Trang chủ

Bài 36

HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN- (Đ 16)

 (HOÀNG THIẾU PHỦ)

1.a

Hoàng Phủ Ngọc Phan

Còn có các bút hiệu Hoàng Thiếu Phủ,Cô Tú trên báo Tuổi Trẻ Cười.-Ngọc Phang Lang trên các báo Thanh Niên-Hồn Việt…

          Sinh năm 1941 tại Huế.Trước năm 1975,học tại trường Quốc Học và Đại học Y khoa Huế.Từ 1963 đến 1966,tham gia các phong trào tranh đấu công khai ở Huế.Từ 1966-1975: Thoát ly ra vùng giải phóng,tham gia kháng chiến chống Mỹ.  Sau 1975: Công tác trong các ngành Điện ảnh,Báo chí,Xuất bản-

Hội viên Hội Điện Ảnh Việt Nam.Hội viên Hội Nhà Văn TPHCM

                                           –  Huy chương Chiến sĩ Văn Hóa.Huy chương Vì Sự nghiệp Văn học Nghệ thuật

                                           –   Huy hiệu Vì Thế hệ Trẻ

                                                     Sách đã in: Quán Ông Đồ.- Chuyện CƯỜI I-II-III,Dưới ánh hỏa châu

  •  Hoạt động Điện ảnh:
  • Đã có khoảng 30 kịch bản phim tài liệu được Xí Nghiệp Phim Tổng Hợp TPHCM thực hiện trong khoảng từ 1978-1986.Kịch bản phim tài liệu “Qua đảo Long sơn” đoạt Nhất -Liên hoan phim VN lần thứ VIII. Phim “Chữ thập Đỏ và bộ xương cá voi trắng”  hợp tác với đạo diễn  Bulgary Stoyan ENEV được bằng khen tại Liên hoan phim Varna (Bulgary).Đặc biệt, kịch bản phim truyện Phạm Công -Cúc Hoa  là phim truyện Video đầu tiên  của Việt Nam đã lập kỷ lục về doanh thu và số lượng người xem.Đây chính là phim đầu tay làm nên tên tuổi của các diễn viên Lý Hùng (Phạm Công)-Diễm Hương (Cúc Hoa) và Phương Dung (Tào thị).

 

 

Luu 4

Những bộ sách công trình nhiều tác giả của Nxb TRẺ do Hoàng Phủ Ngọc Phan tổ chức bản thảo và   biên soạn .             

Sach Khac

  • Trong lãnh vực xuất bản.-    Hoàng Phủ Ngọc Phan đã chủ trì biên soạn,biên tập và tham gia viết bài để xuất bản nhiều bộ sách .Đáng chú ý là những quyển sách công trình,nhiều tác giả,mang dấu ấn văn hóa,bản lãnh chính trị và thương hiệu của nhà Xuất bản TRẺ-TPHCM.Trong dịp kỷ niệm 35 năm ngày thành lập Nhà xuất bản,Ban giám đốc đương nhiệm đã có nhận xét về người tiền nhiệm HPNP như sau:Góp mặt cùng TRẺ trong gia đoạn đầy thách thức của thời kỳ đầu đổi mới,phó giám đốc Hoàng Phủ Ngọc Phan đã góp sức lấp vùng trắng trong mảng sách Thanh Niên,khai thác đa dạng các loại đề tài,để lại dấu ấn của mình trên những trang sách mang đầy lửa nhiệt huyết của tuổi trẻ và bản lĩnh chính trị của một cơ quan xuất bản của Đoàn.Với tài hoa của người cầm bút và tầm nhìn của người làm sách anh đã cùng chung sức làm nên những tác phẩm vừa đáp ứng nhu cầu của bạn đọc vừa nâng tầm thương hiệu của sách Trẻ.Trân trọng tri ân anh Hoàng Phủ Ngọc Phan,Người tài hoa.”
Hpnp Nha Uyen

Hoàng Phủ Ngọc Phan -NHÃ UYỂN vẽ

THƠ TÌNH CẢM

05

Cakhuc

   Thơ sự đời

(còn gọi là Thơ trào phúng… điếu)

     Hoàng Phủ Ngọc Phan rất sở trường loại thơ trào phúng.Trên báo Thanh Niên ông từng  giữ chuyên mục Thơ Trào phúng …điếu,lấy bút hiệu là Ngọc Phang Lang.Trên báo Hồn Việt và Tuổi Trẻ Cưới,gọi là Thơ Sự Đời,lấy bút hiệu Hoàng Thiếu Phủ.Sau đây là vài ví dụ:

TsĐ 2

XÀniÊng

TIN THAM KHẢO. Cách đây không lâu, tại đường Nguyễn Bình- Quận Ngô Quyền-Hải Phòng xảy ra tai nạn giao thông giữa xe máy của một cậu sinh viên với xe hơi của một phụ nữ sang trọng và có chức quyền.Mặc dầu hai bên đều có lỗi nhưng người phụ nữ không cần biết cậu sinh viên bị thương nặng nhẹ như thế nào,trên xe bước xuống la mắng,bắt đền sinh viên làm xe hơi mình trầy sước.Khi cảnh sát can thiệp,làm biên bản và cho chở cậu sinh viên đi cấp cứu,bà ta cự cãi luôn với cảnh sát rồi thản nhiên lên xe rời hiện trường sau khi buông một câu rất sốc: “ CON NGƯỜI KHÔNG QUAN TRỌNG” .( Ý là cái mạng của cậu sinh viên không quan trọng bằng cái xe hơi của bà ta?). Câu nói này khiến “ bổn Phủ” – ( Hoàng Thiếu- ) chợt nhớ đến con Xà Niêng ở trên rừng … và nhớ rừng da diết.

    (Để  hiểu thêm về con nầy,xin  tìm đọc tiểu thuyết Cô gái Xà Niêng của Vũ Hạnh,xuất bản ở Sài Gòn trước 1975.Nhà xuất bản Trẻ tái bản và Xí Nghiệp Phim Tổng Hợp TPHCM dựng thành phim truyện vào khoảng thập niên 1990.)

Biem Hoa Htp

VĂN XUÔI TRÀO PHÚNG

CHUYỆN CƯỜI

CỦA HOÀNG THIẾU PHỦ

  •  ÔNG ” BÔN TẬP  “VÀ THẰNG VĂN HÓA
  • Chúng tôi biết ông từ hồi còn ở trong rừng. Bí danh của ông là Tư Beo, phụ trách một chốt giao thông quan trọng trên đường hành lang. Hôm ấy, có một sự cố gì đó khiến giao thông tắc nghẽn, hàng trăm xe cộ tấp vào bìa rừng, chờ lệnh của thủ trưởng Tư Beo điều độ từng chiếc một tién lên phía trước. Xe nào chở những nhân vật quan trọng hoặc bộ đội chiến đấu được Tư Beo cho ưu tiên chạy trước. Xe chúng tôi chở một số anh em nhà văn nhà báo đi thực tế, bám chiến trường, dĩ nhiên ít hy vọng được ưu tiên. Trong khi chờ đợi, tôi nghe giọng Tư Beo kiểm tra giấy tờ:- Đơn vị nào?- Giáo dục.- Lui sau cùng.Một người khác bước tới đưa giấy công lệnh. Tư Beo nheo mắt đọc, nghi ngờ:- Trong giấy ghi chức vụ của đồng chí là phó trưởng ban… phó là phó, trưởng là trưởng. Sao lại vừa phó vừa trưởng? Đề nghị về đơn vị xác minh lại.Đến lượt tôi trình giấy. Tư Beo hỏi:- Đi đâu làm gì?- Báo cáo đồng chí, chúng tôi là cán bộ biên tập…Tư Beo gật đầu, phất cờ đỏ cho qua, miệng nói:- Bộ đội bôn tập (Bôn tập: đuổi đánh địch) cho lên trước để kịp truy kích địch.Nhờ sự hiểu lầm hai chữ “Biên tập” ra chữ “Bôn tập”, xe chúng tôi bất ngờ được hưởng ưu tiên một. Từ đó thủ trưởng Tư Beo còn có biệt danh là ông “Bôn Tập”.Sau ngày giải phóng, địa phương tôi sắp xếp lại cán bộ, người nào việc nấy. Tôi được đề bạt làm tổng biên tập một tờ báo lá cải của địa phương, do đồng chí Tư Beo trực tiếp chỉ đạo. Mỗi lần họp giao ban ông thường dùng đại từ “thằng” để chỉ những thứ thuộc phạm trù đối nghịch: thằng Mỹ, thằng ngụy, thằng tư bản, thằng đế quốc… Cả những cơ quan do ông trực tiếp quản lý ở địa phương, hễ không vừa ý, ông cũng kêu bằng “thằng”: thằng giáo dục, thằng văn hóa, thằng thông tin… Duy chỉ có cơ quan phụ nữ là may mắn không bị kêu bằng “thằng”.Khổ nhất là cái thằng Lá Cải do tôi phụ trách – tôi cũng khổ mà ổng cũng khổ.Hôm tờ Lá Cải số 01 ra mắt, tôi hí hửng đem một xấp tới trình ổng. Sau khi xem xét một hồi, ông đập bàn la:- Bức tranh này vẽ nhà máy sao không có khói bay? Bộ công nhân đình công, nhà máy ngưng hoạt động sản xuất hả? Phải coi lại lý lịch cái thằng họa sĩ nào vẽ…Rồi ông móc túi lấy gói thuốc Điện Biên bao bạc quăng xuống bàn giải thích:- Coi đây nè… Bao thuốc nhỏ xíu thế này mà người ta vẽ nông trường, nhà máy, xe cày, xe kéo… cái gì ra cái nấy, có lửa có khói đầy đủ. Thế mới đúng là khí thế lao động sản xuất chứ.Do vụ này ông chuyển tôi qua làm biên tập viên đài truyền thanh, coi như hạ tầng công tác. Một hôm, sau chương trình phát thanh buổi sáng, ông cho gọi tôi vào bảo:- Này cậu. Cái bài hát vừa rồi lời chưa tốt.- Dạ thưa chú, không phải cháu sáng tác đâu ạ. Đó là bài “Đảng cho ta một mùa xuân” của nhạc sĩ Phạm Tuyên đấy…- Cái thằng… à cái ông nhạc sĩ ấy chưa thấy hết vấn đề. Ai lại nói: Đảng cho ta một mùa xuân… Thế còn ba mùa kia thì sao? Đảng không cho thì ai cho? Không lẽ một năm 12 tháng, chỉ có 3 tháng là có Đảng, còn mấy tháng kia thì không? Thấy phản động chưa?Tôi thở dài gật đầu. Sau đó xin thôi làm đài truyền thanh chuyển qua làm biên tập viên nhà xuất bản. Gặp hồi sách báo ế ẩm, không có việc gì làm, tôi mang mấy tập báo cũ ở nhà đến cơ quan ngồi xem. Trong tờ ĐÔNG THANH TẠP CHÍ xuất bản thời 1930 có đăng tấm ảnh vua Quang Trung cỡi ngựa bạch rất oai phong. Ngựa do vua Càn Long nhà Thanh tặng, ảnh cũng do Thanh triều sai thợ vẽ truyền thần trong dịp vua Quang Trung sang thăm Trung Quốc (tất nhiên đây chỉ là vua Quang Trung giả. Vua Quang Trung thật, tức Nguyễn Huệ vẫn ở nhà.) Bên cạnh bức ảnh, có một bài thơ chữ Nôm dưới ghi rõ tác giả: Hoàng Tùng Am cung đề. Hoàng Tùng Am là tên chữ của ông nội tôi. Bài thơ này lúc nhỏ tôi đã được cha tôi dạy cho học thuộc, nay nhìn lại bút tích cũ, lòng tôi bồi hồi cảm động.Tình cờ hôm ấy, ông Tư Beo ghé vào cơ quan làm việc. Ông ghé mắt nhìn ảnh vua Quang Trung, khen ảnh đẹp rồi hỏi tôi bài thơ chữ Nôm. Tôi liền đọc:Ruổi rong ra Bắc kéo quân quan
    Đánh đuổi quân Tàu chục vạn tan
    Nói tới mấy triều vua nước Việt
    Anh hùng có một chúa Tây Sơn.
    Ông Tư Beo khen:- Nghe được đấy. Thơ của ai vậy?- Dạ, của một nhà nho, làm quan dưới triều vua Thành Thái nhà Nguyễn.Ông Tư Beo bỗng hỏi một câu ra vẻ có kiến thức:- Ủa. Nghe nói mấy thằng vua triều Nguyễn nó rất ghét Tây Sơn mà sao nó cho phép một thằng quan của nó làm thơ ca tụng Nguyễn Huệ là anh hùng số một?Tôi bắt đầu thấy bực mình với ông thủ trưởng này, nhưng mình là phận lính lác, cũng phải lựa lời mà nói:- Cho phép thì chưa chắc. Nhưng dẫu làm thằng vua mà muốn cấm thằng dân suy nghĩ, không phải là dễ. Ngay thời vua chúa cầm quyền, kẻ sĩ vẫn truyền tụng câu nói bất hủ của Mạnh Tử: Dân vi trọng, xã tắc thứ chi, quân vi khinh nghĩa là phải lấy dân làm trọng, thứ đến là đất nước, còn vua thì coi nhẹ.Ông Tư Beo có vẻ không tin và tất nhiên là không hiểu hết ý nghĩa câu nói của Mạnh Tử. Ông lẩm bẩm:- Vô lý! Dưới thời phong kiến mà cái thằng… à, mà Mạnh Tử dám nói câu đó sao không bị chém đầu?Lúc đó trong bụng tôi nghĩ thầm:- Là vì hồi ấy chưa có Tư Beo. Chứ phải Tư Beo làm vua ở nước Lỗ cách đây vài ngàn năm thì nước Tàu đâu có Khổng Mạnh! Nếu Tư Beo làm vua triều Nguyễn thì ông nội tôi cũng không dám làm thơ ca tụng Quang Trung. Còn bây giờ may mà cuộc vận động đổi mới đã có những chuyển biến tích cực chứ phải ai cũng như Tư Beo thì bọn nhà thơ, nhà văn, nhà vẽ, nhà báo… và nói chung là những cái “thằng văn hóa” như chúng tôi còn bị “bôn tập” dài dài, cứ gọi là chạy vắt giò lên cổ.Bụng tôi nghĩ vậy, nhưng không dám nói ra, chỉ mỉm cười trả lời hiền khô:- Dạ, nếu là hôn quân bạo chúa thì sẽ chém đầu. Nhưng nếu là triều đại vua hiền tôi giỏi thì cái gì thằng dân nói đúng cũng phải lắng nghe vậy.

                                                                                                                                            HTP.

                                            HOÀI KÝ

  •                              DƯỚI ÁNH HỎA CHÂU

 Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Phan nguyên là sinh viên tranh đấu ở Huế thoát ly kháng chiến. Từ Miền Trung trôi dạt vào Sài Gòn, về vùng kháng chiến Miền Đông, Miền Tây Nam Bộ, lên R, sang chiến trường Campuchia… Bút ký của ông là những trang viết để hình dung nét đặc trưng của những chiến trường mà tác giả đã đi và sống. Nhận thức được tầm vóc lớn lao và tính chất bi hùng tráng của cuộc kháng chiến chống Mỹ ông tự biết giấu “cái tôi” nhỏ bé của mình trong cái “chúng ta”của người người lớp lớp. Điều mà ông không thể giấu là cách nghĩ, cách nhìn của một người chiến binh giải phóng xuất thân từ phong trào đô thị. Sự tổng hợp vốn sống từ ba vùng đô thị rừng núi và bưng biền trong tập bút ký Dưới ánh hỏa châu đã làm nên những nét phác thảo rất ấn tượng trên tấm địa đồ của những người đi tìm hình nước. Một điều đáng chú ý, tác giả không gọi tập bút ký của mình là hồi ký mà gọi là hoài ký  có lẽ ông muốn gửi gắm vào thời trai trẻ của mình rất nhiều hoài niệm tốt đẹp.

( Lời giới thiệu của Nhà Xuất Bản TRẺ – TP.HCM & Đại Học Duy Tân – Đà Nẵng – 2012.)

 MỘT SỐ BÀI VIẾT TRONG TẬP HOÀI KÝ DƯỚI ÁNH HỎA CHÂU

DƯỚI ÁNH HỎA CHÂU

                                                                 Ra mắt tập bút ký “Dưới ánh hỏa châu” tại TP HCM

Hpnp Dahc

Vào thời kỳ đất nước còn chiến tranh, đêm nào mà chẳng có ánh hỏa châu lập lòe trên bầu trời. Có thứ phát ra ánh sáng trắng như ban ngày, có thứ đỏ như lửa hoặc xanh dìu dịu như ngọc dạ quang. Đẹp ư? Vâng, có thể nói như vậy nếu đừng nghĩ về những gì đang diễn ra trên mặt đất. Tôi đã lớn lên hết cả thời trai trẻ qua hàng nghìn đêm thao thức dưới những vầng sáng lung linh ấy. Và có một đêm không thể nào quên…

Ấy là đêm thứ hai mươi bốn trong hai mươi lăm ngày đêm quân giải phóng chiếm lĩnh và bám trụ thành phố Huế. Bấy giờ chiến dịch tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 đang đi vào giai đoạn kết thúc. Khoảng trưa hôm ấy, đoàn công tác chúng tôi được lệnh tập kết ở khu vực Đại Nội để chờ đến tối sẽ rút ra khỏi thành phố. Các ngôi nhà lớn trong Hoàng thành điện Thái Hòa, điện Cần Chánh, cung Diên Thọ, Viện Bảo tàng Khải Định… đều chật ních đồng bào lánh nạn. Họ là những người bị thất lạc gia đình hoặc nhà cửa bị bom đạn phá hủy, cứ thấy chỗ nào có vẻ còn yên lành là họ tấp vào trú ẩn. Nhưng không có chỗ nào ở được lâu, chỉ vài quả đạn pháo bắn tới là họ lại bỏ chạy toán loạn, lôi thôi ẵm trẻ dắt già đi tìm nơi khác.

Thực ra không chỉ vài quả pháo mà thường là pháo bầy. Đây là loại hỏa lực đáng sợ từ những dàn trọng pháo đặt trên chiến hạm của quân chư hầu Tân Tây Lan, gọi là pháo cực nhanh. Chúng khai hỏa nhiều khẩu đội cùng lúc như dàn đại hợp xướng, tạo thành một chuỗi tiếng nổ không kịp bưng tai. Mấy hôm trước, một loạt pháo cực nhanh đã rót xuống khu chợ Xép gần cửa Đông Ba, hủy diệt toàn bộ khu dân cư này. Tối hôm đó tôi vào khu chợ đổ nát tìm đường qua cống Lương Y để nắm tình hình. Tôi cảm thấy mặt đất dưới chân mềm nhũng một cánh khác thường. Bỗng một chùm hỏa châu lóe lên, tôi nhận ra mình đang dẫm lên toàn là xác chết, trong số này chắc chắn có không ít người mà trước đây tôi đã từng quen biết. Ớn da gà, tôi quay về, không dám đi tiếp nữa. Lũ chiến hạm Tân Tây Lan đậu tận ngoài cửa biển Thuận An nhưng tìm mục tiêu khá chính xác. Chỗ nào thấp thoáng vài chiếc mũ cối của quân giải phóng là y như rằng trước sau gì pháo bầy cũng dập tới. Rõ ràng phải có tai mắt của địch ở đâu đó chỉ điểm. Trưa hôm ấy trên đường vào Đại Nội, chúng tôi cũng vấp phải một loạt pháo bầy. Sau “bản hợp xướng Tân Tây Lan”, dân chúng hoảng loạn chạy đâu mất cả, chỉ còn lại một người phụ nữ nằm úp mặt bên lề đường như một xác chết. Bên cạnh người bị nạn là một thằng bé chừng bảy tám tuổi, có lẽ là hai mẹ con. Thấy chúng tôi đi qua, nó giương mắt nhìn nửa sợ nửa mừng nhưng không biết nói lời gì để cầu cứu, chỉ khóc lạc giọng. Người phụ nữ này bị một miểng đạn pháo ghim vào đầu, hôn mê nhưng vẫn còn sống. Chúng tôi đặt chị vào một chiếc võng khiêng theo vào Đại Nội. Thằng bé loạng choạng chạy theo mẹ nó.

Trong khu vực Tử Cấm Thành của Đại Nội có một cái hầm tránh bom hình chữ A được xây bằng bê-tông khá kiên cố. Nghe nói hầm này do người Nhật xây từ hồi đại chiến thế giới lần thứ II để tránh bom của phe đồng minh. Chúng tôi để người đàn bà bị thương trong hầm chữ A và dặn đứa bé ngồi bên cạnh để chăm sóc mẹ nó. Đối với vết thương sọ não của chị ta, tổ cứu thương của chúng tôi, do chị Mai phụ trách, chỉ có thể làm vài việc sơ cấp cứu rồi sống chết… nhờ trời!

Khoảng xế chiều, thằng bé đang ngồi trong hầm bỗng chạy bổ nhào ra ngoài kêu:

–  Ba! Ba! Mạ ở trong ni!

Thì ra trên đường có một đoàn người đi tới, đó là một số tù nhân do bộ

đội áp giải. Ba của thằng bé – khổ thay, lại ở trong đám tù nhân. Y bị bộ đội chiến đấu trên thượng thành bắt được quả tang đang sử dụng máy truyền tin – loại máy mà CIA trang bị cho các cộng tác viên mật để thâu thập tin tức. Loạt pháo bầy đã làm sát thương vợ y trưa nay rất có thể do y gọi đến. Y bị trói hai tay sau lưng và dắt đi, rất vội vã nên chỉ ngoái đầu nhìn lại đứa con một cách thê thảm mà không nói gì cả. Thằng bé chạy theo cha một đoạn, đến chỗ cửa thành thì bị giữ lại, đành lủi thủi quay về. Nó hỏi chị Mai:

– Răng họ bắt ba cháu đi mô rứa? Rồi ba có được tha về không?

Chị Mai ôm nó vào lòng, thở dài không trả lời.

Đoàn chúng tôi mãi đến quá nửa đêm mới được lệnh rút quân. Chị

Mai lo liệu cho thằng bé khá chu đáo. Chị để lại cho nó một hộp sữa, một nồi cháo và một cây đèn dầu. Chị luôn miệng an ủi, động viên, dặn nó phải ở lại với mẹ, đừng chạy ra khỏi hầm. Lúc đầu thằng bé có vẻ an tâm, nhưng khi đoàn chúng tôi ra đi được một đoạn, bỗng có tiếng kêu hoảng hốt:

– Cho cháu theo với.

Chính là tiếng thằng bé. Nó cong lưng chạy theo chúng tôi. Vấp té, rồi lại dậy, lật đật đuổi theo. Chị Mai đành phải dừng lại, xoa đầu nó giải thích:

– Các cô chú đi đánh giặc, làm sao đem cháu theo được. Rồi mẹ cháu dậy ai cho mẹ cháu ăn?

Thằng bé trả lời một cách rất tỉnh táo và rất tuyệt vọng:

– Chắc mạ cháu không thức dậy nữa mô. Ở trong hầm, cháu sợ ma quá. Đừng bỏ cháu một mình tội nghiệp cô ơi!

– Đừng sợ! Chung quanh cháu còn có nhiều người, đến sáng họ sẽ tới giúp cháu. Cô phải đi gấp đây.

Thế mà một lúc sau vẫn thấy thằng bé lẽo đẽo theo sau, lại còn kêu réo om sòm mới thật là nguy hiểm. Bí quá, chị Mai đành phải quay mũi súng AK chỉa lên trời và dọa:

– Im miệng, trở về hầm đi không tao bắn.

Thằng bé nín thinh, khựng lại.Thì ra nó cũng biết sợ súng. Chị Mai tạm cho là giải quyết được vấn đề,quay lưng bước nhanh như chạy trốn. Lại một chùm hỏa châu lóe sáng trên bầu trời, khuôn mặt chị Mai nhập nhòa hai dòng lệ. Dưới ánh hỏa châu, thằng bé đứng im như một pho tượng. Cái bóng của nó đỗ dài ra một vệt đen thẫm, ngó như máu trong người nó chảy ra vậy. Nó đã lâm vào bước đường cùng, tới lui gì cũng không được. Không biết nó đứng như thế đến bao lâu và điều gì sẽ xảy ra với nó.

Hơn ba mươi năm qua, ánh hỏa châu của những đêm chiến tranh đã tắt nhưng cái bóng bất động của thằng bé vẫn in sâu vào ký ức của tôi một vùng đen thẫm. Có lúc tôi nuôi chút hy vọng rằng sáng hôm sau, thằng bé sẽ được cứu và chắc bây giờ nó đang sống ở đâu đó. Nhưng có lần xem bộ phim tài liệu Việt Nam thiên sử truyền hình của Mỹ đến đoạn lính Mỹ tái chiếm Đại Nội vào ngày thứ 25, tôi thấy toàn là lửa. Lửa trùm lên Hoàng thành, tràn ngập cả màn ảnh truyền hình. Trong cơn binh lửa ấy, liệu hai mẹ con họ có sống sót được không hay là đã bị cháy thành than và chôn sấp dập ngữa cùng với những tử thi mà bộ máy tuyên truyền của địch rêu rao một cách hồ đồ là “nạn nhân của Việt cộng”?

Công tâm hơn một chút thì có thể gọi số phận thằng bé một cái tên chung là nạn nhân chiến tranh. Nhưng chiến tranh không phải từ trên trời rơi xuống mà có uyên nguyên của nó. Oan có đầu, nợ có chủ. Sau Việt Nam, đến lượt Kosovo, Afghanistan, Iraq, Trung Đông… ở đâu tôi cũng bắt gặp rất nhiều hình ảnh những đứa bé lâm vào hoàn cảnh bi đát như vậy.

Tạm quên đi mối hận thù dân tộc trong quá khứ thì trước mắt vẫn còn những điều cần phải lên tiếng cảnh báo về mối thảm họa của quyền con người và quyền trẻ em ở các nước nhược tiểu trên hành tinh này. Vì vậy, tôi muốn gọi tên số phận của những đứa bé đó một cách trung thực: đó là những nạn nhân chiến tranh của Mỹ.

  • ĐƯỜNG LÊN ĐỈNH NÚI

Hồi học cấp II, tôi được một số bạn bè và huynh trưởng giới thiệu gia nhập tổ chức Hướng Đạo Sinh.Lúc bấy giờ có thể nói đây là môi trường tốt nhất để rèn luyện, giáo dục lối sống của thanh thiếu niên thành phố, chẳng nhũng ở Việt Nam mà còn ở rất nhiều nước khác. Tôi đã học các kỹ năng lều trại, thắt nút, thông tin, cấp cứu thoát hiểm… Vượt qua được chương trình thí sinh, tuyên lời hứa rồi tiếp tục chương trình hướng đạo hạng nhì, hạng nhất. Những thành tích nói trên nói trên đã tạo cho tôi ảo tưởng rằng mình đã trở nên người tháo vát, có đủ bản lĩnh đối phó với những hoàn cảnh khó khăn. Vào đại học, chúng tôi tự lập thành một toán hướng đạo sinh viên. Lúc đầu được các cấp trưởng trong ngành chú ý hoan nghênh. Nhưng vào mùa hè 63, các trường Đại học ở Huế nổ bùng phong trào đấu tranh chống chế độ Diệm. Với danh nghĩa toán hướng đạo sinh viên, chúng tôi cũng tích cực tham gia xuống đường, bãi khóa, tuyên ngôn, tuyệt thực… Sau đó, thật bất ngờ là toán hướng đạo của chúng tôi bị các cấp trưởng trong ngành thi hành kỷ luật, khai trừ ra khỏi Hội hướng đạo vì đã có chỉ thị cấm các hướng đạo sinh hoạt động chính trị. Tôi bèn nhớ lại cái đêm thiêng liêng nhất trong cuộc đời hướng đạo của mình – cái đêm mà tôi được đưa ba ngón tay lên trước ngọn lửa bập bùng mà tuyên hứa. Lời hứa đầu tiên là Trung thành với Tổ quốcTrung thành với Tổ quốc mà không được hoạt động chính trị, thì hóa ra hai chữ Tổ quốc ở đây, chỉ là thứ chữ mật mã dùng trong các trò chơi lớn thôi sao? Nhân đấy tôi còn nghiệm ra mấy điều không ổn khác. Đó là về lý lịch của Huân tước Baden Powell, người sáng lập ra phong trào hướng đạo, mà chúng tôi gọi một cách thành kính là cụ BiPi. Tiểu sử của cụ được ghi rõ trong trong tự điển Larousse thế kỷ 20: Sir Robert Stephenson Smyth Baden Powell, gia nhập lính khinh kỵ của hoàng gia Anh từ năm 19 tuổi và phục vụ liên tục trong quân ngũ cho đến khi về già được phong Trung tướng. Ông đã lập nhiều chiến công xuất sắc ở các thuộc địa Ấn Độ và Nam Phi”. Cần nói thêm một lần, đội quân Anh do cụ BiPi chỉ huy bị vây khốn trong thành Ma-phê-king ở Ấn Độ. Không hiểu cụ BiPi khéo dụ dỗ sao đó mà tập hợp và huấn luyện một băng thiếu nhi ở địa phương. Bọn này làm giao thông, liên lạc, tiếp tế và dẫn đường cho viện binh Anh đến giải vây được cho cụ. Đây là những hướng đạo sinh đầu tiên do cụ BiPi đào tạo. Những trẻ em Ấn Độ cam tâm làm tay sai cho giặc này, chắc được miễn cái vụ tuyên lời hứa “trung thành với Tổ quốc”. Hướng đạo sinh còn có tục lệ cài hoa đỏ vào ngực để tưởng niệm… thánh George, một hiệp sĩ trong cổ tích phương Tây, đã diệt một con rồng ác để cứu nàng công chúa. Xét cho cùng thì từ cụ BiPi (thực dân chuyên nghiệp cỡ bự) cho đến thánh George của cụ, đều chẳng ăn nhập gì đến tổ quốc  Việt Nam này. Về phần tôi, từ khi nghiệm ra những điều không ổn nói trên thì đối với tôi câu châm ngôn Hướng đạo một ngày, Hướng đạo mãi mãi không còn giá trị định hướng như chiếc kim chỉ Nam nữa.

Cũng trong lứa tuổi hai mươi, có lúc tôi muốn trở thành con chiên của Chúa. Lạy Chúa. Tôi chỉ là người ngoại đạo, không tin có chúa ở trên trời. Nhưng mỗi mùa Giáng sinh được nghe khúc nhạc Jingle Bells và những câu tình ca dịu ngọt kiểu “Giáo đường im bóng”:

“… Dáng xinh xinh bao tiên kiều.
Quì dâng thánh kinh ban chiều.
Trong giáo đường đêm Noen ấy.
Ngàn đời tôi mến yêu…

hay kiểu “Hận Tha La”:

Trong đám chiên hiền thương áo trắng

Nghe trời trở gió nhớ quanh quanh…”

– tôi bỗng thấy lòng xôn xao những cảm giác lạ. Rồi một cô bạn trong đội Binh xanh của Đức mẹ đã khuyến khích tôi: “Hãy thử tìm hiểu và sống đạo, biết đâu anh sẽ đến được với Chúa”.  Tôi bèn tìm đọc kinh Cựu Ước, Tân Ước, theo bạn bè đi xem lễ thuộc được vài bài kinh cầu nguyện. Có lần vì tò mò, tôi cả gan trà trộn vào đám con chiên thực thụ, quỳ ở hàng ghế đầu chịu lễ mình thánh. Khi chiếc bánh thánh dính chặt vào đầu lưỡi tôi bối rối chưa biết nên nhai hay nuốt thời may, bánh đã tiêu tan đi rất nhanh chóng. Đến với Chúa theo cách của tôi thật là không nên không phải, nhưng thật tình trong đó cũng có tấc lòng mến đạo. Có thể tôi sẽ đi xa hơn nữa để trở thành một tín hữu Ki-tô giáo nếu không xảy ra vụ những người Thiên chúa trong bộ máy chính quyền Diệm tàn sát dã man những thiếu nhi Phật tử ở đài Phát thanh Huế vào mùa Phật đản năm 1963. Tình cờ được chứng kiến tận mắt cuộc tàn sát này, tôi đã tự nguyện đứng vào hàng ngũ Phật giáo để chống lại những cuộc đàn áp của Ngô triều. Trong giai đoạn ấy, tôi cảm thấy vinh dự được làm Phật tử. Chỉ có một điều trước sau vẫn không thể nhất trí được với các Thầy. Đó là đường lối đấu tranh bất bạo động, được đề cao thành đạo lý, ít nhiều đã đi vào phong trào tranh đấu như một thứ ngụy tín. Ở chùa thường phải niệm Phật. Trong hơn 100 danh hiệu các vị Phật, lúc ấy tôi chỉ tâm đắc có một câu “Nam Mô Đấu Chiến Thắng Phật”. Tuy kiến thức về giáo lý rất lem nhem, tôi cũng biết rằng “Đấu Chiến Thắng Phật” là danh hiệu của Tôn Ngộ Không. Đọc Tây Du, ai cũng biết, Ngộ Không rất bất mãn trước chủ trương bất bạo động của Đường Tăng. Trong vô lượng pháp môn của nhà Phật, Ngộ Không đã chọn cây Như Ý bỗng để mở đường đi đến Niết Bàn và đã thành chính quả.

Vì vậy, khi máy bay B52 của giặc Mỹ rải thảm trên núi rừng làng mạc, và khi xe tăng súng đạn của của bọn Thiệu Kỳ đã thẳng tay đàn áp đồng bào ở đô thị… tôi đâu có đủ định lực để đọc bài Trầm hương đốthay Chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện. Khi ấy những ai không chịu đầu hàng hoặc chấp nhận thất bại một cách dễ dàng, chỉ còn một con đường là chiến đấu với cây súng và lá cờ đỏ trên tay. Tôi đã chọn con đường đó.

Thế là một hôm tôi bí mật thoát ly ra vùng căn cứ. Cô giao liên đưa tôi đến một hang đá trên ngọn núi Kim Phụng, ở phía tây thành phố Huế. Mùa hè xứ Huế, trời nước trong xanh dòng sông trôi bóng phượng hồng rực rỡ. Nhưng trên đỉnh núi này, sớm chiều vẫn chập chùng mây giăng sương phủ. Núi có vẻ đẹp hùng tráng, cô đơn và bí ẩn. Hồi tôi còn hoạt động hướng đạo, đã có lần vào cắm trại ở gần chân núi Kim Phụng. Ban đêm chúng tôi đốt lửa, gậy hướng đạo bịt sắt hướng mũi nhọn ra bốn phía để đề phòng thú dữ. Tuy chưa đến chân núi, cũng lấy làm tự hào là một thành tích mạo hiểm. Thế mà giờ đây cô giao liên dẩn tôi đi với những bước chân nhẹ nhàng thoăn thoắt, coi như chuyện nhỏ thường ngày.

Điều làm cho tôi rất ngạc nhiên và thích thú là đồng chí cán bộ cách mạng đón tiếp tôi chẳng ai xa lạ. Đó là anh T- trước đây cũng là một huynh trưởng hướng đạo. Chính anh đã chỉ đường cho chúng tôi vào cắm trại ở núi Kim Phụng. Anh là một tráng sinh lên đường, có tên rừng là “Beo kiên nhẫn”.

Anh T có một bộ sưu tầm các dấu chân thú rừng, đúc bằng thạch cao hoặc sáp đèn cầy, gồm các lọai voi, cọp, hươu, heo rừng, khỉ, sóc… Ai đến xem bộ sưu tầm này thì anh giải thích “Trong một năm trời, tuần nào mình cũng theo chân những người làm than, củi lặn lội vào rừng mới lấy được dấu chân của bấy nhiêu loài thú”. Cho đến hôm nay, T mới nói cho tôi biết rằng đi sưu tầm dấu chân thú chỉ là cái cớ để vào rừng mà không bị nghi ngờ. Mục đích chính của anh là sưu tầm dấu chân của những người cách mạng – tức “ Việt Cộng” – để bắt liên lạc với tổ chức.

Rồi làm sao mà bắt được liên lạc?

Cậu biết không? Hễ phát hiện được một con đường mòn nào trong rừng là mình xếp ngay giữa đường một đống củi, chỗ nào có dấu hiệu đống củi bị thay đổi chứng tỏ có người đi qua, thì mình ngồi rình trong bụi hết ngày này qua ngày khác. Quả nhiên cuối cùng đã gặp được các đồng chí.

Nghe anh kể, tôi chợt rùng mình vừa xót xa vừa thán phục. Tôi buộc miệng khen:

– Đúng là Beo Kiên Nhẫn.

Anh T. kết luận bằng một giọng cảm khái: Cậu thấy không? Vào hướng đạo, tụi mình chỉ đến được chân núi là cùng. Phải vào cách mạng mới lên đến được đỉnh núi này.

Hai chữ “đỉnh núi” làm tôi liên tưởng đến một câu mở đầu cuốn tiểu thuyết “Núi tuyết Kilimandjaro” của nhà văn Mỹ Hemingway:

“Trên đỉnh núi Kilimandjaro, núi cao nhất của châu Phi- người ta tìm thấy xác của một con beo nằm chết vùi dưới băng tuyết. Không ai hiểu con beo kia làm gì mà leo cao đến độ đó để rồi chết như vậy”

Trong tác phẩm này, Hemingway mô tả một cuộc sống rất phong phú và sôi nổi của một nhà văn trẻ. Bị hấp dẫn bởi huyền thoại con beo chết trên núi tuyết, chàng qua châu Phi lặn lội tìm đến ngọn núi trên, nhưng không lên được đến đỉnh. Trong cơn thất bại rã rời, chàng nghiệm ra rằng mình đã uổng phí rất nhiều thì giờ đuổi theo những ảo ảnh.

Tuổi hai mươi của tôi, cũng đã để uổng phí rất nhiều thì giờ, tìm tòi, thử nghiệm để xác định cho mình một con đường. Nhưng khác với con beo mù quáng và cô đơn của Hemingway, những con Beo kiên nhẫn của cách mạng biết rõ con đường mình đi và cái đích mình phải tới. Khác với anh chàng nhà văn người hùng mệt mỏi trong tiểu thuyết của Heminway. chúng tôi đã đi, đã đến và tin rằng  sẽ thắng.

Các bạn trẻ xứ Huế thân mến! Chắc các bạn không ai lạ gì hòn núi Kim Phụng hay còn gọi núi Thiên Thọ. Đứng dưới Huế nhìn lên trên ấy quanh năm chỉ thấy mây che sương phủ. Nhưng các bạn biết không – ở trên này có một cái hang đầy rêu phong và thạch nhũ nhưng cũng rất nhiều ánh sáng. Chính nguồn sáng ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn và dẩn dắt bước chân tôi qua những tháng năm dài trên đường chiến đấu.

HAI ĐÓA HOA QUỲNH

    Mùa khai giảng năm ấy, tôi vào học trường Quốc Học Huế. Tôi được xếp ngồi ở đầu dãy bàn thứ hai, gần cửa ra vào. Bọn con trai, những đứa ít thuộc bài, hay nói chuyện, quậy phá, ngủ gục hoặc những anh chàng to lớn dềnh dàng, bị học “đúp” (lưu ban)… thường không dám ngồi phía trước vì sợ các thầy “chiếu tướng”. Họ thường tự động tìm nhũng chỗ ngồi kín đáo, hình thành một “xóm nhà lá” ở mấy dãy bàn sát vách tường phía sau cùng. Đặc biệt, những dãy bàn đầu bao giờ cũng ưu tiên cho nữ sinh. Lớp tôi có tám bạn gái, tôi đều phải gọi bằng chị. Nguyên tôi vừa nhỏ tuổi, vừa nhỏ con nên bị coi như còn con nít. Còn các cô coi vậy chứ người nào cũng có thể gả chồng được rồi.

Ngồi ở bàn trước mặt tôi là hai đóa hoa bậc chị, cả hai điều có tên là Quỳnh. Một chị tên Nguyễn Thị Quỳnh, bọn con trai ở xóm nhà lá gọi là Quỳnh ngắn, vì cái tên ngắn ngủn một cách bình dân. Ngồi kế bên Quỳnh ngắn  là Công Tằng Tôn Nữ Bội Quỳnh cái tên sáu chữ rất lục bát, rất quí tộc và rất Huế như thế mà bọn xóm nhà lá cũng chỉ gọi vắn tắt là Quỳnh dài. Quỳnh ngắn có một cái răng cửa bị mẻ mất một miếng lớn, như cánh cửa sổ bị khuyết mất lá sách, nên còn gọi là Quỳnh hở. Quỳnh hở ít khi cười mà mỗi lần lỡ cười, chị thường ý tứ, xòe bàn tay che miệng. Còn nữa. Trong hai con mắt của chị, hình như chỉ có một con là nhìn được. Con kia, con mắt trái cùng bên với cái răng sứt chỉ là con mắt giả, trơ như hòn bi ve và xanh xanh như mắt mèo. Vì vậy, chị có tên là Quỳnh mắt mèo.. Tóm lại, Nguyễn Thị Quỳnh, tức Quỳnh ngắn, Quỳnh hở, Quỳnh mắt mèo có thể gọi bằng cái tên tổng hợp là Quỳnh xấu.

Ngược lại, Công Tằng Tôn Nữ Bội Quỳnh hoàn toàn có đủ tiêu chuẩn để thi sắc đẹp, làm mẫu vẽ tranh, chụp hình lên lịch, lên bìa báo tết… Vì chị ngồi trước mặt tôi suốt cả niên học cho đến nay, dẫu đã mấy chục năm không gặp lại nhưng tôi có thể mô tả nhan sắc của chị một cách tỉ mỉ và đầy cảm hứng nghệ thuật. Nhưng xét ra điều đó không cần thiết trong câu chuyện hôm nay, nên cũng chỉ xin gọi Quỳnh dài bằng cái tên tổng hợp là Quỳnh đẹp.

Thói thường ai cũng thích cái đẹp chứ mấy ai thích cái xấu. Tôi cũng vậy lúc đầu, tôi cũng có xu hướng thiên ái Quỳnh đẹp và coi thường Quỳnh xấu. Chị Quỳnh xấu ơi! Không biết bây giờ chị ở đâu. Nếu như lúc này mà chị còn sống ở đâu đó và đọc đến đây, xin chị đừng buồn tôi nhé. Không biết chị sẽ nở một nụ cười rộng lượng hay là sẽ nhỏ một giọt nước mắt – giọt nước mắt lẻ loi của con mắt bên phải, như hình ảnh sau cùng mà chị để lại trong tâm tưởng của bạn bè.

Tôi cũng không thể không nói đến một điều khác biệt quan trọng giữa hai Quỳnh khiến cho dù họ ngồi gần nhau trong gang tấc mà vẫn nghìn trùng cách biệt. Đó là sự khác biệt giàu nghèo. Quỳnh dài là con một thương gia giàu có; thế lực nhất nhì trong thành phố. Chị đi học bằng xe hơi, hằng ngày có tài xế đưa rước, khi nào bước vào lớp cũng thơm tho và sạch sẽ như một đồng xu mới. Quỳnh ngắn thì nghèo, nhà ở tận bến đò Than, một địa danh gần dưới chân núi Kim Phụng. Hằng ngày, Quỳnh ngắn đạp chiếc xe cọc cạch đi về từ phía ngọn núi xanh xanh ấy. Buổi trưa chị ở lại trong trường. Mùa đông xứ Huế, trời mưa tầm tã và rét buốt tận xương. Không hiểu Quỳnh ngắn đi đứng cách nào mà đến lớp vẫn đúng giờ, có điều chị thường bị ướt đến cả nửa người, ngồi học phải co ro khép nép cố giấu hai ống quần ướt sũng dưới gầm bàn.

Có một lần vào đầu giờ Quốc Văn (bây giờ gọi là môn Văn), Quỳnh ngắn mở cặp lấy sách vở, vô ý thế nào để trong cặp lăn ra mấy củ khoai lang. Tôi thấy chị kín đáo nhìn theo mấy củ khoai lang bối rối nhưng không dám lượm. Một củ lăn vào bàn chân tôi, nghe ấm ấm. Tôi hiểu rằng những củ khoai này là bữa ăn trưa của chị nhưng tôi không dám nhặt lên đưa lại, sợ chị mắc cỡ. Củ khoai lăn xuống chỗ xóm nhà lá thì bị đưa ngược lên như trái banh, gây thành một vụ lộn xộn. Lúc ấy nhầm giờ Quốc Văn do thầy M. phụ trách. Con người  này đúng ra không nên làm nghề giáo. Không hiểu sao lại đi dạy mà lại dạy môn Văn. Dạy truyện Kiều có câu: “Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa – ông giảng: “Vào trong phong nhã nghĩa là khi vào trong nhà thì nó rất phong nhã. Còn ra ngoài hào hoa là khi ra đường thì nó cũng rất hào hoa”. Bài Ngày khai trường của Thanh Tịnh có câu : Hằng năm cứ vào cuối thu lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc… Ông giảng: “ Bàng bạc là nó… nó bàng bạc-nghĩa là nó cứ bàng bạc bàng bạc…”. Dạy dỗ vớ vẩn như thế nhưng đối với học trò thì rất hắc búa. Bữa đó, thấy củ khoai lăn ra, ông quay lại quắc mắt quát;

– Người nào mang khoai vào lớp ?

Cả lớp im thin thít. Tôi thấy Quỳnh ngắn đỏ mặt cúi gầm xuống. Chị nhấp nhỏm tính đứng lên rồi lại ngồi yên. Thầy M. quát đến tiếng thứ ba thì tôi nổi máu nghĩa nghiệp đưa tay lên mạnh dạn đáp:

–  Thưa thầy, đó là khoai của em.

Ông M. ném vào tôi một cái nhìn gay gắt nhưng không nói tiếng nào mà bước đến bàn, mở sổ điểm ghi cho tôi hai con số 0 gọn ơ. Đến lúc này, bỗng chị Quỳnh ngắn đứng bật dậy như cái lò xo. Chị dõng dạc nói:

– Thưa thầy, đó là khoai của em mang theo để ăn trưa, vô ý bị rớt ra. Vậy thầy cứ cho em điểm “0”- đừng phạt trò ấy.

Nói xong, chị thản nhiên bước ra khỏi chỗ ngồi , ung dung cúi nhặt củ khoai mang về bỏ vào cặp.

Thầy M càng nổi cáu:

–  Vậy sao nãy giờ không chịu nhận, làm mất thì giờ.

Ông lại hùng hục mở sổ ghi cho chị Quỳnh hai con số “0” mà vẫn không xóa điểm phạt của tôi. Trong bụng tôi tức lắm nhưng bề ngoài tôi vẫn giữ bộ mặt lãnh lẽo, làm như chẳng mấy quan tâm đến cái điểm quỉ quái của ông ta. Câu chuyện tới tai thầy Kiêm, giáo sư hướng dẫn (bây giờ gọi là giáo viên chủ nhiệm) của lớp.

Thầy Kiêm người Nam bộ dạy môn Pháp văn, nguyên là hiệu trưởng một trường trung học ở Sài Gòn. Nghe nói mấy năm trước, ông tham gia phong trào Trần Văn Ơn, bị chính quyền thuyên chuyển ra Huế dạy học và chỉ định cư trú luôn tại thành phố này. Thầy là nhà giáo dạy giỏi, tận tụy, yêu nghề và thương yêu học trò như cha con. Thầy không bao giờ hò hét mà lớp học khi nào cũng vui vẻ ấm áp. Mỗi năm học, thầy sắm một quyển sổ lưu niệm. Mỗi học sinh điều được yêu cầu tặng cho thầy một tấm ảnh căn cước để dán vào sổ bên cạnh những trang viết gọi là lưu bút kỷ niệm trước khi nghỉ hè. Đó là người thầy đáng kính mến nhất trong đời học sinh của tôi.

Hôm ấy, vào giờ ra chơi, thầy Kiêm gọi tôi và chị Quỳnh ngắn đến hỏi đầu đuôi câu chuyện củ khoai. Nghe xong, thầy an ủi :

-Các trò không có lỗi gì cả. Nếu cần, tôi sẽ xin thầy  M xóa điểm “0” cho các trò. Nhưng cả tôi và chị Quỳnh đều lắc đầu :

– Thưa thầy, không cần đâu. Xin thầy đừng nhọc lòng vì chúng em.

Thầy mỉm cười gật đầu :

– Tốt. Nhưng mà…Thầy nhìn chăm chăm vào mặt chị Quỳnh, hạ giọng nói nhỏ – Hãy cẩn thận, thầy M. là một con người nguy hiểm. Tôi nói nguy hiểm. Hiểu không?

Tôi gật đầu nhưng không hiểu gì cả. Chị Quỳnh cũng khe khẽ gật đầu và hơi nhíu mày. Hình như chị có hiểu.

Độ một tháng sau ngày khai giảng, là lễ Quốc Khánh của chế độ Ngô Đình Diệm, nhăm ngày 26 tháng 10. Lúc này lực lượng võ trang của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam hoạt động mạnh ở nông thôn và vùng núi.Lực lượng cố vấn Mỹ và lính Mỹ bên cạnh quân đội Sài Gòn đã lên đến con số đáng kể. Họ ráo riết xây dựng một dãy tiền đồn tình báo chiến lược ở vùng núi A Sầu – A Lưới thuộc biên giới phía Tây tỉnh Thừa Thiên.

Một buổi sáng, thầy M. vào lớp phổ biến :

– Theo chỉ thị của Nha Học Chánh nhân dịp lễ Quốc Khánh mỗi trường phải cử vài nữ sinh tham gia phái đoàn đại diện đồng bào thành phố đi ủy lạo và quàng vòng hoa cho quân đội Cộng Hòa và đồng minh Hoa Kỳ tại tiền đồn biên giới. Tôi chịu trách nhiệm cầm đầu phái đoàn. Riêng tại lớp này, tôi sẽ chọn cô Quỳnh đi theo phái đoàn để quàng vòng hoa.

Chị Quỳnh ngắn bỗng giật mình. Chị đứng dậy phản đối với giọng gay gắt :

– Thưa thầy Quỳnh nào ạ? Nếu là tôi thì… tôi không thể làm việc đó. Tôi đến đây để đi học chứ không phải đi quàng vòng hoa cho lính Mỹ.

Thầy M. ném một cái nhìn khinh bỉ, gằn giọng;

– Biết rồi! Nhưng không ai thèm nhờ tới cô. Cái bộ mặt Chung Vô Diệm của cô mà đi quàng vòng hoa thì không cần Việt Cộng đánh, người Mỹ cũng phát hoảng, đạp nhau mà chạy.

Lác đác ở dưới xóm nhà lá bật lên vài tiếng cười vô ý thức, nhưng rồi họ kìm lại được. Giữa bầu không khí nặng nề đó, thầy M lại tiếp tục:

– Hồi nãy tôi nói cô Quỳnh, tức nhiên là Bội Quỳnh ấy. Cô hãy chuẩn bị, có lệnh là đi.

Nguyên chị Bội Quỳnh đã xinh đẹp lại rất hoạt bát, tự tin. Chị là ngôi sao của sân khấu học đường. Mỗi năm đến ngày lễ Phụ Nữ, chị thường hóa trang đóng vai Bà Trưng, ngồi trên mình voi diễn hành qua lễ đài để quay phim, chụp ảnh. Đối với những công việc cần đến thế mạnh duyên dáng của chị, Bội Quỳnh thường vui vẻ nhận lời. Lần này thầy M. chọn Bội Quỳnh đi quàng vòng hoa là đúng người rồi. Quỳnh đẹp mỉm cười kiêu hãnh liếc sang Quỳnh xấu, lúc ấy đang cúi gầm mặt xuống. Đối với Quỳnh xấu, những lời mạt sát vừa rồi của thầy M. còn đau hơn những cái tát. Từ con mắt bên phải của Quỳnh xấu, một giọt nước mắt ứa ra lăn dài xuống gò má. Con mắt bên kia đúng là mắt giả. Nó không chảy nước mắt được. Nhìn thấy giọt nước mắt này, nụ cười kiêu hãnh của Quỳnh đẹp vụt tắt. Bàn tay của Quỳnh đẹp kín đáo tìm đến bàn tay của Quỳnh xấu ở dưới hộc bàn siết chặt. Cử chỉ ấy ngọt ngào như những lời an ủi. Lần đầu tiên tôi thấy hai đóa hoa Quỳnh này thật thân mật và dễ thương đến thế.

Thầy M. lại tiếp tục phổ biến ;

–  Vòng hoa thì nhà trường sẽ chuẩn bị. Bội Quỳnh chỉ cần đến đúng giờ, sáng đi chiều về bằng máy bay trực thăng. Nhớ mặc áo dài trắng.

Bỗng Quỳnh đẹp đứng lên lạnh lùng trả lời :

– Thưa thầy, cả em cũng vậy, em cũng thể làm việc đó.

Thầy M. ngạc nhiên hỏi lai :

– Vì sao?

Quỳnh đẹp ngồi im không trả lời. Tuy vậy, thầy M. không hề nổi giận với cô học trò này, chỉ nhẹ nhàng đưa ra lời khuyến cáo :

–                     Cô đã nghĩ kĩ chưa? Nên nhớ nếu tôi báo cáo thái độ của cô với bên an ninh thì sẽ có chuyện phiền phức đấy.

Quỳnh đẹp trả lời lễ phép nhưng rất rõ ràng :

–  Xin thầy vui lòng tìm người khác, cho phép em được vắng mặt hôm ấy.

Thầy M. bối rối quay sang dãy bàn nữ sinh bên cạnh cầu cứu :

–                     Ai tình nguyện đi thay Bội Quỳnh?

Cả sáu cô bạn còn lại điều im lặng.Kể ra trong sáu cô này cô nào cũng khá duyên dáng,tuy không bằng Bội Quỳnh nhưng đều có nhan sắc trên trung bình. .Bình thường có lẽ các cô cũng vui vẻ nhận lời đi quàng vòng hoa nhưng không khí nặng nề hôm ấy khiến ai cũng mất cảm hứng.Thầy M chỉ vào ai thì người đó liền lắc đầu.

Ma xui quỉ khiến sao, lúc ấy từ cổ họng của tôi phát ra mấy tiếng cười khành khạch đầy vẻ thích thú, khiến cả lớp cười theo cái rần.

Tức thì, thầy M. lồng lộn lên, đập bàn rầm rầm quát :

– Cười cái gì? Các người cười ai?

Ông ta đập bàn mạnh quá, không hiểu vô tình hay cố ý, cái cặp táp của ông văng xuống đất vang lên tiếng kêu loảng xoảng. Từ trong cặp văng ra một cây súng ngắn. Cả lớp ngạc nhiên và hoảng sợ ngơ ngác nhìn nhau. Tôi chợt hiểu câu nói hôm nọ của thầy  Kiêm : “Hãy cẩn thận. Thầy M. là một con người nguy hiểm”. Té ra ông M là một tên lính kín.Khẩu súng ngắn văng tới dưới chân tôi cũng như củ khoai lăn tới hôm trước. Tôi đưa chân hất nhẹ nó ra ngoài một chút để ông tự đến mà nhặt lên. Thú thật, tôi cũng rất sợ thầy M. và sợ cả cây súng lục này. Nhưng tôi khinh bỉ ông ta nhiều hơn.

Một tuần lễ sau, cũng vào giờ Văn của thầy M. chúng tôi đang ngồi học thì có giấy mời chị Quỳnh xấu xuống văn phòng. Chị đứng dậy toan bước ra khỏi lớp thì thầy M. bảo:

–  Khoan đã. Sách vở dụng cụ có gì mang theo hết luôn. Đi lâu đấy.

Rõ ràng thầy M. đã biết trước việc này. Chị Quỳnh xấu không phải vào văn phòng. Một chiếc xe bít bùng của cảnh sát đã đậu sẵn bên thềm. Sau này, tôi được thầy Kiêm cho biết thêm :

–  Cô Quỳnh này (Quỳnh xấu) trước đây đã một lần ở tù vì hoạt động cách mạng trong thời chống Pháp. Con mắt bị hư và chiếc răng bị mẻ của cô là hậu quả của những trận đòn tra tấn trong tù. Nếu không bị nhà tù tàn phá nhan sắc thì Quỳnh xấu là một cô gái hoàn hảo, đẹp nết đẹp người, dễ đã mấy ai sánh kip.

Khi biết được điều đó, tự nhiên tôi nảy sinh lòng kính trọng và thương cảm Quỳnh xấu vô cùng. Nhưng muộn rồi. Quỳnh xấu không bao giờ trở lại dưới mái trường. Hôm ấy là buổi học cuối cùng của chị. Đôi khi trong giờ học tôi lơ đãng nhìn qua khung cửa sổ, nhìn ngọn núi Kim Phụng ở phía bến đò Than hiện ra một màu xanh thăm thẳm, tưởng thấy bóng dáng Quỳnh xấu lẽo đẽo đi về một mình trên đường mưa gió. Cho đến nay, đã mấy chục năm xuôi ngược đường đất đường đời, tôi chưa hề có dịp gặp lại Quỳnh xấu. Còn Quỳnh đẹp? Đã đẹp lại giàu có, thế lực- thầy M. không dám đụng đến một cái móng tay móng chân của chị. Chị thi đỗ tú tài, lấy chồng bác sĩ rồi an phận sống trong tháp ngà. Tuy nhiên mỗi lần gặp lại bạn cũ, khi nào chị cũng mừng rỡ hồn nhiên như hồi còn đi học.  Thầy M. với tính cách lính kín, không thể ở lâu trong ngành giáo dục. Mấy năm sau, thầy được bổ nhiệm làm chức Trưởng Ty Cảnh Sát Đặc Biệt. Trong những mùa sinh viên Huế xuống đường tranh đấu, thầy trò tôi đã nhiều lần đối diện nhau qua hàng rào kẽm gai và làn khói lựu đạn cay mù mịt.Bên này chúng tôi vẫn là màu áo học trò hiền lành trong trắng .Bên kia là ông thầy cũ ,nón biệt kích,áo quần rằn ri nghênh ngang đi lại giữa bọn lính mang mặt nạ đầu heo và những con cho bẹc giê sẵn sang xông trận.

Chỉ riêng thầy Kiêm là gắn bó với nhà trường lâu nhất. Một lần sau ngày giải phóng, tôi trở về Huế tìm đến thăm thầy. Thầy mở quyển sổ cho tôi xem lại những dòng lưu bút của tuổi học trò. Tôi bồi hồi nhìn vào bản đồ lớp ngày ấy. Thời gian qua, khuôn mặt mọi người đã thay đổi nhiều.Thầy trò chúng tôi,mỗi người có một con đường, một số phận nhưng hình như ai cũng đã có sự lựa chọn và đã đi đúng con đường của mình.

___________________________
(Phỏng theo chuyện kể của thầy Phạm Kiêm Âu – Trường Quốc Học Huế.
Tên của các nhân vật đã được thay đổi)

           HAPPY BIRTHDAY TO YOU…

Gần nhà ông Trung tá Lê có một khu vườn vắng chủ gọi là vườn Mai Loan. Tuy mang cái tên đẹp như vậy nhưng đây chỉ là một khu đất trống, bốn phía rào sơ bằng kẽm gai và cọc sắt ấp chiến lược , bên trong mọc đầy cây hoang cỏ dại. Nguyên cái vườn nầy là của một viên sĩ quan chế độ cũ bao chiếm được từ những năm trước 1975 rồi giao cho một người lính thuộc cấp ở để trông coi. Hai chữ Mai Loan có lẽ là tên một người đẹp nào đó trong cuộc đời tình ái của viên sĩ quan nầy.

Hồi mới giải phóng, trung tá Lê làm trưởng ban Quân Quản đến kiểm kê thì thấy trong góc vườn rộng mênh mông này có một căn nhà nhỏ. mái tôn vách gạch đơn sơ nhưng khá sạch sẽ gọn gàng. Trong nhà có một người đàn ông trung niên và một bé gái chừng năm, sáu tuổi. Đó là gia đình người lính coi vườn của viên sĩ quan chế độ cũ đã di tản. Người coi vườn rụt rè hỏi trung tá Lê:

Dạ thưa !Như tôi là lính kèn có phải đi học tập không ạ?Nếu cách mạng bắt tôi đi học tập thì con nhỏ nầy không biết bỏ cho ai nuôi, tội nghiệp quá. Mẹ nó thì chết lâu rồi.

Ông Lê nhìn cha con người lính với vẻ thông cảm và ái ngại rồi trả lời một cách thận trọng và rất đúng chính sách:

Nếu anh quả thiệt là lính kèn thì chỉ cần học tập vài ngày ở địa phương để cho thông suốt chủ trương đường lối của chính quyền cách mạng. Còn nếu là thứ dữ thì nói thiệt, tôi cũng không biết làm sao mà giúp đỡ.

Người coi vườn nhanh nhẹn vào trong buồng mang ra một cây kèn đồng sáng chóe, phùng má biểu diễn một hơi rất thành thạo. Ông Lê gật đầu tin ngay và ra lệnh bằng giọng nói nhẹ nhàng:

Thôi được. Trước mắt anh cứ ở đây và tiếp tục coi vườn. Nhớ làm cỏ cho sạch sẽ bớt , đừng để người ta phá phách lấn chiếm tài sản của nhà nước. Sẵn đất bỏ không, anh có thể trồng thêm chút rau quả hoa màu mà cải thiện sinh hoạt cũng được.

Thấm thoát đã gần mười năm qua. Người lính kèn tóc đã bạc. Mấy năm nay ông kiếm được một chân thổi kèn trong ban nhạc âm công của một công ty mai táng, cuộc sống tạm ổn. Cô con gái tên là Bạch Mai, nay đã lớn lên thành một thiếu nữ xinh đẹp. Người lính kèn cũng nòi nghệ sĩ . Tuy hoàn cảnh gia đình còn khó khăn thiếu thốn. ông vẫn dành thì giờ dạy cho con gái ngón đàn thập lục ngày một điêu luyện. Bạch Mai đang học trường Trung Học. Khi còn là một đội viên khăn quàng đỏ cô đã đã biểu diễn đàn tranh trên sân khấu nhà trường , rất được hoan nghênh và nổi tiếng là một cây văn nghệ. Thỉnh thoảng sau mỗi buổi biểu diễn thành công, cô mang một chút hoa và quà tặng về khoe với cha. Những lúc đó người lính kèn cảm thấy rất được an ủi. Căn nhà của hai cha con vẫn như cũ nhưng ngoài sân có trồng thêm nhiều hoa kiểng và đặc biệt là một cây mai trắng sum sê. Dưới gốc mai, chủ nhà bày một bộ bàn ghế bằng đá mài để ngồi uống trà và tiếp khách. Người khách quí và cũng là bạn trà thân thiết của ông là trung tá Lê. Sau thời kỳ quân quản trung tá Lê đến hạn nghỉ hưu nhưng vẫn còn làm trưởng Ban nhân dân ấp một thời gian. Ông là người liêm khiết và nhân hậu nên trong khu vực ông phụ trách tuy phần lớn là gia đình quân nhân chế độ cũ nhưng ai cũng quí mến ông. Cũng nhờ ông có lòng thông cảm nên gia đình người lính kèn vẫn được sống yên ổn trong vườn Mai Loan từ hồi đó tới giờ. Hồi còn làm việc ở ấp, trung tá Lê đã nhiều lần đề nghị sử dụng phần đất trống trong vườn Mai Loan để xây nhà trẻ, trường học hoặc công viên nhưng địa phương không xin được kinh phí nên khu vườn vẫn cứ bỏ hoang.

Sau khi trung tá Lê nghỉ hưu, người thay ông trong chức vụ trưởng Ban nhân dân ấp là Út Bảnh.

Thời gian gần đây. Út Bảnh có vẻ quan tâm đặc biệt tới khu vườn nầy. Đã nhiều lần, Út Bảnh dẩn thêm vài người có vẻ là dân làm ăn tới nhìn ngang nhìn dọc bao quát cả khu vườn, lấy giấy bút vẽ sơ đồ phương án gì đó. Họ không hề nói năng đếm xỉa gì đến người lính kèn. Người lính kèn cảm thấy bất an, tới hỏi ý kiến trung tá Lê. Ông Lê trầm ngâm một lát rồi trả lời:

Cái vụ đó tôi cũng không rõ. Tuy nhiên khu vườn ấy là đất công thì trước sau gì nhà nước cũng sẽ thu hồi để sử dụng vào những việc công ích. Nhưng dầu sao trước khi thu hồi người ta cũng sẽ giải quyết nơi ăn chốn ở cho gia đình anh chứ đâu có thể để cha con anh ra nằm ngoài đường. Chính sách của Đảng và nhà nước là phải như vậy.

Nghe nói thế, người lính kèn cũng tạm thời yên tâm.

Năm nay năm nhuận, hoa mai nở sớm. Riêng cây mai nhà người lính kèn bao giờ cũng nở làm hai đợt. Trước Tết chừng một tháng nở lai rai. Vào Têt mới nở rộ. Ông ta gọi đó là cây mai nhị độ, lấy theo tích Nhị Độ Mai. Chiều hôm ấy ông già mang kèn ra ngồi tập thổi một khúc nhạc mới. Cái nghề thổi kèn đám ma coi vậy chứ cũng phải cập nhật . Ngoài những bài truyền thống như Hồn tử sĩ, Lòng mẹ, Uống nước nhớ nguồn …Nếu người chết là phụ nữ trẻ thì nên thổi bài Mùa Thu Lá Bay– Nam chết trẻ thì chơi Lambada. Nếu là bộ đội cách mạng thì: Đoàn Giải phóng quân một lần ra đi. Nếu là sĩ quan, binh lính chế độ cũ thì Cầu sông Kwai nghe cũng có lý. Gần đâycó thêm Một cõi đi về của Trịnh Công Sơn được các ban nhạc âm công đưa vào danh mục ca khúc mai táng. Lần này người lính kèn dợt lui dợt tới một khúc nhạc đơn giản chỉ có bốn câu. Cô con gái đi học về nghe mấy câu nhạc đó thì không nhịn cười được. Cô giằng cái kèn ra khỏi môi ông già nói:

Ba chơi bài này là lộn rồi. Đây là bài Happy Birthday để mừng sinh nhật chứ đâu phải để đưa đám ma?

Người lính kèn thản nhiên trả lời:

Không lộn đâu. Ba tập bài nầy để chuẩn bị mừng sinh nhật sắp tới của con gái ba đó chớ. Con quên rằng mồng bảy Tết năm nay con đã bước vào tuổi mười sáu rồi ư?

Bạch Mai chợt hiểu. Cô bé bồi hồi xúc động gục đầu vào vai ông già. Người lính kèn nhìn những cành mai trắng khai hoa lấm tấm, nói với giọng hoài niệm:

Ngày xưa mẹ con rất thích hoa mai trắng nên ba trồng cây mai nầy. Sinh nhật con lại nhằm ngày Tết nên mẹ đặt tên con là Bạch Mai. Mẹ còn dặn: nghèo gì cũng phải gắng cho con học đàn tranh. Chừng nào đên tuổi mười sáu, lễ sinh nhật của con phải được tổ chức đàng hoàng-có quà bánh, bạn bè đông đủ và nhất là phải có một cành mai trắng. Lúc ấy con gái của mẹ sẽ mặc áo lụa trắng, ngồi xõa tóc dưới hoa , chơi bản đàn thập lục mà mẹ ưa thích là bài Bến Xuân.

Nói đến đây ông cao hứng hát khe khẻ hát: “ Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước. Em đến tôi một lầnBao lũ chim rừng họp đàn trên khắp bến Xuân…” – À mà này! Con đàn bài nầy đã thuộc chưa đấy?

Bạch Mai mỉm cười:

Ba bắt con tập bài nầy cả trăm lần. Nhắm mắt đàn cũng được.

Hồi xưa mẹ con là một tay chơi đàn tranh có hạng. Cây đàn khảm ốc mà con đang dùng chính là di vật của mẹ đề lại. Năm nay ba định tổ chức sinh nhật con thật chu đáo để hoàn thành tâm nguyện của mẹ.

Câu chuyện tâm tình của hai cha con sẽ còn kéo dài nếu không có sự xuất hiện bất ngờ của hai người khách không mời mà đến. Một người là Út Bảnh, trưởng Ban nhân dân ấp. Người kia là Tư Xước, phó chủ tịch Huyện.

Út Bảnh nguyên là chủ một quán nhậu thịt cầy lấy bảng hiệu là “A!Đây rồi”. Cách đây mấy năm, có một người khách lạ mang một túi du lịch ghé vào quán. Ngồi chưa nóng chỗ bỗng thấy chiếc xe tuần tra của Tư Xước xuất hiện ở đàng xa. Khách hoảng hốt trao cái túi xách cho Út Bảnh, nói nhanh:

-“ Ông chủ làm ơn đem túi xách nầy ra sau cất giấu giùm. Có gì sau nầy tụi mình chia hai”.

Út Bảnh vừa cất giấu xong thì cái túi xách thì xe của Tư Xước đã đỗ xịch trước cửa quán. Tư Xước và mấy nhân viên kiểm tra giấy tờ của ông khách rồi mời lên xe đưa đi,về sau không thấy trở lại. Nghe nói y là một tay cầm đầu tổ chức vượt biên, chuyên lừa gạt người để lấy vàng. Trong cái túi xách mà y nhờ Út Bảnh cất giữ, nếu không phải là vàng thì cũng là một số tiền rất lớn. Từ đó Út Bảnh phất lên như diều. Hắn khôn khéo bỏ ra một ít tiền bạc ủng hộ phong trào nầy, công trình nọ rồi chạy chọt được chức trưởng Ban nhân dân ấp. Cái chức tuy nhỏ xíu nhưng cũng đủ tạo điều kiện cho Út Bảnh làm ăn. Tư Xước lúc này cũng làm đến phó chủ tịch Huyện, hết lòng cất nhắc, hổ trợ cho Út Bảnh. Hai người như đôi bợm gặp thời, chung lưng mở một lúc hai ba nhà hàng, quán bia ôm, điểm mátxa-thực chất đều là những động mãi dâm trá hình. Đối với bọn bất học vô thuật thì chỉ có làm ăn kiểu này mới mau giàu mà thôi.

Bữa nay hai nhân vật này hạ cố đến vườn Mai Loan chắc chắn không có gì tốt đẹp.

Út Bảnh đi thẳng vào đề:

Chúng tôi được lệnh thu hồi toàn bộ diện tích khu vườn nầy để xây dựng một trung tâm phục hồi sức khỏe. Vậy yêu cầu ông già chuẩn bị dọn đi nơi khác để chúng tôi giải phóng mặt bằng.

Người lính kèn choáng váng như trúng một cú búa tạ , sửng sốt kêu lên:

Trời đất. Vậy chúng tôi biết đi đâu giờ!

Út Bảnh nói:

Đi đâu tùy ông. Trước mắt nếu chưa có chỗ tá túc thì có thể ra nơi khu Đền Hoang mà ở tạm. Một số gia đình khác cũng đã được bố trí ra đấy rồi.

Bạch Mai đã nghe rõ mọi chuyện. Cô run run nói:

Chỗ Đền Hoang toàn dân xì ke ma túy, bụi đời. Ở chung với họ chắc con chết mất mấy chú ơi!

Út Bảnh lên giọng dạy đời:

Người ta cũng người, mình cũng người. Người ta ở được sao mình không ở được? Bộ mấy người tưởng mấy người cao sang lắm sao?

Vừa nói hắn vừa quét một cái nhìn sỗ sàng lên những đường nét thanh xuân trên thân thể cô gái mới lớn, mắt ánh lên vẻ ngưỡng mộ phàm tục của một tên ma cô chuyên nghiệp. Những cô gái nhà lành rất dị ứng với ánh mắt này. Bạch Mai khó chịu, quay lưng đi vào nhà trong. Lại nghe Út Bảnh dịu giọng lên tiếng:

“ Chịu khó một thời gian nữa đi. Chừng nào cơ sở phục hồi sức khỏe nầy đi vào hoạt động, tôi sẽ đưa em gái đây vào làm việc, bảo đảm lương hậu, thoải mái thôi.

Người lính kèn nghe câu nói nầy, chẳng những không vui mà còn lo sợ. Ai còn lạ gì những cơ sở làm ăn của Út Bảnh. Tiếng là phục hồi sức khỏe nhưng chẳng qua là kế hoạch che mắt thiên hạ, biến vườn Mai Loan thành ổ mại dâm trá hình. Con gái ông mà sa vào đó, có khác gì nàng Kiều rơi vào tay Tú Bà và Mã Giám Sinh. Ông ngước mắt nhìn Tư Xước cầu cứu:

Xin đồng chí phó chủ tịch xét lại cho cha con tui nhờ được không?

Phó chủ tịch Tư Xước cùng với ấp trưởng Út Bảnh vốn là một đồng một cốt. Ông ta lạnh lùng lắc đầu :

Huyện đã có nghị quyết. Yêu cầu ông chấp hành nghiêm túc.

Út Bảnh nói rõ thêm:

Trước mắt gia đình ông cứ ăn Tết cho vui vẻ, sau ba ngày Tết dọn đi cũng được. Đúng sáng mồng bảy, chúng tôi sẽ đưa xe cơ giới đến san ủi mặt bằng. Chừng đó ông già còn để sót lại cái gì là cái đó kể như bỏ.

Người lính kèn biết rằng những người này đã nói là làm. Nhưng nghĩ đến sinh nhật của con gái dự định tổ chức vào ngày mồng bảy Tết , ông thử năn nỉ:

Hay là xin các ông hoản lại cho chúng tôi thêm một ngày. Qua mồng tám chúng tôi sẽ ra đi, được không?

Út Bảnh lắc đầu:

Không được. Ngày giờ khởi công đã ghi trong hợp đồng với nhà nước, đâu có thể tùy tiện thay đổi.

Hai ông khách đi rồi, ông già ngồi sững sờ, chiếc kèn đồng rơi lăn lóc trên mặt đất hồi nào không hay. Bạch Mai nhặt chiếc kèn lên an ủi cha:

Con nghĩ ra rồi. Mình còn có bác Lê mà. Để con đi hỏi ý kiến bác Lê. Dầu sao cũng chưa hết hy vọng.

Trung tá Lê đã nghe phong phanh chuyện này từ lâu. Nếu chỉ là âm mưu của Út Bảnh thì ông còn có thể can thiệp được. Nhưng đây lại có cả Tư Xước, làm gì cũng lấy danh nghĩa Huyện ra lót miệng thì ông rất khó đối phó .

Vì vậy khi Bạch Mai đến cầu cứu thì ông chỉ biết thở dài lắc đầu than:

Giờ bác cũng không thể làm gì được đâu cháu ơi!

Trung tá Lê nói câu đó với giọng ai oán, như thử trong câu chuyện này chính ông cũng đang ở về phía có lỗi. Bạch Mai hiểu rằng đã hết hy vọng. Sắc mặt cô tái nhợt đồng thời cô cũng nhận ra trên nét mặt và trong ánh mắt của ông Lê cũng có những dấu hiệu của sự mệt mỏi và tuyệt vọng giống như cô. Bỗng chốc cô bé bình tĩnh trở lại. Nguyên Bạch Mai được giáo dục và lớn lên trong sinh hoạt tập thể. Cô đã từng là cán bộ lớp, cán bộ Sao Đỏ phụ trách Đội nên có thói quen tốt là mỗi khi gặp việc gì khó khăn vẫn vui tươi để củng cố tinh thần của mình và động viên người khác. Trong khi Trung tá Lê còn chưa kịp an ủi cô thì cô đã tự trấn an:

Bác mà từ chối thì chắc là không còn ai có thể giúp gia đình cháu được rồi. Nhưng không sao. Hồi nãy mấy chú nói chừng nào cơ sở phục hồi sức khỏe xây dựng xong sẽ ưu tiên cho cháu vào làm việc trong đó. Như thế cũng tốt.

Trung tá Lê nghe câu này thì nhỗm dậy như bị điện giật. Nhìn khuôn mặt ngây thơ trong sáng như bông hoa vô nhiễm của Bạch Mai, ông xót xa nghĩ thầm:chẳng lẽ cô bé nầy không còn chọn lựa nào khác là bước chân vào hệ thống hang động của bọn ma cô như Út Bảnh và Tư Xước?Có thật không ai còn giúp đỡ được cô bé? Không!Bạn bè, đồng chí, đồng đội của ta nhiều người vẫn còn giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan của Đảng và nhà nước. Những người chân chính đã chết hết đâu mà để bọn dòi bọ nầy lộng hành dữ vậy?Không thể được. Bất giác hùng tâm tráng khí trong người ông nổi dậy. Ông đặt tay lên vai cô bé nói với giọng quả quyết và đầy trách nhiệm: “Bác sẽ cố gắng một phen và mong cháu cũng sẽ vững vàng để vượt qua cơn khó khăn nầy. ”

Thế rồi ngay ngày hôm sau, ông đã xông xáo gõ cửa nhiều nhân vật có thực lực, rung động nhiều đường dây tổ chức của Đảng và chính quyền. Sau gần một tháng chạy ngược chạy xuôi không kể ngày đêm, những cố gắng của trung tá Lê đã có kết quả . Ông đã thâu thập được khá đầy đủ bằng chứng về những hoạt động phi pháp của bọn Út Bảnh, Tư Xước. Ngoài việc kinh doanh phụ nữ, bọn này còn có những hành động lạm dụng chức quyền, bao chiếm đất đai, huy động và chiếm dụng vốn, tổ chức đường dây vượt biên . Kể cả vụ Tư Xước và Út Bảnh chiếm đoạt túi vàng của người vượt biên trước kia cũng đã bị phanh phui.

Trong khi đó, tinh thần suy sụp, người lính kèn ngã bịnh mãi đến chiều ba mươi Tết mới gượng gạo ngồi dậy. Ông uể oải mang chiếc kèn ra ngồi dưới gốc mai thử dợt lại mấy câu trong bài hát:

Happy birthday to you   
Happy birthday to you …
Happy birthday, happy birthday
Happy birthday to you.

Giọng kèn mệt mỏi, yếu ớt và run rẩy , khi thì dài lê thê, khi thì lịm dần như một tiếng thở dài não nuột. Bạch Mai im lặng ngồi nghe. Cô hiểu rằng mỗi một hơi kèn nặng nhọc của cha có ý nghĩa như một lời chúc mừng tràn đầy yêu thương. Bỗng nhớ tới tâm nguyện của mẹ, cô bước vào nhà thay bộ đồng phục áo dài trắng của nhà trường rồi mang chiếc đàn tranh khảm ốc ra ngồi đối diện với cha. Mười ngón tay xinh xắn nhảy múa trên mười sáu sợi dây đàn. Mái tóc đen nháy buông xõa xuống hai bờ vai như suối chảy. Những cánh hoa mai như cánh bướm trắng bay đậu trên dòng suối tóc. Cô khe khẻ hát theo đàn:

 Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước. Em đến tôi một lần.
Bao lũ chim rừng họp đàn trên khắp bến Xuân…
Từng đôi rung cánh trắng ríu rít ca u ù u ú…cành đào hoen nắng chan hòa.
Chim ca thương mến chim ngân xa u ù u ú…hồn mùa ngây ngất trầm vương.
Dìu nhau theo dốc suối nơi ven đèo. Còn thấy chim ghen lời âu yếm.
Tới đây chân bước cùng ngập ngừng. Mắt em như dáng thuyền soi nước
Tà áo em rung theo gió nhẹ thẹn thùng ngoài bến Xuân…

Đén đây cô đẩy cung bậc lên cao vút, từng giọt đàn dồn dập thánh thót như thử những giọt máu trên đầu ngón tay nhỏ ra, rơi vào số phận. Giọng hát của cô trở nên nghẹn ngào :

Sương mênh mông che lấp kín non xanh, cánh nhạn vào mây thiết tha…

Giọng hát của cô nhỏ dần, mong manh như sợi chỉ. Mười ngón tay rã rời buông xuôi trên phím đàn. Đàn không đứt dây mà bặt tiếng. Cha cô dường như đã quá mệt mỏi, nghiêng đầu lim dim ngủ. Bạch Mai hiểu rằng buỗi tiệc mừng sinh nhật của cô chỉ có thế và đến đây là hết. Cô nhắm nghiền đôi mắt để cho hai dòng lệ tràn hết ra và chảy dài xuống má.

Bỗng có tiếng trung tá Lê gọi lớn ở ngoài cổng kéo Bạch Mai trở về thực tại. Cô buông đàn chạy ra đón khách thì được nghe Trung tá Lê báo một tin vô cùng phấn khởi :

Hai cha con không phải dọn đi đâu hết. Kế hoạch xây dựng cơ sở phục hồi sức khỏe ở vườn Mai Loan đã bị hủy bỏ. Út Bảnh và Tư Xước đều bị đình chỉ công tác để điều tra. Cả hai đang phải đối diện với án tù.

Bạch Mai mừng rú, chạy vào báo tin cho cha. Hẵn cha cô sẽ sung sướng như người chết đi sống lại. Nhưng kìa! Dưới gốc mai già, cha cô ngồi ngoẹo đầu bên chiếc kèn. Trung tá Lê đến bên lay gọi nhưng da thịt ông đã lạnh ngắt cũng như chiếc kèn đồng mà ông đang ôm khư khư trong người. Trung tá Lê buồn rầu bảo Bạch Mai:

– Muộn rồi cháu ơi! Cha cháu đã ra đi.

Nhìn cô bé ôm mặt khóc nức nở, trung tá Lê thấy lòng xót xa hụt hẫng. Trong vụ Út Bảnh-Tư Xước ông đã hạ quyết tâm đem hết sức mình đánh một trận cuối trong cuộc đời chiến binh, tưởng đã giành được toàn thắng ai dè vẫn muộn một bước. Hình như trong khi đeo đuổi số phận con người-cái xấu, cái ác và nỗi bất hạnh bao giờ cũng rất nhanh chân.

Lại nhìn người bạn láng giềng xấu số vừa lặng lẽ từ giả cõi đời, ông trung tá về hưu cúi đầu ngẫm nghĩ:

“ Như người lính già nầyđã biết bao lần đánh trống thổi kèn để chào mừng những chiến công giả tạo trong các buổi lễ duyệt binh của quân đội cộng hòa ngày trước- đâu có ngờ rằng niềm mong muốn cuối cùng chỉ là được thổi một bài thật vui vẻ để chúc mừng sinh nhật của con gái mà cũng không thực hiện được. Còn như bản thân ông Lê-mỗi lần xuân về lại hoài tưởng đến những cánh mai vàng xôn xao bay vào kỷ niệm. Năm xưa vượt Trường Sơn, khi đến bên bờ sông Ô Lâu bỗng thấy hoa mai rừng rơi đầy trên đường hành quân lỡm chỡm đá tai mèo. Lúc ấy từ trong chiếc đài bán dẩn mang bên mình giọng cô ca sĩ của đoàn Văn Công Giải Phóng bay vút lên như tiếng chim sơn ca, nghe đến nức lòng: “ Ấy ai có đi vô trong chiến trường, hỏi rằng chứ mùa nầy hoa mai đã nở chưa?Đẹp lắm chứ hoa nở khắp chốn. Mùa hoa chiến công nở rộ khắp nơi…”

Nếu như không có những hình ảnh xinh đẹp đó nuôi nấng tâm hồn thì có lẽ giờ đây ông cũng chỉ là một người lính già bị chính mình quên lãng- xét cho cùng thân phận đâu có khác gì người lính thổi kèn kia. ” Kiêu hãnh nhưng cô đơn và mệt mỏi gần như kiệt sức, hơn lúc nào hết, ông trung tá về hưu cảm thấy thấm thía nỗi đau của đời người mà một nhà thơ nào đó đã viết:

 Sương rơi trắng bạc đầu non
Qua truông bạc tóc vẫn còn bơ vơ”…

Sau đám tang, Bạch Mai không dám ở một mình trong vườn Mai Loan. Cô về dưới quê tạm nương náu bà con. Vào sáng mồng bảy có một chú bộ đội mặt mày non choẹt tìm vào nhà cô để chúc mừng sinh nhật. Chú là bạn thân của cô, trước đây cùng hoạt động trong đội văn nghệ học sinh –nay đi nghĩa vụ quân sự ở chiến trường biên giới phía Tây mới được về phép. Thấy nhà cửa đóng then gài, trước sau vắng vẻ, chú đứng ngẩn ngơ một hồi rồi mở ba lô lấy ra một tấm thiệp xinh xắn treo lên cành mai. Đây là loại thiệp có nhạc. Mỗi khi gió thổi qua, cánh thiệp hé mở, bên trong phát ra những âm thanh reo vui như tiếng chim kêu trong chuyện cổ tích. Điệu nhạc vui vẻ nầy vẫn thường vang lên khắp nơi trên thế giới để chúc mừng mỗi con người sinh ra trên hành tinh của nó:

Happy birthday to you
Happy birthday to you …

Chú bộ đội đi rồi, trong cảnh Xuân tịch mịch của vườn Mai Loan chỉ còn cây mai nhị độ cúi đầu lặng lẽ đánh rơi những cánh hoa nở muộn màng bên thềm vắng.

Một số sách của Hoàng Phủ Ngọc Phan đã xuất bản.

Sách Ông Phan

HPNP.

Card Hpnp