Bài 19
HỌ HOÀNG
CÓ NHỮNG NÀNG DÂU TUYỆT VỜI
Thử nhìn lại lịch sử phát triển của làng Bích Khê ta với hơn 500 năm kể từ 3 ngài Thượng Thỉ Tổ của 3 họ Hoàng Lê Đỗ từ miền Bắc theo chân chúa Nguyễn vào đất Quảng Trị khai hoang dựng nghiệp cho đến nay đã
trải gần 20 thế hệ con cháu kế truyền, hầu như trên cả chục đời tổ tiên về
trước đều lấy Nông làm gốc. Riêng họ Hoàng, phải đợi đến đời thứ 11 dòng họ mới có được một bà dâu quí dám khai phóng tư duy, vượt lên tập quán an phận thủ thường của phần đông nữ giới VN thời ấy để tiếp cận với chữ nghĩa sách vở, nuôi một hoài bão lớn lao, mong sao cho con cháu mai sau được đổi đời” để chúng không phải như cha ông chúng cứ lận đận vất vả mãi trong cái nghiệp “con trâu đi trước cái cày đi sau” – Ngọn đuốc sáng ấy chính là cụ bà Đỗ Thị Thừa – phu nhân của ngài Hoàng Hữu Tư, tổ chi nhất chúng ta. Bà là con gái của Hậu trung quân đồn phó vệ úy Cẩn Ngọc Hầu Đỗ Ngọc Cẩn, người cùng làng.
Theo gia phổ dòng họ, trong phần hành trạng của bà, cụ Hiệp Biện là người biên tập gia phổ đã giới thiệu khái quát, nhưng rất chân trọng về bà nội mình như sau:
“Tánh bà rất nghiêm cẩn. 30 tuổi đã góa bụa. Có nhiều nơi “đánh tiếng”, bà thề thủ tiết thờ chồng nuôi con. Cho con đi học, thầy xin gì cũng không tiếc; nhất là thấy sách vở, tuy chẳng biết là sách vở gì, nhưng đắt mấy cũng mua. Bà rất chỉnh đốn: nhà cất ngay ngắn chính giữa vườn, có thầy địa lý bàn với các ông con nên xoay hướng lại cho được “nạp tài”, nhưng bà bảo với các con rằng: “nếu giàu mà nhà cửa không ngay ngắn ta cũng không muốn. Nghèo mà ngay thẳng ta vẫn vui thích hơn.” Các con (đây là nói 2 ngài Hữu Lợi và Hữu Oai đời 12) đều vâng theo nghiêm huấn của bà không bàn tới việc góp ý của thầy địa lý nữa. Lúc bà mất, có quan giáo thọ ở phủ là Trịnh Tiên sinh đã truy tặng bà mấy chữ “Thụy Trinh Mẫn” (có nghĩa là một phụ nữ “tiết hạnh và sáng suốt”).
Rất tiếc là bà dâu hiền người họ Đỗ của họ Hoàng chúng ta đã không sống được thêm 5, 7 năm sau để chứng kiến ước mơ của mình thành hiện thực.
Người phụ nữ hiền đức thứ hai được ghi nhận trong gia phổ là bà Lê Thị Hơn, phối thất của ngài Hoàng Hữu Lợi (đời 12). Bà là con thứ hai của ông Lê Quế, làng Cổ Thành – Triệu Phong. Sinh ngày 16-6 Canh Ngọ (1810) đời Gia Long, mất ngày 24-7 năm Bính Tuất (1886) đời Thành Thái. Mộ tại làng Vinh Quang, Gio Linh.
Bà thông nho học, về nhà chồng năm 20 tuổi. Tính tình chất phác, siêng năng, hay giúp đỡ kẻ nghèo khổ. Nhà tuy không dư dật nhưng mọi việc phục vụ chồng con đều rất chu tất. Chồng lâm bịnh phong thấp 3 năm liền không đi đứng được, ngày đêm tận tụy bên giường bệnh cho đến khi chồng bình phục, không hề than van mệt mỏi. Khi con là Hữu Xứng ra làm quan bà cũng không tỏ ra tự tôn, kiêu hãnh. Hễ thấy học trò nghèo hoặc nhân sĩ thì trọng đãi. Lúc về già lại mộ đạo tu hành. Bà được phong Nhị phẩm đoan nhân.
Tiếp theo là bà Nguyễn Thị Sanh – tôn nữ hệ 7. Con gái thứ tư của ngài Tôn Thất Tự, phó lãnh binh tỉnh Nam Định, làng Hương Cần, Thừa Thiên Huế là phối thất của ngài Hoàng Hữu Xứng.Sinh 26/6. Giáp Ngọ (1834) đời Minh MạngMất 29/6. Ất Mão (1915) đời Duy Tân mộ tại Nương Âm, có lăng bia.
Phu nhân cành vàng lá ngọc, về nhà chồng năm 21 tuổi. Tuy chồng làm quan nhưng gia cảnh vẫn thanh bần. Bà phải đảm đang cả những việc nặng nhọc như gánh nước, hái rau, giã gạo, vẫn vui tươi khả ái. Trên thờ phụng gia nương, dưới nghiêm huấn con cái. Chồng làm quan lớn nhưng bà không chút lên mặt. Đối với các vợ sau của chồng, vẫn khoan hòa đoàn kết, không hề ghen tuông. Đối với con ghẻ rất hiếm có. Các ngài Hữu Kiệt, Hữu Tiêu mồ côi mẹ lúc còn măng sữa. Một tay phu nhân chăm lo nuôi dạy, thương như con đẻ. Bà thọ được 82 tuổi, được phong Mạng Phụ Tùng Nhất Phẩm.
Người thứ tư là phối thất của ngài Hữu Kiểm (đời 14) tên là Lê Thị Dung. Sinh 25 – 8 – Giáp Tuất (1874) mất 28/11 giáp Thân (1944). Cáo tặng Thất Phẩm Phu Nhân, mộ tại Nương Âm (Bích Khê).
Phu nhân góa chồng năm 34 tuổi, ở vậy nuôi con. Trong những năm 1930 – 1944, phu nhân còn giúp cho các cơ sở Cách mạng bí mật làm việc trong nhà. Con cái đều tham gia cách mạng – đứng đầu là bà Hoàng Thị Ái thoát ly từ năm 1927. Các con trai là Hữu Xán, Hữu Thước, Thị Du đều là cán bộ kháng chiến chống Pháp. Lúc mất, bà con trong họ có tặng câu đối:
Khổ tiết trấp niên dư diệm đạo, ngô môn hữu liệt phụ. Hà linh thất dật ngoại, đải khan quí tử thành giai nhi.
(giữ tiết 30 năm, ai cũng khen nhà ta có nàng dâu hiền đức. Sống lâu ngoài bảy mươi, chờ xem con trai út nên người).
Người thứ năm là bà Võ Thị Thiêm. Sinh 28-2 Giáp Tý (1864) mất 10-8- Đinh Mão (1927) mộ tại Nương Âm.
Bà về làm dâu siêng năng cần kiệm, ăn ở nhân nhượng, bà con nội ngoại, hàng xóm láng giềng đều quí mến. Lúc mất, họ hàng tặng câu đối:
Trấp dư niên qui vu ngả môn, phụ đạo nữ công, tộc đảng độ côn vô gián ngữ. Lục tuần ngoại đăng thư lịnh thổ, phu quan tử ấu, tử sinh ly biệt bội quan hoài.
(Hai ba mươi năm về với nhà ta, phụ đạo nữ công, làng xóm bà con không nghị luận. Ngoài sáu mươi tuổi bước lên tịnh độ, chồng quan con dại, tử sinh ly biệt cảm bồi hồi).
Nói về các đời sau, đời nào cũng xuất hiện những nàng dâu hiền thảo, tuy gia phổ chưa kịp ghi chép những mỹ đức của họ nhưng bà con ai cũng thừa nhận.
Bà Nguyễn Thị Thanh, phối thất của ông Hoàng Phủ Dực (đời 15) là người vợ hiền, gặp người chồng có tánh ghen tuông vô lý, vẫn nghiến răng chịu đựng. Hai con trai thoát ly đi kháng chiến hoàn cảnh gieo neo vẫn tỉnh táo đối phó với mọi thử thách nghiệt ngã nhất. Bà là người nội trợ có đôi bàn tay vàng, làm được hàng chục thứ bánh; là đầu bếp giỏi có thể nấu được nhiều món ăn Tây, Tàu, chay, mặn nhưng tuyệt nhất là những món ăn Huế.Các nghề thêu,đan đều tinh xảo.
Bà Phan Thị Yến, phối thất của ông Hoàng Ngọc Viên rất coi trọng gia nương, có thể nhớ nằm lòng hầu hết những ngày kỵ giỗ quan trọng của các gia đình họ Hoàng.
Bà Nông Hét (Việt Kiều lâu năm ở Lào) phối thất của ông Hoàng Hữu Quyến (đời 16), sau năm 1975, chồng bị tai nạn qua đời. Bà can đảm chấp nhận gánh nặng con cái, lần lượt vượt mọi khó khăn, xây dựng các con nên người và thành gia thất.
Lê Thị Huyền Khánh, phối thất của ông Hoàng Hữu Thạnh (đời 16), lời ăn tiếng nói rất dịu ngọt, mà lòng dạ cũng thẳng thắn trung hậu… và còn nhiều tấm gương khác, rất đáng cho con em học tập.
Khoảng hơn 10 năm nay, xuất hiện 2 tấm gương phụ nữ hiền thục đảm đang,được bà con quí mến:
Bà Phạm Thị Mộng Hoa, vợ ông Hoàng Hữu Trung (đời 15), cử nhân Kinh tế, Phó giám đốc Ngân hàng. Làm thủ quỹ ngân sách họ Hoàng trong nhiều năm liền, chẳng những không thất thoát mà còn sinh lời hàng chục triệu.
Bà Phan Thị Cam – vợ ông Hoàng Hữu Chỉ (đời 16), cựu học sinh Đồng Khánh Huế, người làng Hà Mi, rất quán xuyến trong những công việc tổ chức kỵ giỗ lớn nhỏ trong gia đình và ngoài làng,họ.
Các gia đình họ Hoàng ta rất mang ơn những người mẹ, người vợ đã nêu cao những mỹ đức công dung ngôn hạnh của phụ nữ Việt Nam. Họ là những nàng dâu tuyệt vời.
HPNP.
