Bài 7bis
LÀNG XƯA, CHUYỆN CŨ
HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN
Vừa rồi chúng tôi nhận được bài hội Khuyến Học thôn Bích Khê tổ chức lễ phát thưởng cho học sinh giỏi năm 2013-2014 do thầy Lê Đăng Chinh, giáo viên Anh ngữ trường THCS Triệu Hòa thực hiện. Bác sĩ Hoàng Hữu Hóa là người sưu tầm và gửi những bức ảnh nầy cho trang web, kèm với một câu chú thích: Thầy Lê Đăng Chinh là cháu nội ông Bộ Tương ở làng ta. Mấy chữ “ông Bộ Tương” bỗng khơi dậy trong tôi một loạt hình ảnh nhân vật và sự kiện của làng Bích Khê vào thời chiến tranh chống Pháp.
Hồi ấy gia đình tôi ở Huế, tản cư về làng, được làng bố trí cho ở nhờ tại nhà làng. Đó là một ngôi nhà tranh đơn sơ nằm bên cạnh cái hồ ở trước đình làng. Được ít lâu ba tôi lén “dinh tê” vô Huế, làm thư ký cho hãng vận tải Trương Công huynh đệ của người cháu bên ngoại là ông Trương Công Hy, giao cả đàn bốn chị em chúng tôi cho mẹ tôi chăn nuôi. Mẹ tôi có cái lò nấu rượu lậu tại nhà. Khi nào làng họp thì phục vụ, cau trầu trà rượu cho làng. Còn thường ngày thì mấy ông trong làng hay tụ tập tại nhà này để uống rượu và nhậu lai rai. Làng ta có nhiều nhà trồng dâu nuôi tằm nên mồi nhậu thường là con nhộng tằm xào với bún tàu, cũng rẻ tiến và hấp dẫn. Mẹ tôi nguyên là hiệu trưởng trường Nữ Công Học Hội ở Huế do bà Đạm Phương làm giám đốc nên tay nghề nấu ăn thuộc hàng cao đẳng. Một hôm cánh đàn ông trong làng đi săn được một con chồn cáo lớn bằng con chó, đem đến nhờ mẹ tôi nấu vài món. Khách nhậu chừng mười người. Họ đang chuyện trò rôm rả bỗng trước cửa xuất hiện một đôi thanh niên nam nữ vai mang sọt đựng lá dâu. Cô gái đứng chốt ở bên ngoài còn anh thanh niên bước vào nhà, lấy từ trong sọt ra một cây súng ngắn nói lớn:
– Ở đây ai là Bộ Tuân, đứng dậy theo chúng tôi.
Mọi người xanh mặt ngồi im phăng phắc. Mũi súng chĩa vào một ông ngồi đầu bàn. Ông này hốt hoảng la lên:
– Ôi không không! Tui là Bộ Tương. Không phải Bộ Tuân.
Một vài người lên tiếng nói hộ:
– Dạ, y ta đúng là Bộ Tương, không phải Bộ Tuân.
– Vậy ai là Bộ Tuân, đứng lên đi. Tôi biết chắc chắn có Bộ Tuân ở đây.
Bỗng một người đàn ông cao lớn, mặc bộ pyjama màu trắng đứng lên tốc chạy ra ngoài đường. Hai thanh niên nam nữ lập tức đuổi theo. Ông Bộ Tuân chạy rất nhanh, thoáng cái đã mất hút sau rặng tre. Nhưng chỉ một phút sau, có một phát súng đanh, gọn vang lên. Bà con trong làng xớn rớn, không ai dám ra đường. Hai người cán bộ Việt Minh đã lặn mất tăm mà mấy ông Trùm Nậy, Nhiêu Mót, cai Nghị, Xạ Nhuận, Đoàn Con… trốn trong buồng nhà tôi vẫn còn sợ không dám ló mặt ra. Khoảng gần một giờ sau bỗng nghe tiếng kêu khóc thảm thiết sau rặng tre. Bấy giờ bà con mới dám ra xem thì thấy ông Bộ Tuân nằm sóng sượt trên mặt đất. Té ra ông ta chạy không thoát.
Bấy giờ bà con bắt đầu bàn tán:
– Hai người Việt Minh ấy rõ ràng không phải là dân làng mình cho nên họ mới không biết ai là Bộ Tương, ai là Bộ Tuân.
– Nhưng sao lại giết Bộ Tuân. Ông ta chỉ làm “loong toong” (planton: tùy phái, người chạy giấy, tạp vụ ở công sở)
– Thì tại ngày nào ông ta cũng đi đi về về từ làng lên tỉnh nên Việt Minh họ nghi ông làm gián điệp. Mà có khi là gián điệp thiệt không biết chừng. Ối! Thời buổi này, chuyện đó khó nói lắm.
Hôm sau khoảng một đại đội lính quốc gia trên chợ Sãi hành quân về làng bắt hầu hết đàn ông trai tráng. Mẹ tôi là chủ quán nhậu nên cũng bị bắt. Người đích thân thẩm vấn mẹ tôi là ông Nguyễn Hoài – phủ trưởng (chức vụ tương đương ông quan tri phủ ngày xưa) phủ Triệu Phong. Ông ta đập bàn quát hỏi:
– Bà có liên lạc với Việt Minh phải không? Nếu không, sao tụi nó biết hôm ấy Bộ Tuân có mặt trong quán của bà?
– Dạ, xin đừng nói rứa mà oan cho tui. Tui là đàn bà, tay yếu chân mềm, lo kiếm ba hột gạo nuôi con, đâu có lòng dạ nào mà làm việc cho bên ni bên tê. Nói thiệt, ông Bộ Tuân còn thiếu nợ tui mấy chục bạc tiền rượu, đòi hoài chưa được. Ông chết thình lình như vậy là kể như tui mất luôn khoản tiền đó. Giả sử tôi có muốn liên lạc với Việt Minh giết ông, cũng phải đợi đòi cho được khoản tiền rượu đã chứ.
Ông phủ Hoài phì cười gật đầu:
– Nói rứa cũng phải. Nhưng chồng bà đi mô mà không ở nhà với vợ con? Ông ta theo bên ni hay bên tê?
– Dạ chồng tui không theo bên mô cả. Lâu nay ông vô Huế, làm thư ký cho hãng vận tải Trương Công huynh đệ.
Ông phủ Hoài lại hỏi:
– Làm sao tui biết ông ta vô Huế chứ không phải ra chiến khu? Có ai làm chứng không?
Mẹ tôi hơi bối rối nhưng cũng tìm được câu trả lời:
– Trước khi vô Huế, chồng tôi có làm bài thơ đọc cho tôi nghe. Tôi nhớ hai câu cuối là:
“Con đường mù mịt dài thăm thẳm
Mượn mùi xăng ngạt thế mùi men”
Nếu chồng tui ra chiến khu thì làm gì có mùi men và mùi xăng?
Ông Phủ Hoài chăm chăm nhìn mẹ tôi rồi lại hỏi:
– Bà chắc chắn đó là thơ của chồng bà chứ? Ngoài ra, bà còn nhớ bài thơ nào khác của ông nhà không?
– Dạ chồng tui làm thơ rất nhiều mà không biết đọc cho ai nghe nên cứ bắt tui nghe hoài, thành ra cũng có nhớ được vài bài.
Rồi mẹ tôi đọc:
“Chồng hỡi chồng, con hỡi con
Chàng đi thoắt đã mấy năm ròng
Trông vời nước biếc chòm mây bạc
Chạnh nhớ ngày xanh giọt lệ hồng”
Ông phủ Hoài không hỏi nữa mà lấy khăn tay ra thấm nước mắt. Rồi ông nhẹ nhàng nói với mẹ tôi:
– Té ra chị là vợ của Bích Hồ – Hoàng Phủ Dực phải không? Vậy mà nãy giờ tui không biết. Xin lỗi chị. Tui với anh Bích Hồ là bạn làng thi. Chúng tôi thường gặp nhau trong các buổi họp mặt của hội Cổ học Quảng Trị. Những bài thơ chị vừa đọc, anh em trong hội cũng đều biết và thích lắm. Thôi, chị về đi. Nếu có gặp phiền phức gì với tụi lính tráng trên tỉnh thì cứ nói là bà con với ông phủ Hoài.
Ông phủ Hoài sai lính đưa mẹ tôi ra khỏi cổng. Ngoài ra ông còn cho mẹ tôi mấy loong đồ hộp, nói đem về cho mấy cháu.
Chuyện mẹ tôi thế là tiền hung hậu cát. Ấy là nhờ mấy bài thơ của ba tôi làm tặng cho mẹ tôi. Phần lớn những người bị bắt lên phủ Triệu Phong hôm ấy cũng được xét hỏi nhanh chóng rồi tha về. Nhưng còn vài người – trong số đó có ông Bộ Tương, bị giam không cho về.
Lại nói đêm đầu tiên mẹ tôi bị bắt, nhà chỉ còn mấy chị em nằm ôm nhau khóc. Đêm ấy Việt Minh lại về, đi từng nhà kêu đồng bào ra họp mít tinh ngoài chợ Đường. Có hai cái bóng đen, một nam một nữ xuất hiện bên khung cửa sổ nhà tôi. Có lẽ đó là hai người đã truy sát ông Bộ Tuân hôm trước. Họ gõ cửa mấy lần nhưng chúng tôi sợ quá im thin thít. Bỗng nghe cái bóng đen người nam lên tiếng:
– Nghe nói bà chủ nhà nầy đã bị chúng bắt lên tỉnh rồi. Chỉ còn mấy đứa con nít. Thôi mình đi nhà khác.
Người nữ trả lời:
– Vậy chắc tụi nhỏ đói lắm. Tội nghiệp! Thôi để lại mấy nắm cơm của tụi mình cho tụi nó đi.
Rồi họ treo hai nắm cơm tòn teng bên song cửa sổ. Chờ họ đi xa, chúng tôi ngồi dậy, thắp đèn lấy hai nắm cơm mở ra .Nói là cơm nhưng gói nào cũng độn rất nhiều khoai lang kèm theo một gói muối mè. Chị tôi bùi ngùi nói:
– Đây là phần ăn của họ. Họ nhịn cho tụi mình thì chắc họ phải chịu đói.
Vài hôm sau mẹ tôi trở về. Rồi vài tháng sau ba tôi nhắn tin đã tìm được nơi ăn chốn ở trong Huế, bảo mẹ tôi đưa cả bốn đứa vào. Từ đó chúng tôi rời làng Bích Khê vào Huế ăn học.
Một hôm bà chị tôi đi học về thì gặp một đoàn tù ngồi nghỉ trên bến Tượng ở cống Lương Y trong Thành Nội. Trên lưng áo tù của họ có viết chữ PIM – (Viết tắt tiếng Pháp: Prisonnier – Indochine – Militaire có nghĩa là Tù binh Đông Dương)
Thấy trong đoàn tù có một khuôn mặt quen quen, chị tôi kêu:
– Chú Bộ Tương. Có phải chú không?
Người tù mừng rỡ gật đầu nhưng phải xin phép mấy tay lính áp giải mới được nói chuyện. Thì ra từ ngày ấy, chú bị kết tội làm Việt Minh rồi bị đưa vô Huế giam ở lao Thừa Phủ. Mấy bữa nay, ngày nào tụi lính cũng đưa đoàn tù đi làm lao động khổ sai, đến trưa thì cho tù nghỉ ngơi, tắm rửa ở bến Tượng.
Chị tôi đem chuyện ấy kể lại với mẹ. Mẹ tôi cũng ngạc nhiên và vui mừng. Bà chuẩn bị một gói quà nhỏ gồm những thứ cần cho người tù như xà bong, khăn lau mặt, dao cạo râu, một hũ muối sả, một nắm thuốc rê và mấy chục đồng bạc đưa cho chị tôi và dặn:
– Trưa mai cũng giờ ấy, con ra bến Tượng đón. Hễ gặp chú Bộ Tương thì đưa cho chú. Nói Mạ cháu gửi. Nhớ phải hỏi xin phép tụi lính trước chứ không nó tịch thu đồ, không chừng còn bị bắt nữa.
Nhưng hôm sau không thấy đoàn tù ra bến Tượng. Nhiều hôm sau nữa chị tôi cũng không gặp lại chú Bộ Tương. Không biết chú ấy đã bị đưa đi đâu. Cuộc chiến tranh nầy còn dài, biết bao kẻ ở người đi, kẻ còn người mất. Biết làm sao được.
Phần đầu câu chuyện về chú Bộ Tương là như thế. Phần sau thế nào thì tôi không biết. Giả sử nay hỏi ông thầy giáo Lê Đăng Chinh, cháu nội của chú Bộ Tương – liệu thầy Chinh có thể biết gì nhiều hơn không nhỉ?
HPNP