có cá tính và phẩm chất ưu tú.

  1. NGÀI HOÀNG HỮU BÍNH

Người con trai đầu của ngài Bình Như là ngài Hoàng Hữu Bính, tự Đẩu Nam, hiệu Trì Khiêm, biệt hiệu là Nghĩa Trai.Lúc còn nhỏ ngài hấp thụ được giáo dục của ông nội nên văn chương hùng hồn, khí phách hiên ngang, không phải ôn hòa như cụ thân sinh. Lúc vừa lớn gọi là cậu cả Đông. Noi theo nếp nhà ngài rất chăm học chữ viết rất tốt, không kém lối chữ thư pháp Trung – hoa. Còn trẻ đã đỗ cử nhân nhưng không thích làm quan mà chỉ thích làm thầy đồ dạy học để đào tạo nhân tài. Gia dỉ nước đã bị mất chủ quyền, bọn Pháp chuyên chế, ngài càng chán nản.

Ngài thi hương đã đỗ cử nhân, khi vào thi hội và thi đình lại đỗ ngay hoàng giáp số 1 nên gọi là Đình Nguyên.

Tuy với cấp cao khoa “Hoàng giáp Đình nguyên” ngài được cất làm tri phủ Tuy An (Phú Yên) song ngài không vì bả vinh hoa mà để cho tiêu mòn cái bình sinh chí khí. Vào tỉnh lỵ ngài không đến ra mắt viên Công – Sứ, đến Phủ đường ngài không tiếp đón viên đồn quan. Vì thế nên mới có sự xích mích, ngài vác ghế đánh viên quan Đồn Pháp khi viên quan này đến Phủ đường dùng uy thế bắt ngài làm một việc theo ý muốn của y mà ngài không chịu, cho là làm thế có hại cho dân.

Sau vụ ấy, Ngài Hoàng giáp treo ấn tri phủ giữa công đường rồi cùng gia nhân đi bộ về Huế khiếu nại. Về phía bọn Pháp, viên Công sứ Phú Yên chạy giấy về cho viên Khâm Sứ Trung kỳ bảo phải làm tội Ngài cho khỏi nhục quốc thể, nhưng các Đại thần Nam triều thương mến Ngài, hết sức bênh vực, chống cãi cho Ngài và đem về giữ một chức quan trọng trong Quốc – Sử – quán với ngài Bình Như ta.

Ngài Hoàng giáp tánh không ưa ràng buộc bỡi danh lợi mà chỉ thích ngao du sơn thủy đó đây. Thơ chữ Hán của ngài rất nhiều và rất hay mà thơ nôm cũng tao nhã lắm tiếc vì giặc giả loạn ly các thi tập đều mất sạch.

Thơ ngài có bài vịnh Cảnh chùa non nước (Ngũ Hành Sơn ở Quảng Nam, đề vào hang đá, và luôn cả bài dịch ra quốc văn, như sau: (Bài hán không nhớ).

Chơi ngũ hành sơn
“Mạnh khen năm gả sức nên hùng,
Xây đắp năm tòa tận bể Đông;
Sông bể đài cao ngờ đất rút,
Trăng mây hang trống thấy trời thông
Trời chiều cây xói chùa nương núi,
Đêm vắng chuông rơi bến cặm bồng.
Mấy kẻ trần duyên dầu đến đó
Xui lòng khúc – khắc hóa như không”.

  1. NGÀI HOÀNG HỮU QUẢN

Người em thứ hai của Ngài Trì – Khiêm là Ngài Hoàng Hữu Quản, hiệu là Điềm – Tăng. Ngài từng học thức uyên bác, có tánh rất tự nhiên, ai có bình phẩm gì về ngài ngài cũng mặc, việc ngài thích thì ngài làm. Ngài thường hay suy nghĩ thơ văn nên miệng thường lẩm nhẩm, đôi mắt nhiều khi chăm ngó người ta không nháy mà kỳ thực ngài không hề biết kẻ đối diện là ai cả, hay trong đầu óc không có một ý nghĩ gì về kẻ đó, sự vật đó.

Ngài Điềm – Tăng câu đối rất hay, viết chữ rất tốt, thơ nôm thì giản dị mà nhiều câu rất tài tình. Lúc nhỏ ngài học với anh cả. Lớn lên đỗ cử nhân rồi vào thi hội chiếm ngay phó bảng, làm quan đến chức Đốc học tỉnh nhà, sau đổi vào tham tá nội – các – vụ văn phòng của Vua.

Vua Khải Định rất yêu ngài vì ngài thơ hay chữ tốt – Ngài rất bình đẳng với hết mọi người, không bao giờ ngài ỷ mình là quan cách gì cả. Trong gia đình, thì rất thương yêu con cháu, hễ ai cực khổ đến với ngài, ngài đều dung nạp. Đối với bạn bè thì rất chân thành chung thủy.

Thơ nôm ngài cũng rất tài tình, đã xuất khẩu đọc ngay bài thi tiển ông bạn ở Quảng Trị vào thăm khi về như sau:

“Bác vội chi về rứa Bác ơi!
Bác không ở lại một đôi hồi…
Tôi đưa chân Bác tôi thương xót
Bác bắt tay tôi Bác ngậm ngùi
Ở Huế có khi tôi nhớ Bác
Về nhà không lẽ Bác quên tôi…
Bác quên tôi nữa tôi không trách
Miễn Bác bình an được thế thôi

Về miếng ăn thức uống không bao giờ ngài chú ý, gặp sao hay vậy, người ta gọi là một “ông vô tâm với cuộc đời”.

  1. NGÀI HOÀNG HỮU KIỂM

Người em kế ngài Điềm – Tăng tên là Hoàng Hữu Kiểm, tự Thoại Phong, tánh tình rất nóng nảy, nghiêm khắc, con cháu thảy đều sợ sệt. Lúc nhỏ ngài học chữ nho rất thông minh, sau học chữ Pháp với một ông thầy người Sài Gòn – Ông thầy này sau mắc tội bị chính quyền dán giấy công bố tội trạng khắp các cửa thành, ngài liền đi rong khắp nơi và xé bỏ hết các giấy ấy, song bị nhà chức trách bắt gặp và phạt bạc mấy trăm đồng, ngài liền đánh điện tín về Huế để xin tiền gia đình vì trong lưng không có một xu. Ngài làm thông ngôn tòa Khâm – Sứ Huế kiêm cả chức ký lục, sau bị buộc phải thôi việc về nhà. Làm việc làng ngài rất công bằng chánh trực. Ở bàn giấy ngài có 4 chữ: Công bình, Liêm chánh. Sau ngài bỏ việc làng, đi dạy chữ Pháp. Ngài thọ bịnh thương hàn, mất mới ngoài 30 tuổi. Ngài có 8 người con, trong đó có ông Hoàng Hữu Xán, Hoàng Hữu Thước, bà Hoàng Thị Ái đều tham gia kháng chiến.

  1. NGÀI HOÀNG HỮU QUỴ

Hh Quy

                                                             Lăng mộ ngài Hoàng Hữu Quỵ tại làng Bích Khê

Ngài kế ngài Thoại Phong tên là Hoàng Hữu Quỵ, tự Tùng – Am, cũng một bậc nho học uyên bác, tánh tình thuần hậu, rất giàu lương tâm. Ngài đổ cử nhân thứ 4, làm quan đến tứ phẩm. Ngài không xu thời nên không làm được quan to. Trong gia đình, ngài là một người đạo đức luân lý số một.

Ngài Tùng Am lúc vào tri phủ Tuy Hòa đã tỏ ra một ông quan rất thanh liêm như mẫu chuyện sau đây:

Một hôm có một người đàn bà góa giàu có bị nhà cháy mất sạch khế tờ đất ruộng, xin lập lại tờ khế. Các nha lại muốn ăn hối lộ mụ này nhưng trước phải đem mồi cho quan phủ. Họ bảo đương sự phải có 6 cây bạc. (bạc đồng mụ đầm 1 cây 50$) để làm lễ ra mắt quan họ sẽ xin quan cho. Lúc thấy bạc ngài hỏi thì người đàn bà nói để mừng quan. Ngài liền bảo: “mụ đã bị cháy nhà, của cải mất sạch lấy gì mà sống mà ra mắt ra mũi thôi đem về, để ta xét phê cho.” Mụ năn nỉ mấy Ngài cũng nhất định không nhận. Thầy lại thấy thế nói, “Bẩm quan, thấy quan Tài chánh không được rộng rãi anh em chúng tôi có bảo mụ thành tâm (!) 6 cây bạc mua trà quan xơi.” Nghe thế, ngài liền thịnh nộ rầy nha thuộc: “Ai bảo các anh làm vậy? Các anh muốn bôi nhọ cái thanh danh của tôi sao? Nếu sau còn vậy tôi sẽ trừng trị thẳng tay!”

Thi văn ngài vẫn nhiều những thất lạc vì loạn ly, chỉ còn nhớ được vài bài sau đây:

“Hữu Trí Lưu Giản”
“Năm mươi lăm tuổi được huyền xa.
Bể hoạn thuyền chèo bến đã qua…
Quan chức chầm chầy lên phẩm bốn.
Ruộng vườn lếu láo đủ ngày ba…
Non sông gánh vác nhường cho trẻ
Trăng gió vui chơi bạn với già.
Thử hỏi người đời ai sống mãi,
Bo bo giữ lấy bã vinh hoa?”
                                           TÙNG AM

Tuy ngài làm quan triều Nguyễn nhưng lại rất ngưỡng mộ vua Quang Trung Nguyễn Huệ, nên đã làm bài thơ như sau:

Ruổi rong ra bắc kéo quân quan
Đánh đuổi quân Tàu chục vạn tan
Nói đến mấy triều vua nước Việt
Anh hùng có một chúa Tây Sơn.

Ngoài ra ngài còn để lại một quyển sách chữ hán nhan đề: Ấu học khảo nam thư – Nội dung hướng dẫn việc học tập cho con em trong thời buổi nước nhà cần canh tân.

  1. NGÀI HOÀNG HỮU BẢNG

Ngài em thứ 5 tiếp theo tên là Hoàng Hữu Bảng, tự Mặc tăng, rất thông minh. Lúc mới 15, 16 tuổi văn chương đã điêu luyện. Ngài khinh mạn hết mấy ông Tấn sĩ đương thời. Những văn bài thi phú của các ông Tấn sĩ đều bị ngài chê dở cả, rồi lấy những đề mục ấy đem làm bài khác dâng lên ngài Bình Như xem và chấm cho Ngài. Ngài Bình Như rất yêu quý ngài, định chắc chắn thế nào cũng là một nhân tài trong tương lai của gia đình. Song tiếc thay, chẳng may ngài mắc bệnh lao rồi tạ thế, mới trên 20 tuổi. Lúc đau nằm trên giường, ngài có ngâm một câu đối nôm:

“Đéo mẹ cha mi cứ bắt tau đau đau đớn đớn hoài, ngó như chó đói!”
“Đồ thầy bá nớ mà cho nó tiền tiền bạc bạc mãi chẳng được cóc xơ!”

  1. NGÀI HOÀNG HỮU KIỆT

Ngài thứ 6 tên là Hoàng Hữu Kiệt, tự Châu Thần. Ngài rất mê thơ, cũng đỗ cử nhân, làm quan tri huyện. Lúc bị thải hồi (chủ yếu là do tư tưởng và hành động chống Pháp, ủng hộ cách mạng), về ở núi làm ruộng và chiêu mộ dân cư lập phường. Ngài rất nóng tánh, cương trực, nên bị quan trên ghét.

Ngài rất say thơ, đi đường lẩm nhẩm ngâm thơ, nghĩ thơ, không chú ý đến sự vật trước mặt. Chừng gặp người quen đón lại chào ngài, ngài mới sực tỉnh.

Thơ nôm của Ngài có nhiều câu rất tài tình như hai câu luận trong bài chơi thuyền sông Hương:

“Thức suốt năm canh ngồi ngủ gục
Uống vô ba chén nói tam khào”

Ngài còn nhiều bài thơ tả cảnh tả tình rất hay đều được Ngài biên chép thành tập rất công phu, gọi là: “Phúc Khê thi tập”, nhưng cũng đều bị thất lạc vì biến cố chiến tranh. Ngài qua đời ở phường Phúc Khê, thọ 60 tuổi.

Hiepky2018 2

Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi ngài Châu Thần Hoàng Hữu Kiệt với lời khen tặng :Lão đương ích tráng” 

(Tài liệu này do Gs.Ts TRẦN ĐÌNH SỬ- cháu ngoại Đ 16 của ngài Châu Thần tặng Nhà thờ Chi Nhất A )

 

Hh Kiet

ngài Châu Thần Hoàng Hữu Kiệt

7.Ngài HOÀNG HỮU TIÊU

Ngài thứ 7 tên là Hoàng Hữu Tiêu, tự là Ứng Khôi, tánh rất thật thà, chơn chất. Say sưa nghiên cứu về khoa tử vi. Đã chấm số cho con cháu rất nhiều. Ngài thọ được 49 tuổi.

( HÀM QUANG và BÍCH HỒ sưu tầm )

Con Trai Hh Xung

Bia mộ  tại làng Bích khê của các ngài Đ 14- con của ngài Hoàng Hữu Xứng