Bài 2.
NGÀI TUẦN PHỦ HOÀNG HỮU XỨNG
VÀ VỤ THẤT THỦ THÀNH HÀ NỘI (1882)
Ngày 8 tháng 3 năm Nhâm Ngọ (25-4-1882) Henri Rivière đánh thành Hà Nội. Thành mất. Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết. Nhân vật số hai trọng nhậm Hà thành lúc bấy giờ là tuần phủ Hoàng Hữu Xứng bị giặc Pháp bắt. Ông tuyệt thực để phản đối và khước từ mọi lời lẽ dụ dỗ mua chuộc của giặc Pháp.
Hồi tôi còn là học sinh ở Huế, lúc học sử đến chỗ này, thầy dạy sử của tôi là ông Cao Hữu Triêm, đọc cho chúng tôi chép vào vở rằng: “Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng lúc đầu tuyệt thực để phản đối, sau không hiểu vì lẽ gì, đã ăn lại và chấp nhận thương lượng với người Pháp”.
Sự kiện này được đề cập đến trong Hà thành thất thủ ca như sau:
Quan tuần phủ thất kinh khi nớ
Đau lăng nhăng ba bữa lại lành…
Nhưng cay độc nhất là lời lẽ trong Hà thành chính khí ca:
… Văn như tuần phủ nực cười.
Bích chi là hiệu, năm mươi tuổi già
Biết bao cơm áo nước nhà
Kể trong sĩ tịch cũng là đại viên
Chén son chưa cạn lời nguyền
Nỡ nào bỗng chốc quên liền ngay đi
Lại còn quanh quẩn làm chi?
Hay là thương tiếc vật gì ở đây
Hay là có chước bình Tây
Trước kia hoảng hốt sau này nghiên tinh?
Hay còn tiếc cái xuân xanh
Tìm nơi kiếm chốn gieo mình trú chân?
Hay là còn chút từ thân
Đã toan tịch cốc mấy lần lại thôi?…
Sau này thỉnh thoảng nếu chúng ta bắt gặp đâu đó trong sách vở những lời lẽ xúc phạm kiểu đó, thì nguyên thủy đều từ, “Hà thành thất thủ ca” và “Hà thành chính khí ca”.
Chúng ta là con cháu họ Hoàng, trước tiên cần phải tỉnh táo lắng nghe những dư luận như vậy. Cũng không nên oán trách tác giả của hai bài thơ trên. Họ cũng là những người có lòng yêu nước. Sau khi thành mất, cực kỳ xúc động trước cái chết của quan tổng đốc Hoàng Diệu, có lẽ họ muốn ai cũng phải noi gương Hoàng Diệu, tuẫn tiết theo thành chăng? Và nếu ai không làm được như vậy thì đều là kẻ đáng nguyền rủa chăng?
Như chúng ta biết, “Hà thành thất thủ ca” và “Hà thành chính khí ca”, có thể là do cùng một tác giả nặc danh (có thuyết cho rằng tác giả là Nguyễn Văn Giai, tục gọi là Ba Giai – một dạng “Siêu quậy” thời bấy giờ.) Đấy là hai văn bản truyền miệng, có lẽ được sáng tác dựa lên tin đồn và dư luận sau cơn hoảng loạn của vụ thất thủ. Tác giả của văn bản chưa chắc đã có đủ thông tin cần thiết để hiểu rõ nội tình và sự kiện. Và dư luận, tin đồn thì lắm khi rất độc ác và không mấy chính xác.
Rất may là ngoài hai văn bản thi ca bình dân đó, tất cả những bộ sách sử mà chúng tôi tham khảo được, không có tài liệu sử học nào lên án ngài Hoàng Hữu Xứng theo kiểu đó cả.
Sách (1884 – 1945) Sài gòn – 1961 của sử gia Phan Khoang viết: “Tuấn phủ Hoàng Hữu Xứng đi tìm Hoàng Diệu, vào hành cung bị quân Pháp bắt giữ lại, ông nhịn ăn, lâm bệnh”. Như vậy ngài Hữu Xứng đã không bỏ thành chạy trốn như nhiều vị đồng liêu khác. Trong cơn binh lửa, ngài vẫn ở lại trung tâm của điểm nóng để toan hợp sức cùng Hoàng Diệu đối phó với tình hình. Chỉ tiếc là lúc ấy, Hoàng Diệu đã tử tiết. Ngài Hữu Xứng còn bám trụ là vì Hoàng Diệu chứ không phải vì “thương tiếc vật gì” như lời lẽ trong bài Hà thành chính khí ca. Ngài làm quan lâu năm ở nhiều nơi như Hà Nội, Huế, Quảng Nam mà cũng không hề có “vật gì” ở các nơi ấy (nhà cửa, ruộng đất…) ngoài một ngôi từ đường khiêm tốn ở làng Bích Khê.
Trong bộ quân sử (quân đội Sàigon cũ) đồ sộ của sử gia Phạm Văn Sơn – quyển III – – 1847 – 1945) Saigon – 1971 nói rõ hơn về thái độ của Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng: “Các tướng sĩ chạy hết. Còn lại tuần phủ Hoàng Hữu Xứng chạy đi tìm Tổng đốc Hoàng Diệu, khi đến hành cung thì mới hay là ông đã thắt cổ chết. Cũng vừa lúc đó, quân Pháp tràn tới bắt được ông và giam lại hành cung…”
Trước đó, trong chức vụ phụ tá cho Hoàng Diệu, ngài Hoàng Hữu Xứng đã hai lần giao dịch với Henri Rivière. Đến khi “địch quân bắt đầu công kích lúc ấy là tám giờ mười lăm phút, Hoàng Diệu và tuần phủ Hoàng Hữu Xứng đốc quân chống cự (Phan Khoang – sách đã dẫn)
… Sau khi chiếm xong thành Hà Nội, người Pháp cho đi mời Án sát Tôn Thất Bá. (người trước đó được tổng đốc Hoàng Diệu cử đi thương thuyết, thấy súng nổ bỏ trốn về làng Nhân Mục – Hà Đông) về để giao lại tỉnh thành. Bá về bàn lại với tuần phủ Hoàng Hữu Xứng, bị ông này phản đối. Bá khóc lóc kể lợi hại. Tuần phủ Xứng bằng lòng để một mình Bá nhận. Pháp cử Bá làm quyền Tổng đốc Hà Nội vào ngày 29/4/1882. (Vì thế cho nên bấy giờ người ta nghi cho Bá đã có liên lạc trước với quân cướp nước?)” (Phạm Văn Sơn – sách đã dẫn)
… Và Tôn Thất Bá chạy qua làng Nhân Mục, người Pháp cho mời về để giao lại tỉnh thành, Bá đến thương lượng việc ấy với Hoàng Hữu Xứng. Hoàng Hữu Xứng để một mình Bá nhận rồi tư các ông Hoàng Tá Viêm, Nguyễn Chánh và các tỉnh gần nói rằng nếu có thể thừa thế được thì cứ làm chứ đừng lấy việc nhận thành làm ngại (Phan Khoang – sách đã dẫn).
Tóm tắt, ngài Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng đã có thái độ tích cực:
– Không bỏ chạy mà đốc quân chống cự rồi ở lại bám giữ thành cho đến khi bị giặc Pháp bắt giữ và bị khống chế.
– Tự nguyện tuyệt thực chứ không phải “nhịn đói ba hôm thành bịnh” như lời lẽ trong Hà thành thất thủ ca.
– Bề ngoài, ngài chịu để Tôn Thất Bá nhận thành nhưng vẫn ngấm ngầm ra lệnh cho các tỉnh thành tìm cách đánh Pháp.
Vì sao ngài lại chấm dứt tuyệt thực? Trước tiên, đó là chỉ dụ của vua Tự Đức do khâm sai Trần Đình Túc từ Huế mang ra Hà Nội, truyền ngài phải chấm dứt tuyệt thực để lo giải quyết tình hình sau khi thành bị Pháp chiếm đóng.
Trần Đình Túc cũng đã chuyển lời của cụ bà Lê Thị Hơn, thân mẫu của ngài Hoàng Hữu Xứng: “Tổng đốc đã tự vẫn. Các ông đề đốc, bố chánh, án sát, lãnh binh đã chạy trốn nay con cũng tuyệt thực cho đến chết thì Hà thành sẽ ra sao? Con phải sống để lo cho dân trước đã sau rồi phải về kinh chịu tội với triều đình. Miễn con đừng đầu hàng, theo giặc là được.”
Năm ấy cụ bà Lê Thị Hơn đã 73 tuổi và sẽ sống thêm được bốn năm nữa. Đối với ngài Hoàng Hữu Xứng, lệnh vua và lời mẹ đều không thể không tuân. Vì vậy ngài phải chấm dứt tuyệt thực. Đọc đoạn này, ta còn suy ra rằng từ khi ngài bị giặc Pháp bắt và tuyệt thực ngày 25-4-1882 đến khi Trần Đình Túc từ Huế mang lệnh vua ra đến Hà Nội, thời gian đi về rất dài, không thể nói như “Hà thành thất thủ ca” là “đau lăng nhăng ba bữa lại lành”. Theo tài liệu của gia đình họ Hoàng thì cuộc tuyệt thực kéo dài nhiều ngày đêm, diễn ra trên hành cung Hà nội, và cả đến khi giặc Pháp đưa xuống tàu chuyển về Huế. (Theo lược sử gia đình của Hàm Quang và Bích Hồ)
Ngài Hoàng Hữu Xứng đã tuyệt thực như một hình thức đấu tranh để phản đối. Trong phương thức đấu tranh này không hề có yêu cầu là người tuyệt thực phải nhịn ăn đến chết. Thánh Gandhi của Ấn Độ đã tuyệt thực hàng chục lần trong khi đấu tranh với thực dân Anh. Tăng ni và đồng bào phật tử ở miền Nam Việt Nam cũng thường tuyệt thực để chống chế độ Saigon cũ. Những cuộc tuyệt thực ấy đều có thời hạn chấm dứt. Lịch sử và công luận thông minh tỉnh táo và nhân đạo không hề lên án họ vì họ đã không tuyệt thực đến chết.
Chúng ta cũng tỉnh táo và yên tâm rằng tiền nhân của chúng ta – ngài Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng đã không hề giống như những gì đã mô tả trong một số sách vở trước đây.
Chúng ta là con cháu, cũng không thể có ý nghĩ mong muốn ông cha mình tự tử để con cháu đời sau được thơm lây. Ý nghĩ ấy, xét cho cùng, cũng là bất hiếu, bất hạnh và ích kỷ.
HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN (đời 16)

tranh vẽ của người Pháp về thành Hà Nội vừa bị chiếm năm 1882- (Cục lưu trữ quốc gia Pháp ở Aix en Provence)
