Bài 4
Ngài HOÀNG HỮU TUỆ
(ĐỜI 13)
(Con thứ 7 của cụ Hoàng Hữu Lợi và bà Lê Thị Hơn)
Tự: Thúc Dĩnh – Hiệu: Hòa Phố
Sinh: 13 tháng 8 Nhâm Tý (1852)
Mất: 13 tháng 3 Nhâm Tuất (1922) thọ 71 tuổi
Thông nho học, nhiều lý sự, có xảo năng kiến trúc. Làm trị sự trong làng, xử đoán công minh, mọi người cảm phục. Các đình chùa miếu do cụ quản đốc xây dựng đều khang trang, đẹp đẽ. Hai chùa Tịnh Quang và Linh Quang do cụ xây dựng đã mời cụ làm Hội chủ nên sau này con cháu thường biết biệt danh của cụ là cố Hội.
Phối thất: Bà Mai Thị Hậu, người làng Phường Lãng Hải Lăng – Quảng Trị, sinh năm Nhâm Tý (1852), mất ngày 12 tháng 3 Mậu Thìn (1928) thọ 77 tuổi.
Bà Nguyễn Thị Nghiêu, người làng An Bình – Gio Linh sinh năm Tân Mùi (1871) mất ngày 7 tháng 3 năm Tân Dậu (1922) thọ 51 tuổi.
Con: 4 trai – 5 gái, nhưng đăng thế: 2 trai – 2 gái
- Hoàng Thị Vạn 2. Hoàng Hữu Đàn
3. Hoàng Hữu Thiệp 4. Hoàng Thị Thiên
- Trích bài nói chuyện của ông Hoàng Hữu Hải (đời 15) trong lễ khánh thành lăng mộ ngài Hoàng Hữu Tuệ ngày 29-9-1996 tại xã An Hòa – Long Thành, Đồng Nai.
Ngài Hoàng Hữu Tuệ con thứ 3 của ngài Hoàng Hữu Lợi sinh thời chỉ say mê ruộng đồng và làm công đức thập phương. Nhân dân trong tỉnh thường gọi Ngài là cụ Hội, vì đi đâu ngài cũng thường là hội chủ của các chùa chiền lăng miếu. Trong một buổi đi thăm tá điền của Ngài là Bà Nguyễn Thị B. thôn Vinh Quang thượng vừa sinh con. Ngài thấy bà cơm không đủ no, con không có sữa bú; Ngài đã bảo người giúp việc về mang tất cả văn tự nợ của bà cùng với thực phẩm đến trao cho bà mừng đứa trẻ chào đời. Với lòng bao dung đó Ngài đã tạo nên một thế hệ con cháu biết sống vị tha và vì nghĩa lớn mà hiện thân là:
Con trai trưởng của Ngài – Cụ Hoàng Hữu Đàn từ một vị Tú tài nổi tiếng khắp vùng về văn hay chữ tốt đã tự nguyện trở thành người chiến sĩ CM của TNCMĐCH. Rồi suốt 30 năm ròng với tư cách là một Hòa thượng chân tu nhưng thực chất cụ là một chiến sĩ CM hết chống Pháp đến chống Nhật. CM Tháng 8 vừa thành công giặc Pháp quay trở lại xâm chiếm Tổ quốc ta cụ đã cởi áo cà sa khoác chiến bào chiến đấu trên chiến trường cực Nam Trung bộ rồi trở thành Ủy viên UBKCHC Quảng Trị, ban chấp hành hội liên việt liên khu IV và hy sinh trên bước đường CM.
Con thứ hai của ngài – Cụ Hoàng Hữu Thiệp thân phụ của chúng tôi là một thân sĩ yêu nước. Người phục vụ CM bằng cách lấy nhà cửa, nơi ở cùa mình để tổ chức các cuộc họp của tỉnh Đảng bộ trong những ngày trứng nước của CM. Các nhà CM như Lê Duẩn, Nguyễn Hữu Dực, Lê Thế Hiếu v.v… thường xuyên lui tới và biến nhà cụ thành trụ sở bí mật.
Thân mẫu chúng tôi – Bà Nguyễn Thị Lạc sinh 1990 và mất năm 1987 tại chính trên mảnh đất này – xã An Hòa, huyện Long thành, tỉnh Đồng Nai. Nhắc đến thân mẫu, chúng tôi luôn nhớ đến dòng họ Nguyễn Đăng thôn Vinh Quang hạ, Gio Linh, Quảng Trị một dòng họ Cần vương rồi trở thành dòng họ CM. Một câu chuyện lịch sử trong quá trình phát triển của họ Nguyễn: Bọn hương lý địa phương muốn chiếm đoạt và ức hiếp nên chúng lấy tài liệu đem chôn vào nhà rồi chỉ điểm lính đến bắt, chúng đào tài liệu lên vu khống gia đình họ Nguyễn, rồi bắt đi tất cả từ ông ngoại đến các cậu và các bà con khác; hầu như cả Họ bị bắt, chỉ còn bà ngoại và thân mẫu chúng tôi ở lại nhà vừa đấu tranh vừa tìm đường lo lót quan trường để cứu người thân. Tên tuần phủ ăn tiền xong rồi lẫn tránh. Chính thân mẫu chúng tôi lúc đó chỉ là một cô gái tuổi 30 đến trước tỉnh đường đã đấu tranh vạch mặt và bắt y phải ký lệnh tha mới thả cho đi.
Cả huyện Gio Linh không 1 người dân nào không biết đến cụ Nguyễn Đăng Khoa vị bí thư huyện ủy kiên cường. Giặc bắt được ông, chúng mua chuộc, dụ dỗ ông ra làm quan. Nhưng chính trong phiên chợ Cầu đông nghịt, ông đã ném ly nước vào mặt tên quan 3 Pháp đang dụ dỗ ông chứ không chịu đầu hàng. Giặc bắn ông ngay tại chỗ nhưng 1 tháng sau gần 100 tên Pháp và ngụy quân phải đền tội. Người chiến sĩ hy sinh dũng cảm đó cũng chính là tác giả dịch tài liệu về chủ nghĩa Mác từ tiếng Pháp ra tiếng Việt đầu tiên ở Quảng Trị (theo lời TBT Lê Duẩn). Ông ngoại chúng tôi sinh ra và giáo dưỡng những người con anh dũng như vậy. Khi du kích đưa thi hài của cậu chúng tôi về đến quê làng thì ông cũng mất trong một ngày của tháng đó. Rồi cậu Nguyễn Đăng Dinh chính trị viên huyện đội cũng anh dũng hy sinh. Vài tháng sau cậu Nguyễn Đăng Dung người học sinh thi đỗ loại nhất vào lycée Khải Định và đã trở thành người đại đội trưởng vệ quốc đoàn hi sinh trong trận đánh chiếm đồn giặc ở Đầu mầu. Và vào cuối những năm KC chống Pháp cháu nội Nguyễn Đăng Đệ của ông cũng hi sinh anh dũng trên chiến trường Măng Giang (Tây Nguyên) trong cuộc KC chống Pháp ngài đã dâng hiến cho tổ quốc 4 người con và một người cháu anh dũng của mình. Những người con ngài còn sống như cậu Nguyễn Đăng Trình (tức đại tá Tùng Lâm) người trung đoàn trưởng Vệ quốc đoàn đầu tiên của Quảng Trị. Trong KC chống Mỹ cậu là đoàn trưởng pháo binh nặng đã chôn vùi hàng trăm tên giặc Mỹ trên phòng tuyến Mac Namara ở Cồn Tiên, Dốc Miếu.
Thân phụ chúng tôi mất sớm. Thân mẫu chúng tôi vừa tròn 36 tuổi đã phải một mình tần tảo nuôi dạy 8 đứa con thơ; con cả chưa đến tuổi trưởng thành và con út cũng chưa đến tuổi thôi nôi. Thế mà bà đã dìu dắt chúng tôi vượt qua mọi thác ghềnh. Bà đã cống hiến cho Tổ quốc hai người con trai lớn: anh cả Hoàng Hữu Huy cán bộ CA Khánh Hòa là liệt sĩ trong những ngày đầu KC chống Pháp; anh Hoàng Hữu Hùng là người chiến sĩ hăng say trong những ngày nam tiến và hi sinh tại xã Tân Thới Hòa (nay là Thới Hòa). Q. Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long trên mặt trận miền Tây Nam bộ anh hùng lúc anh vào độ tuổi 20.
Trong những năm đen tối của cuộc KC chống xâm lược thân mẫu chúng tôi luôn luôn là một đảng viên CS kiên cường. Bằng lối nói nhẹ nhàng và sâu sắc bà đã làm cho kẻ thù phải khuất phục và nhân dân tin yêu. Bà sống trong lòng bà con, từ cụ già đến em bé ai cũng quí mến.
Hiện tại các con cháu của bà hầu hết đều sống và công tác ở miền Nam, đang tuân theo lời dạy của bà hết lòng xây dựng quê hương mới trên bất kỳ cương vị nào. Anh Lê Diệu, chị Hoàng Thị Tam – con rể và con gái của bà là những cán bộ lão thành, tham gia CM từ những năm 1936 – 1939, nay sinh hoạt tại xã nhà, luôn là những công dân hăng hái xây dựng địa phương. Anh Phạm Lai con rể thứ ba của bà là một thiếu tá quân đội đã về hưu nhưng tham gia tích cực trong lĩnh đạo của xã nhà trong cương vị BTCB, chủ tịch MTTQ và hội Cựu chiến binh, trong mọi cương vị anh đều hoàn thành tốt và được nhân dân tin yêu. Chúng tôi là con cháu của bà từ cương vị giáo sư, kỹ sư, bác sĩ, tiến sĩ đến công nhân đang sống trên quê hương mới nguyện làm tròn những điều mà thân mẫu chúng tôi đã nhắc nhở trong những ngày sống cuối cùng của người tại xã An Hòa này, những ngày mà bà sống với tiền trợ cấp mẹ liệt sĩ thanh đạm nhưng luôn lạc quan. Trong những ngày tháng đó bà thường vui vẻ nhớ lại những năm tháng hào hùng xưa và đọc cho con cháu những dòng, những chữ trong hải ngoại huyết thư của nhà yêu nước Phan Bội Châu như những lời nhắn lại con cháu trước lúc đi vào cõi vĩnh hằng.
HOÀNG HỮU HẢI-Đ 15

Lăng ngài Hoàng Hữu Tuệ ở Nghĩa trang Đồng hương Quảng Trị tại Bình Dương
Lăng mộ Ngài HOÀNG HỮU TUỆ