Trang chủ

Bài 7

 HÒA THƯỢNG THÍCH GIÁC PHONG

TỨC ĐỒNG CHÍ HOÀNG HỮU ĐÀN

Hh Dan

                                                               Di ảnh và di bút của Hòa thượng Tích Giác Phong.

Trong quyển Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm Phổ Môn của Thích Viên Giác ấn hành năm 1968 có dành một chương hơn 20 trang để giới thiệu tiểu sử của một vị cao tăng pháp danh Thích Giác Phong. Bài viết có đoạn như sau:
“Bổn sư chúng tôi quê ở làng Bích Khê, tổng Bích La, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, xuất thân trong một gia đình đại khoa bảng. Thầy đỗ tú tài năm mậu ngọ, lúc 22 tuổi, đồng khoa ấy, anh thầy đỗ Hoàng Giáp. Thầy cũng thông thạo tiếng Pháp, có tài viết liễn đối làm cho người Tàu cũng khâm phục. Sau khi đỗ đạt rồi thầy ở nhà vui thú điền viên. Một hôm thầy đi xem gặt lúa ngoài đồng bỗng có sắc lệnh của vua Khải Định mời thầy về làm bí thư riêng trong văn phòng nhà vua. Tuy được vua trọng dụng nhưng thầy không vì vậy mà tham mùi phú quí, bã vinh hoa. Thầy sớm nhận ra sự vô vị khi phải làm việc bên cạnh ông vua bù nhìn. Chẳng bao lâu, thầy xin từ quan…”

Tiếp theo, bản tiểu sử trong kinh phổ môn ghi hàng loạt công đức tu tập và hoằng pháp to lớn ở Nha Trang, Quảng Trị, Huế, Vinh, Đà Lạt, Hà Nội… ở đâu cũng lập chùa, thuyết pháp, đào tạo tăng tài. Từ trung tâm Phật học của thầy sáng lập ở Nha Trang, sau này sẽ đào tạo nên những vị tu sĩ rất nổi tiếng trong thời kỳ Phật giáo đấu tranh chống chế độ Ngô Đình Diệm và Thiệu – Kỳ: đó là thượng tọa Thích Thiện Minh và hòa thượng Thích Trí Thủ (đều là người làng Bích Khê).

Bản tiểu sử trong kinh phổ môn ghi tiếp:
“Sau khi từ quan, muốn đầy đủ kinh nghiệm, thầy du lịch sang Nhật, sang Tàu,… để tham khảo giáo lý, văn hóa và tình hình Phật sự. Sau đó thầy trở về, đầu tiên khai sơn chùa Giác Phong ở Quảng Trị. Do đó lấy pháp hiệu là Thích Giác Phong… Năm Bảo Đại thứ 10, thầy thọ đại giới ở chùa sắc tứ Tịnh Quang và đắc phát với hòa thượng Hải Đức. Do đó có pháp hiệu Bích Không…”

Thực ra ngài Giác Phong ra nước ngoài không đơn thuần là vì phật sự. Từ năm 1927, ngài đã bí mật tham gia Việt Nam Cách mạng Đồng chí hội với nhiệm vụ xứ ủy Trung Kỳ, đã hai lần đi dự hội nghị ở Quảng Châu. Còn chuyện chữ viết đẹp thì có giai thoại như sau:

Trên đường bôn ba hoạt động cách mạng, có lúc thầy dừng chân ở Sài Gòn. Một hôm tình cờ đi ngang một ngôi trường Tàu mới xây xong ở Chợ Lớn, thấy có bản đề “Cần tuyển người viết chữ Hán đẹp”. Sẵn đang lúc hết tiền, thầy bèn vào xin dự tuyển. Thì ra nhà trường chỉ cần viết mấy chữ Hán để làm bảng tên của trường học này. Thầy chỉ múa bút viết một thoáng là xong. Mười lăm phút sau, chủ trường đích thân bưng một mâm quà đến tặng thầy bao gồm: bút mực tàu, lụa để viết chữ và một bao thư trong đựng 30 đồng bạc (thời bấy giờ là món tiền rất lớn). Ông chủ trường người Hoa lễ phép nói: Lâu nay đã có hàng chục người đến dự thi nhưng chỉ mới hôm nay chúng tôi mới bắt gặp được một người có thư pháp đẹp như vậy”. Sau đó chủ trường dùng xe hơi đưa thầy đi dạo một vòng khắp Sài Gòn Chợ Lớn. Thầy chỉ dùng một ít trong số tiền thưởng, còn lại để nhập vào tiền quĩ của hội. Năm 1930, thầy bị Pháp bắt, ở tù 5 năm. Lúc ra tù xuất gia đầu Phật, làm trụ trì chùa Hải Đức Nha Trang rồi chùa Phổ Thiên ở Đà Nẵng. Năm 1945 thầy tham gia khởi nghĩa Nha Trang. Sau cách mạng tháng 8, được ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị mời về làm ủy viên ở tỉnh. Trong thời chiến tranh, thầy vẫn vừa hoạt động cách mạng vừa xuất bản kinh sách, dạy dỗ tăng ni ở vùng Thanh Nghệ Tĩnh.

Năm 1948 được phái đi làm đại diện ủy ban hành chánh kháng chiến tỉnh tại liên khu 4. Năm 1949 bị bệnh mất tại bệnh viện Phuống (Nghệ An). Mãi đến năm 1976, hài cốt của thầy mới được đưa về nhập tháp ở chùa Hải Đức Nha Trang.

Thầy Thích Giác Phong nói trên tên thực là Hoàng Hữu Đàn – tự Hưng Phủ, con thứ 3 ngài Hữu Tuệ. Bà con họ Hoàng thường gọi thầy một cách vắn tắt là ông Nghè Đàn. Phần lớn các giai thoại trong gia tộc đều nhằm đề cao các vị khoa bảng, bản thân tôi rất ít được nghe ai nói gì về ông Nghè Đàn. Những điều ghi chép trên đây, phần hoạt động về đạo thì do tôi tìm thấy trong quyển kinh Phật. Phần hoạt động cách mạng thì tôi được biết qua lời kể của một số cán bộ lãnh đạo lão thành cách mạng hoạt động cùng với ông ở miền Trung. Những người này gọi ông là đồng chí Hoàng Hữu Đàn. Riêng tôi, dù chỉ được nghe một ít giai thoại về ông, tôi cảm thấy rất thú vị và ngưỡng mộ.                                                                                                                                                            HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN  

Thơ Thiền

Thơ Thiền của ngài Thích Giác Phong