Bài 25.
HOÀNG NGỌC BIÊN
NGƯỜI LẬP DỊ TÀI HOA
- HOÀNG NGỌC BIÊN-trẻ và già
HOÀNG NGỌC BIÊN ( trẻ và già)
Lys TRANG HẠ giới thiệu
Cho đến nay, trong họ Hoàng không mấy người biết gì nhiều về Hoàng Ngọc Biên ngoài một cái tên thường gọi là SIM. (đây là cây Sim trên rừng.Xin các bạn trẻ đừng đọc giống cái thẻ Sim trong điện thoại di động).Ai không biết thì cứ tạm hiểu như thế.Còn những ai đã hiểu thì sẽ nhận ra ở ông là một tài năng đột xuất có tầm vóc của một văn nghệ sĩ lớn trong đời sống văn hóa của Miền Nam Việt Nam trước năm 1975.Giống Hoàng Hữu Chỉ (Đ16),ông sáng tác trong cá bốn lãnh vực Văn,Thơ,Hội họa và Âm nhạc.Nhưng Hoàng Ngọc Biên (Đ17) may mắn,có điều kiện phát huy và tiến xa hơn. Hồi còn đi học, Hoàng Ngọc Biên là một chàng bạch diện thư sinh, cốt cách tao nhã. Vào thập niên 80 của thế kỷ trước, cái dáng dấp thư sinh ấy đã được rũ sạch để chuyển hóa thành một dạng “quái kiệt”. râu tóc xồm xoàm, áo quần bụi bặm ngó như ông Rô Bin Sơn trên “hoang đảo Sài gòn” hay ông Chêghêvara bên châu Mỹ la tinh. Nhưng Chê có đôi mắt mang hình viên đạn còn Biên thường đối diện với người quen bằng một nụ cười có vẻ thân thiện và những ánh mắt có vẻ diễu cợt. Cái gì cũng “có vẻ”. Thế còn đâu là cái thiệt?
Đó là nhà văn,nhà thơ thứ thiệt – -dịch giả thứ thiệt-họa sĩ tranh thủy mạc, tranh sơn dầu, tranh kỹ thuật số, đồ họa cũng đều là thứ thiệt. Trong giới làm sách báo người ta biết ông là một chuyên viên thiết kế có đẳng cấp, biết thể hiện hài trên hài hòa trên trang bìa cái đẹp và chất trí tuệ của các trường phái mỹ thuật hiện đại. Ông từng là cọng tác viên mỹ thuật, kỹ thuật sáng giá của các báo Thanh Niên,Tuyến Đầu,Kiến Thức Ngày Nay, Điện Ảnh Thành Phố,Thế Giới Mới…ở Thành Phố Hồ Chí Minh. Trong thời kỳ đổi mới, một số tờ báo của Trung Ương cũng mời ông ra Hà Nội để góp ý cải tiến về hình thức cho phù hợp với thị hiếu của bạn đọc. Ông còn là một nhạc sĩ sáng tác ca khúc-không nhiều lắm nhưng không nghiệp dư chút nào.
Ông không có vẻ lập dị mà là lập dị thứ thiệt. Lập dị trong cái nghĩa: ông luôn giữ một khoảng cách vừa phải với mọi người và với mọi chế độ chính trị- Ít xuất hiện giữa những đám đông ồn ào-Tự dấu mình trong những không gian riêng-Tự hiểu giá trị và ý nghĩa của những việc mình làm bất cần sự đánh giá của người khác. Tuy vậy, ông không phải là dạng trí thức vô chính phủ, phi chính kiến. Trước năm 1975, ông cùng một số trí thức Thiên chúa giáo yêu nước tiến bộ và thiên tả như nhà văn Diễm Châu, nhà văn Thế Nguyên chủ trương nhóm Trình Bày và nhà xuất bản Trình Bày ở Sài gòn. Với ông cái dấu ấn của Trình bày có lẽ không hề phai mờ. Nó vẫn còn mãi ít ra là trong cái địa chỉ E.Mail của ông hiện nay. Những năm cuối đời ông cùng gia đình sang địch cư ở Mỹ, cố gắng tiếp tục dựng lại hình ảnh nhóm Trình Bày. Ở tuổi thất thập cổ lai hy, hình như mọi tư duy chính trị, tư duy văn nghệ của ông dần dần nhuốm mùi triết lý.
Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu vài nét chấm phá trong sự nghiệp sáng tác của ông – dĩ nhiên có đủ phong vị của văn, thơ, hội họa và âm nhạc. Sự nghiệp ấy cũng cần được xem là một phần trong gia tài văn hóa của họ Hoàng Bích Khê chúng ta.
TIỂU SỬ – TÁC PHẨM
Sinh 1938, Quảng Trị. Đọc sách, vẽ, viết văn. Dạy học, làm xuất bản, đồ họa & trong Ban biên tập tạp chí Trình bầy (1961-1975), phụ trách mỹ thuật cho các báo và nhà xuất bản ở Việt Nam (1975-1991) và tuần báo The Salt Lake City Weekly ở Mỹ (1993-2004). Trước 1975 từng triển lãm tranh, Viện Đại học Dalat, Gœthe Institut, Alliance Française, Hội Họa sĩ Trẻ VN, Phòng Thông tin & Báo chí SG, Trung tâm Văn hóa Vũng Tàu, La Dolce Vita (Hotel Continental); và đồ họa, Nxb. McGraw-Hill, Singapore, 1972.
Đã xuất bản: MƯỜI NHÀ VĂN PHÁP HIỆN ĐẠI, Trình bầy, 1969; ĐÊM NGỦ Ở TỈNH, tập truyện ngắn, Cảo Thơm, Saigon, 1970; MARCEL PROUST – CON NGƯỜI XÃ HỘI, Trình bầy, 1974; Andrei Sinyavski: Thơ Pasternak, trong BORIS PASTERNAK, CON NGƯỜI VÀ TÁC PHẨM, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1988. TĨNH VẬT VÀ NHỮNG BÀI THƠ KHÁC, thơ Joseph Brodsky, Thuận Hóa, Huế, 1991; MỐI TÌNH ĐẦU, truyện Samuel Beckett, Trình bầy, 1993. THƠ MỚI BA LAN, tuyển tập thơ mới Ba lan, Trình bầy, 1993. MARCEL PROUST, tiểu luận Samuel Beckett, Trình bầy, 1995. UỐNG TRÀ SỚM MAI, thơ, Trình bầy, 1996. NGƯỜI ĐẠP XE VÀO THÀNH PHỐ BUỔI SÁNG, truyện, Trình bầy, 1997. CHUYẾN XE, truyện, Trình bầy, 1997. ĐẤT VÀ NGƯỜI VÀ THẦN THOẠI VIỆT NAM, thơ, Trình bầy, 1997. BIỂN NGÀY ĐÊM, thơ, Trình bầy, 1999. THƯ HÀ NỘI, của Jean Tardieu [dịch chung với Nguyễn Thu Hồng], Trình bầy, 2001. QUÊ HƯƠNG, NGƯỜI VỀ [hai đoản văn viết theo một tấm tranh dán của Nguyễn Đăng Thường], Trình bầy, 2001. CHUYẾN ĐI MÙA ĐÔNG, truyện Georges Perec, Trình bầy, 2003. CHÂN MÂY CUỐI TRỜI, thơ [in chung với thơ Đỗ Trung Quân và tranh Nguyễn Quỳnh], Trình bầy, 2003. DJINN, truyện Alain Robbe-Grillet, Trình bầy, 2003.
HNB – VĂN
NGƯỜI KHÁNG CHIẾN

Ông bà HOÀNG NGỌC VIÊN-song thân của Hoàng Ngọc Biên
Viết về cha tôi, thật khó lấy một cái mốc để bắt đầu. Là công chức, là cán bộ, rồi công chức trở lại, trước khi trở thành tư chức, đời cha không thầm lặng, không trầm lắng như những từ hiền lành ấy thường dễ gợi cho ta. Là thư ký tòa sứ tỉnh Quảng trị, khoảng hăm bốn hăm lăm tuổi cha đánh sếp Tây của mình, nghe nói đánh đến chảy máu miệng; đứng đầu ngành thuế vụ thời Việt Minh ở thành phố biển Tourane, vì sáng sớm ngày toàn quốc kháng chiến cha đã phải hối hả đẩy mẹ con chúng tôi lên xe lửa về quê không kịp mua vé tàu, nên một ngày đẹp trời có thể không còn chịu nổi cảnh mất liên lạc gia đình, cũng có thể đơn giản là cha nhớ mẹ con chúng tôi, hay tiếc những buổi sáng cùng gia đình quây quần ăn sáng dưới ngọn đèn vàng ấm áp ở tầng lầu một (chỉ bước xuống chiếc cầu thang chữ U vuông bằng gỗ quí là đã có thể ngồi chễm chệ trong văn phòng!), hay đơn giản hơn là có thể chỉ vì nhớ một mình mẹ tôi thôi (mẹ thời ấy đã sinh sáu lần, giữ được năm) bởi lẽ mẹ đẹp vô cùng, cha thản nhiên bước ra khỏi phòng làm việc và tôi không nhớ có nghe cha nói bằng con đường nào cha đã vượt gần hai trăm cây số, trong hoàn cảnh giao thông khó khăn, hay gần như không có phương tiện giao thông nào, và về tới tận cái làng hẻo lánh ven biển không phải là làng chúng tôi, mà là làng chúng tôi được phép tản cư đến, để tìm gặp mẹ con chúng tôi – gặp một đêm, chỉ một đêm. Về một đêm này, chắc tôi sẽ không quên trở lại, nếu như lần nầy đây tôi có thể đi tới cùng cái thử thách viết về cha vẫn ấp ủ từ mấy chục năm nay, và mỗi lần thử bắt đầu, cũng do cái mốc phân vân muốn chọn lựa mà không chọn lựa nổi nói trên, chưa bao giờ tôi đi quá năm trang giấy.
Khi tôi ra đời, cha tôi đã là một người lớn. Sau này quan sát cha dạy dỗ chăm sóc các em tôi, các em đợt hai, tôi thường nghĩ có lẽ thời còn bé cha đã dạy tôi đủ điều. Nhưng tôi lầm. Tôi không nghi ngờ gì cả về việc cha có thương chúng tôi hay không, bởi vì hình như cha rất nổi tiếng về chuyện thương con, nhưng như lời mẹ tôi kể, thời ấy cha phó thác mọi việc cho các chị vú và người giúp việc (cũng sau này tôi được biết vú của tôi là một trang khuynh nước khuynh thành), thậm chí cha còn muốn cả mẹ cũng chỉ nên đứng bên cạnh để ngó mà thôi! Cha đi làm ở công sở, cuối tuần cha hớn hở trải khăn trắng lên cái bàn vuông ở phòng khách, đặt lên đó một bộ bài tây, bảo mẹ chuẩn bị trà và cà phê bánh ngọt, rồi sẵn sàng ngồi chờ bạn bè… Mẹ bảo cha không phải là khó tính lắm, nhưng khi chúng tôi chỉ ấm đầu một chút thôi, chứ chưa phải là sổ mũi, cha có thể mất hết bình tĩnh, bắt đầu canh chừng những người ăn ở trong nhà, đi lui đi tới, và… khịt mũi. Thế nhưng không phải cha hoàn toàn không gần gũi chúng tôi: cha thường thích đặt người xuống ngay giữa chiếc giường rộng, để nằm một bên là chị tôi, chị cả, một bên là tôi, ngó qua bên này, rồi ngó qua bên kia, và sáng tác một câu mà mãi đến khi tôi đã gần đến tuổi bảy mươi thỉnh thoảng trong nhà vẫn nhắc mãi: ngó qua con D thì tội thằng S, ngó qua thằng S thì tội con D. Câu nói có vẻ là nói đùa, có khi nghe như thơ, hay như một câu vè, tùy người nghe, nhưng với tôi dấu ấn của nó đậm đến nỗi mãi về sau, khi chính tôi có nhiều anh chị em trong nhà, rồi lớn lên nữa có nhiều bạn bè, rồi con cái, tôi vẫn cứ nghiêm chỉnh có cái suy nghĩ tương tự – về một thứ công bằng trong cuộc sống, ngay cả trong một số hoàn cảnh sự công bằng ít ai đặt ra.
Mẹ tôi rất đẹp, chữ nghĩa mộc mạc của tôi không làm sao tả ra hết được, nên tôi phải xin khất lại về sau, nếu như lần nầy đây tôi có thể đi tới cùng cái thử thách viết về cha vẫn ấp ủ từ mấy chục năm nay, và mỗi lần thử bắt đầu, cũng do cái mốc phân vân muốn chọn lựa mà không chọn lựa nổi, chưa bao giờ tôi đi quá năm trang, và tìm cho ra mỗi năm trang kia trong cái mớ ngổn ngang giấy má nằm đâu đó trong phòng làm việc của tôi là điều sức khoẻ tôi hiện nay không cho phép. Còn cha? Cha nước da ngăm, khuôn mặt không bảnh trai, mắt hơi hiếng, cái hiếng những lúc cha giận dữ thì trông xấu, nhưng những lúc cha vui vẻ thì, nói khách quan, nó tự ghép chung với một chiếc răng khểnh nằm đâu đó tôi không còn nhớ chính xác vị trí, để đặt lên khuôn mặt không bảnh trai ấy một vẻ thu hút lạ lùng, tựa như thiếu cái chút hiếng và cái răng khểnh kia thì khuôn mặt – và cả những điều nói ra – chưa tới. Có người cho rằng vì chỗ khác biệt đó, cha mẹ tôi không cân đối. Tôi có cái suy nghĩ khác mà tôi cho là chính xác và văn học hơn: cha và mẹ tôi là một kết hợp đẹp đẽ giữa thần và sắc.
Cuộc hôn nhân của cha mẹ tôi trôi chảy, bởi vì đây là một cuộc hôn nhân sắp xếp: thời ấy con gái một vị bác sĩ tây y nổi tiếng trong tỉnh về với con trai của một vị quan nhỏ trong triều, xuất thân từ một gia đình khoa bảng đã sản sinh ra những hoàng giáp nổi tiếng cả nước, đông tây gặp nhau, đâu thể có cái gì đẹp hơn? Như thế, cha mẹ tôi biết nhau, rồi gặp nhau, nói chuyện với nhau, nhất nhất đều do sắp xếp của hai bên, có thể dưới cả sự giám sát chắc hẳn không cần phải kín đáo hay ngụy trang của hai bà mẹ, và mọi thứ như thế cũng có lẽ đã khởi đầu trên chiếc chiếu bốn người ngồi của những buổi tứ sắc? Tôi không thể nào chắc chắn. Khi tôi đã lớn, trong nhà anh chị em không những có đợt một, mà còn có một phần của đợt hai, thỉnh thoảng trong những bữa cơm tối, ai nấy có quyền thong thả kéo dài những giây phút ấm cúng hiếm hoi trong đời sống hàng ngày bấy giờ đã bắt đầu trở nên gay go do những biến động xã hội, chiến tranh từ xa và có khi chiến tranh ngay cả trong thành phố, cha tôi hơn một lần thân mật nhắc lại một chi tiết trong quá khứ của cha và mẹ, nói với chúng tôi rằng lần đầu cha gặp mẹ, mẹ đang nhảy dây với các chị em của mẹ, hay bạn bè gì đó. Mẹ có nhiều hình đen trắng hoặc màu sepia chụp thời mới lấy chồng, nhưng những hình đó không giúp tí nào cho anh chị em chúng tôi trong việc tưởng tượng cái cô con gái nhỏ nhắn hiền lành, tóc vấn cao có rẽ đường ngôi một bên kia, đẹp hơn cả một đóa hoa, lại có thể đã là một bà vợ, và bà vợ ấy, không lâu trước đó, vẫn còn nhảy dây với chị em, với bạn bè… Những giai thoại về cha mẹ tôi thường không được kể lại, hoặc làm sống lại đầy đủ: những mảnh rời trong cuộc đời trải qua đủ các thời lịch sử giông bão khác nhau của một đôi vợ chồng bình thường, với những nỗi lo bình thường, khởi đầu tựa như hai thanh thiếu niên đầu hôm sớm mai bỗng thấy mình không còn ở cái chỗ xưa nay vẫn ở, với những người thân xưa nay, hàng ngày, vẫn gặp ra vào, từ những họ hàng bà con thân sơ thường lui tới, mãi từ những mảnh đất xa xôi trong nam ngoài bắc, cho đến những người khăn gói từ những vùng quê lân cận… Đầu hôm sớm mai, mọi chuyện đều khác, ra vào trong nhà, chỉ có hai người. Chỉ có hai người phải làm đầy, và phải hít đầy không khí của cả một căn nhà. Cha đi làm ở tòa sứ, ngày tám tiếng, tôi đoán chừng như thế, và chắc chắn cái thời ấy người ta chưa có sáng kiến hiện đại đi vào bàn giấy, để cái cặp xuống bàn, rồi lấy lý do công tác để đi ra ngoài phố ngồi quán nước như thời nay, mà ở một tỉnh nhỏ bé như thế tất nhiên cũng chẳng có quán nước để có thể ra ngồi. Cha lại không thích nhìn thấy mẹ làm việc này việc nọ, cha thường ít khi quên dặn mẹ, mỗi khi đóng cánh cửa lớn ngó ra bờ sông để đi làm: bên nớ không phải làm chi cả, mọi chuyện đã có chị vú và, vân vân…
Ít khi để ý đến việc nhà, càng ít khi cụ thể làm bất cứ một việc gì trong nhà, tay chân theo như tôi nhớ, không phải chỉ trong một quãng thời gian nhất định nào, mà trong nhiều giai đoạn khác nhau của cuộc sống gia đình, có vẻ như vốn rất là lều khều, nói thẳng ra là lúc nào cũng vụng về, cha tôi lại là một trong những người rất sớm đi Hướng đạo, và nghe đâu thuộc loại chức sắc, mỗi lần đi cắm trại – có khi vào tận Huế, nếu như căn cứ vào năm bảy tấm hình màu sepia sinh hoạt lửa trại trên núi Bạch mã và những vùng phụ cận Huế hay Quảng Trị còn để lại, mà mẹ tôi thỉnh thoảng đem ra cho chúng tôi cùng xem, vào cái thời cha tôi đã đi kháng chiến, ngày đêm còn đeo balô đạp xe đạp xuyên qua những núi rừng Việt bắc để làm công tác tuyên truyền về thuế nông nghiệp – chắc cha không quên nhờ một chị em nào đó, hoặc là chị em của mẹ, hoặc một trong những em gái của cha, đến nhà ngủ với mẹ. Cha có cả thảy năm con trai, thì nói chung hết hai đã được thừa hưởng ít nhiều cái lều khều nhỏ này của cha: tôi chủ quan tự xét mình không có trong số đó. Nhưng ngược lại cha là một người không những có một đam mê thôi, mà còn có một năng khiếu kỳ lạ, về chuyện dọn nhà, nói đúng là thói quen dọn nhà. Cha là người ăn ở rất sạch. Chỗ nào cha buớc chân tới, chỗ ấy tất không thể có một hạt bụi. Trừ nhà bếp, mà cha không đặt chân tới, hoặc chỉ đặt chân tới để xem có mẹ tôi ở đấy hay không thôi (cha xưa nay vẫn có cái thói quen đi tìm vợ ngay trong nhà mình, vào bất cứ lúc nào, và có khi không để làm gì cả, nghĩa là việc đi tìm rất có thể chỉ bắt nguồn từ một cảm tưởng bất an có từ bao giờ không ai đoán được!), những phòng còn lại có thể nói liên tục được hưởng qui chế săn sóc và thay đổi ít ra là mỗi ba hay bốn ngày, hay lâu lắm là một tuần lễ. Như thế, cả cuộc sống kéo dài, trừ gần tám năm kháng chiến sống ở Việt bắc, và một thời gian không lâu ở thành phố Tourane, những căn phòng sắp xếp theo sáng kiến và kiểu cách mới thay đổi liền liền của cha tất nhiên nhiều lần bắt buộc phải trở lại bố trí cũ, cho dù với những sự hào hứng mới. Có một ngoại lệ chăng, là thời gian mới chuyển vào Saigon đầu năm 1953, cả nhà còn ở tạm trong một hai phòng nhỏ cọng với một phòng bếp ở tầng dưới một ngôi biệt thự nằm trên Boulevard Galliéni đi vào Chợ lớn mà tôi nghĩ là thuộc khu dành cho gia nhân, bởi lẽ toàn bộ biệt thự thời ấy được sử dụng làm nơi làm việc hành chánh của cả một Bộ trong chính phủ, mà Bộ trưởng chính là ông ngoại bác sĩ của tôi. Sự chăm sóc ấy của cha thường khi không được mẹ con chúng tôi hưởng ứng, có thể nói là kể từ những ngày sơ sinh của sự sáng tạo ấy cho đến khi cha đã già, do sức khỏe xuống dần nên đam mê cũng xuống theo, ít ra là nó không hề được hiểu là một công việc nhà. Nếu nó không thuộc phạm trù mỹ thuật, một đằng, thì đằng khác, nó cũng không được coi là một nhu cầu, có nghĩa trong trường hợp này, có những lúc, nói tội nghiệp cha, những nỗ lực sắp xếp của cha không thuộc loại nghệ thuật vị nghệ thuật, cũng không phải nghệ thuật vị nhân sinh. May cho cha, cha mẹ có cả thảy mười người con, cọng với mẹ tôi là mười một người, không ai coi là ch yện trịnh trọng bất cứ loại nghệ thuật nào trong hai thứ vừa kể. Cái nghệ thuật lớn nhất, đáng làm nhất đối với hầu hết anh chị em chúng tôi (có thể lấy từ cha, hay từ mẹ?) không lệ thuộc sáng kiến hay ý thích của người khác, nghệ thuật ấy là thứ nghệ thuật làm theo ý của riêng mình, và làm cho mình vui. Những người con của cha mẹ tôi ai nấy không giống phần còn lại trong đại gia đình, không bao giờ phải ngó trước ngó sau để xem ai thích cái gì thì mình thích cái ấy; làm nghệ thuật với chúng tôi, nếu có phải gọi như thế, ấy là làm đúng cái điều mình thích và làm được cái điều ấy, theo ý thích của mình – cho vui. Cũng như cha, là người kiên trì không vị bất cứ cái gì ngoài ý thích của chính mình, và gần suốt cuộc đời bên gia đình, cha cứ thế thay đổi vị trí những đồ đạc trong nhà, nhất là cái thời mới chân ướt chân ráo bước vào Saigon.
Cho đến bây giờ, tôi tin chắc những anh chị em đợt một chúng tôi không quên những buổi sáng cuối tuần được theo cha mẹ đến một nơi mà chúng tôi chỉ biết tên tiếng Tây là salle des ventes, tôi nhớ nằm ở tầng trệt trên đường Lagrandière về sau đổi lại là Gia Long, từ nhà chúng tôi ở khu Nancy (nửa đường Saigon Chợ lớn) đi về phía Saigon, nó nằm bên tay trái, đâu đó gần cái nơi về sau tôi được biết là Thư viện Quốc gia, đi thẳng tới đường Catinat, rồi quẹo trái là ra tới Nhà thờ Đức bà màu đỏ gạch cao lêu nghêu trông giống như từ những tấm cartes postales bước ra. Cái tên Tây salle des ventes ấy nằm lâu năm trong đầu chúng tôi như một nơi duy nhất ở đất Saigon (mà nhiều năm sau tôi vẫn nghĩ là chúng tôi chưa biết hết) người ta bán bàn ghế tủ kệ, giường ngủ, đèn bàn, salon, đivăng, ghế bành, đồng hồ treo tường, tranh ảnh, vân vân, với một người đứng trên cao lớn tiếng hô to giá người mua chịu mua, và cái hình ảnh mua bán kia một thời làm chúng tôi tin rằng ở những chốn văn minh, có thể mọi việc mua bán đều theo một phương cách như thế, phải qua một trận hỏi đáp kịch liệt: người hỏi phải la lớn, người mua cũng phải hét to… Có thể nói trong vài năm kéo dài sau đó, khi gia đình chúng tôi bắt đầu dọn ra ở một căn phố cũng trên đại lộ Galliéni ấy, nhưng là sát nách bên kia khu Nancy, phía sau nhà có một con kinh nhỏ đen sình lầy cũng là phía sau dãy nhà lợp tôn của Institution Kiến Thiết là nơi mấy tháng trước đấy lần đầu tiên tôi mặc cái quần sọt kaki mới tinh (do mẹ tôi may lấy, và may bằng tay) nép mình vào bộ áo cha quen biết trong Bộ.quần tây màu nâu của cha đi vào lớp Troisième année, những vật dụng thu nhặt được từ salle des ventes là những đồ chơi thích thú đem lại cho cha tôi nhiều dịp tự thử thách sáng kiến và đầu óc mỹ thuật của mình, một mặt, và mặt kia, nó giữ chân cha ở nhà nhiều hơn với mẹ con chúng tôi thay vì đi rong nhậu nhẹt đàn đúm như nhiều bạn
Sau này tôi biết tôi sẽ có thể phải mất công xáo tung những trang này, nếu như bây giờ tôi quyết định làm một công việc điên rồ là sắp xếp cuộc đời cha tôi theo một bố cục hẳn hoi. Suốt cuộc đời cha rao giảng sự thứ tự cho anh chị em chúng tôi, cả cho mẹ chúng tôi mà có thể lúc nào cha cũng yêu theo cái cách của một người anh cả, nếu không bảo là một người trên nói chung (cha hơn mẹ tám tuổi), thế nhưng trong những chuyện lớn, trong nhiều chuyện lớn, hình như cha thường cho mình sự ngoại lệ. Bảo rằng cuộc đời cha không có bố cục là không đúng, có điều hầu như lúc nào cũng chính cha là người có sáng kiến làm khác đi: chân ướt chân ráo bị bắt về thành, tức là về ngay Quảng Trị, rồi đang yên ổn ở Bộ Cựu chiến binh và phế binh ở Saigon, cha có sáng kiến nhảy qua Bộ tài chánh; ngồi không lâu ở Bộ tài chánh, có thể thích một số anh em bạn bè mới từ bên Tây về nước nhưng đặc biệt không ưa ai đó, cha khăn gói qua Thuế vụ; ngồi ở đây chưa nóng đít, cha bỏ những tay ba tàu ở Chợ lớn ngày đêm cứ đến đòi đút lót hối lộ, lên làm Thuế vụ Dalat; rồi ở đây, giữa lúc cả gia đình đang tận hưởng những ngày tháng thoải mái êm đềm với một cuộc sống riêng chỉ nói về vật chất thôi đã phải gọi là vượt rất xa sự mơ ước, trong một buổi họp với Đại biểu chính phủ (tương đương với Thủ hiến một miền, vả chăng cũng là một người cậu họ hàng xa của cha), giữa bao nhiêu chức sắc mặt mũi của cả một thành phố trung tâm Cao nguyên Trung phần, cha cảm hứng lên tiếng dạy và gần như mắng vào mặt vị Đại biểu kia, để rồi mấy tháng sau khăn gói đem cả một bầu đoàn thê tử trở về Saigon… Những thứ đổi đời đột ngột kia do một tay cha làm ra, và nói cường điệu, thì có thể gọi là dưới chiếc đũa phá cách của người điều khiển dàn nhạc là cha, cả gia đình chúng tôi đều có những cuộc phiêu lưu không ăn nhập gì đến những sắp xếp giao hưởng trật tự theo lý thuyết của con người kháng chiến ấy. Do đó, anh chị em chúng tôi, so với bạn bè chung quanh, bất cứ nơi nào cha đưa đến, cũng được xếp vào hạng vô địch về khoản… đổi trường, đưa đến một tình trạng có lẽ rất phù hợp với bản chất và cả hiện tượng nơi cha: giống như cha, anh chị em chúng tôi rất nhiều bạn..HNB
HNB – THƠ

Tập THƠ Hoàng Ngọc Biên
TRÙNG DƯƠNG
ta thấy rồi
ngọn gió vàng thoảng qua
mặt trời chìm trong biển
sóng bạc đầu bắt nhịp
mây xanh xao nhuốm bệnh
hịu quạnh
những
trời xa
ta thấy rồi
nỗi đau dày vô tận
ký ức nặng mùa đông
thời gian ngàn cánh hạc
biển
lần nữa
trùng dương
ta thấy rồi
mưa trong mây vô tận
|nghiêng những giọt xanh lam
mùa khô da tróc vỏ
cây lần nữa
đổi
màu.
Phố Phái
những bệt màu lam hồng
góc phố lạnh tanh
sắc xám
căn gác vuông
tro than ngày cũ
nét cọ đen kéo dài ký ức
nỗi buồn này
phố phái
ngàn năm

Hoàng Ngọc Biên – (Bùi Xuân Phái vẽ)
TRỤ TRÊN NỖI ĐAU
hai chân trụ trên nỗi đau
ta hát bài hát riêng ta
hơn sáu thập kỷ đi – về
chiều nghiêng nghiêng màu đục
đường hai bên
cỏ dạt
đẫm thời gian
đem theo gì
con người vô định
đem theo gì – đêm lên tiếng hỏi
lời kinh của mẹ
tiếng mõ của cha
CHÂN DUNG
tôi toát mồ hôi thức dậy…
người vẽ chân dung tôi đã biến mất
và không để lại tăm hơi
tôi chạy đi tìm một cái gương soi.
không có gương.
từ lâu tôi đã tập quen không nhìn mình –
tôi sợ phải trông thấy tác phẩm của đoạ đày…
một em bé từ đâu chạy vụt qua
tôi nắm tay cháu
& khẩn khoản xin bỏ mấy đồng bạc nhờ cháu đái một vũng
để soi xuống tôi nhận rõ mức độ của sự giả dối
phải thu hoạch hơn bảy mươi năm qua
HNB – NHẠC
Cảm nghĩ về ca khúc“HỒ THU”
Hoàng Ngọc Biên sáng tác ca khúc “Hồ thu” vào khoảng năm 1955, trong chuỗi tháng ngày thơ mộng bên những hồ Than Thở, hồ Xuân Hương ở Đà Lạt. Chẳng bao lâu, ca khúc nầy đã được giới thiệu trên đài phát thanh qua nhiều giọng ca nổi tiếng.Tuy là tác phẩm đầu tay nhưng ca từ và giai điệu già dặn không thua gì các tác giả đàn anh.Thế nhưng ít ai biết rằng Hoàng Ngọc Biên đã sáng tác Hồ Thu vào năm ông mới 17 tuổi. Khi nghe câu “cố nhân về lối cũ mong tìm thu”người ta không khỏi liên tưởng đến chuyện tình của Lamartine (1790-1869) và người đẹp Elvire bên hồ Bourget. Cuộc tình thơ mộng, ngắn ngủi và phù du nầy đã để lại cho nền thơ ca lãng mạn của nước Pháp một tác phẩm bất hủ là bài thơ Le Lac. Lamartine sáng tác bài thơ nầy vào năm 1817 – cũng là năm ông bước vào tuổi 17. Tôi không có ý so sánh tầm cỡ, vai vế của hai chàng trai 17 nầy mà chỉ muốn so sánh cách biểu cảm của họ khi mỗi người đều quay về lối cũ để tìm lại hương xưa nhưng chỉ bắt gặp một hồ thu xao xuyến lung linh với những vọng âm và ảo ảnh. Trong Le Lac,Lamartine nói như năn nỉ van xin với dòng thời gian vô tình: “Ne pourrons-nous jamais sur l’océan des âges/ Jeter l’ancre un seul jour!”. (…Thả neo trên biển thời gian/ Cho ta dừng lại một ngày được chăng!). Trong “Hồ Thu” của Hoàng Ngọc Biên, ca từ không xót xa đến thế. Nhưng xin hãy nghe cho kỹ ở điệp khúc cuối cùng-vẫn với hương thu, gió thu, lá thu, nắng thu và sóng nước hồ thu ấy nhưng giai điệu không chùng xuống như một nỗi buồn nhẹ nhàng để kết thúc bài hát theo những “mô típ” thường gặp ở các ca khúc lãng mạn thời tiền chiến.Ở điệp khúc nầy mỗi nốt nhạc bỗng tăng lên một âm vực khiến cho lời ca vút lên cao,chất giọng của ca sĩ trở nên rộn rã, bồi hồi và nức nở như thử âm thanh trong một cuộc chia tay mà kẻ ở người đi không kịp nói hết lời tiển biệt- và như thể ca sĩ muốn nhờ giọng hát của mình đuổi theo một hình bóng nào đó sắp vuột bay khỏi cảnh giới thực tại.Có điều chuyện tình của Lamartine thì đã đi vào văn học sử còn với Hoàng Ngọc Biên, đó là chuyện gì – nếu tác giả không nói ra thì sẽ không ai biết .
Bài hát HỒ THU- Ngọc Mai ca
Download Embed

HNB – HỘI HỌA

Bìa tạp chí Trình bày do HNB trình bày
- Bàn tay-Tranh HNB
- Tranh HOÀNG NGỌC BIÊN
MỘT ĐƯỜNG ÊKE,
MỘT PHÍA CHÂN TRỜI
Bài của ĐỖ TRUNG QUÂN
HOÀNG NGỌC BIÊN (đời 17) là một văn nghệ sĩ tài hoa và đầy cá tính. Nhà thơ ĐỗTrung Quân xem ông như “sư phụ” và viết về ông như sau.
Ông là người mà nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Phan- nguyên Phó giám đốc-Tổng biên tập Nhà Xuất bản TRẺ từng nhận định “có nhiều đóng góp trong việc thúc đẩy thay đổi hình thức của báo chí, tạp chí thành phố kể từ những năm 1980…”. Tập san khổ nhỏ, in màu đầu tiên một cách trang trọng, thu hút độc giả, lại là một tờ báo của lực lượng Thanh niên xung phong TP. Hồ Chí Minh. Ấn phẩm của một lực lượng không chuyên qua sự trình bày của ông đã gây được những ấn tượng đẹp của bạn đọc thành phố thời đó. Tiếp theo là sự có mặt của nhiều tờ báo, tạp chí, có thể kể tên: Thanh Niên, Kiến thức Ngày nay, Điện ảnh TP. Hồ Chí Minh, Thế giới Mới…
Nhưng trước đó, tên tuổi ông không xa lạ gì với hoạt động hội họa dịch thuật… Ông là thành viên sáng lập hội học sĩ trẻ Việt Nam (trước 1975) cùng với những họa sĩ tên tuổi khác như Nguyễn Trung, Đình Cường, Trịnh Cung, Mai Chửng…, là dịch giả giới thiệu Mười nhà văn Pháp hiện đại (1969), là người trình bày một cách hệ thống nhất về văn hào Pháp Marcel Proust, chuyển ngữ thơ Brodsky – giải Nobel văn chương 1987…
Ông là thầy tôi.
Người thầy lạ lùng mà suốt 15 năm cùng làm việc, chưa lần nào ông tự nhận danh xưng ấy. Có những gặp gỡ tình cờ nhưng như một định mệnh bởi nó bền vững, gắn chặt cuộc đời người này vào phần đời người nọ. Nó làm thay đổi cả một số phận.
Tôi mang tuổi hai mươi vào cuộc đời như một hạt bụi vô danh. Tất tả với áo cơm và ngơ ngác với con đường trước mặt sau 5 năm khoác áo TNXP, về lại nơi đã sống với một dòng kênh đen chảy qua tuổi trẻ nghèo khó. Một hôm nào đó, con người không vô danh có bề ngoài râu tóc lập dị, cái nhìn hóm hỉnh sau cặp kính tròn, quần áo xuề xòa ấy đã đi qua và dừng lại với một người trẻ tuổi áo rách.
Ngôi nhà của ông từ đó là trường, một ngôi trường không bảng hiệu. Căn phòng của ông từ đó là lớp, một lớp học không học phí. Tôi đã sống, đã làm việc ở đó bên cạnh sự kiên nhẫn đáng kinh ngạc của ông trước một học trò tồi. Ông chỉ vào tủ sách của mình: “Hãy lục tìm ở đấy!”. Suốt 10 năm, tôi đã lục tìm, đã hối hả, cố nhồi nhét vào đầu những điều mà trước đó dòng kênh đen đã chặn lối đến những chân trời của kiến thức, đã đẩy tôi ra vỉa hè cơm áo. Ông chỉ vào chiếc giường nhỏ: “Hãy ngả lưng ở đấy!”. Suốt 10 năm, tôi đã nằm ngủ những giất ngủ bình ổn, lắng nghe tiếng chân ông những đêm mưa thức giấc, đắp thêm cho chăn ấm. Người “nội tướng” đảm đang của ông cũng chỉ vào… tủ lạnh, nói cùng tôi câu nói của ông: “Hãy… lục tìm trong ấy…” những khuya bụng đói. Không một quy ước nào, tôi đã mặc nhiên là một thành viên của một gia đình không hề vắng vẻ con cái, người thân. Căn phòng ấy sáng đèn suốt 10 năm, cũng ở nơi ấy, tôi đã cầm lên cây cọ vẽ, nguệch ngoạc những nét đầu tiên. Ông không đứng ngoài mà đã cùng làm việc bằng đôi tay cần mẫn của người thợ, tầm nhìn của người thầy và những tách cà phê anh em. Ông lặng lẽ, kiên nhẫn mài dũa cái hạt bụi vô danh mà lẽ ra nó đã chìm khuất, đã tan biến vào vô vàn số phận của cuộc đời rộng lớn.
Ông là một người hài hước, bình tĩnh trước mọi tình huống. Bài học thường xuyên là hãy biết khôi hài, biết làm người khác nhoẻn một nụ cười những khi đau khổ. Nhưng ông hoàn toàn không là một người dễ dãi. Hãy kẻ những đường thẳng, thật thẳng của êke trên trang giấy, bức vẽ. Đấy cũng là ẩn ngôn cho bài học sống mà nhiều năm sau, tôi mới hình dung trong ứng xử cuộc đời. Những lúc muốn “cong” vì mỏi mệt, vì cám dỗ, những đường êke của ông lại hiện ra trong tâm tưởng. Ông cũng không hoàn toàn là một người quá khiêm nhường. Sự hợm hĩnh của một ai đó chắc chắn sẽ được ông đáp lại bằng cái ngạo nghễ không khoan nhượng. Sự cầu thị chân thành, sẽ gặt được sự chân thành nơi ông. Ông có người quý mến, có người dè bĩu nhưng cuộc đời ông không có kẻ thù. Lòng vị tha ẩn giấu trong vẻ ngoài có khi lạnh lẽo mà chỉ những ai thường tiếp xúc mới nhận ra.
Một người thầy không tự nhận là thầy, nhưng kẻ áo rách ngày nào, từ ông, đã không còn vô danh nữa. Đạo lý sơ đẳng Á Đông chỉ ra cho tôi những dòng viết này, những dòng mà ông chắc chắn sẽ nhíu mày không hài lòng, bởi có những điều thiêng liêng vượt qua ngôn ngữ. Lẽ ra tôi phải im lặng.
Nhưng anh Hoàng Ngọc Biên ơi! Đấy chỉ là một đêm trong hàng nghìn đêm sực tỉnh chợt nhớ về căn phòng nhỏ, nơi có những cánh bồ câu hiền lành vẩy lên trên bức tường xám. Bỗng chợt nhớ về lối ngõ nhỏ nhoi, đến những đỉnh núi sương mù, những dốc đồi, những chân mây và cả những bông quý vàng Đà Lạt ngày nào… Giờ đây, ở tận chân mây xa thẳm hẳn vẫn còn đó những dòng khói trầm tư từ tẩu thuốc sau những buồn vui của một đời người. Anh vẫn lặng lẽ sống và làm việc như đã từng.
Mà đời người thì ngắn ngủi. Như hôm nay, đứa học trò vụng về nhất, kẻ kém anh 18 tuổi đã một hôm thấy sợi tóc bạc trên đầu. Vẫn cứ nhớ về một người đàn ông hệt như nhớ… những mối tình đầu. Kỳ thật!
ĐỖ TRUNG QUÂN Sài Gòn, tháng tư 1996
Hoàng Ngọc Biên (Bùi Xuân Phái vẽ ) Hoàng Ngọc Biên – (Đỗ Trung Quân vẽ)
HOÀNG NGỌC BIÊN
NGÔ THẾ VINH giới thiệu
Hoàng Ngọc Biên, tên thật cũng là bút hiệu, sinh ngày 18 tháng 1 năm 1938, làng Bích Khê, Phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Học sinh trường Thánh Mẫu Teresa Quảng Trị. 1942, theo cha chuyển sở làm, cả gia đình vô Huế, sống ở Vĩ Dạ mấy năm, sau đó lại theo cha vào Tourane / Đà Nẵng một năm rồi trở ra Quảng Trị. Năm 1950 “du học” Huế. Năm 1952, trở về Quảng Trị học tiếp trung học.
1953, Biên theo gia đình vào Sài Gòn, học trường Kiến Thiết và bắt đầu kết thân với người bạn cùng lớp Nguyễn Đăng Thường, cũng từ đó nảy nở một tình bạn lâu dài cùng với Mark Frankland, nhà báo Anh cho tới những năm về sau này.
1954, Biên lần đầu tiên được gặp nhà văn Vũ Khắc Khoan di cư từ Hà Nội vào Sài Gòn, và mới được biết bác Khoan là anh em con dì với bên mẹ ruột của Biên.
1958, Thi vào Đại Học Sư Phạm Đà Lạt ban Pháp văn. Thời gian này, Biên quen với nhà biên khảo Tam Ích, lúc đó đang dạy Pháp văn tại trường trung học Việt Anh. Biên còn nhớ những núi sách báo ở nhà Tam Ích, ông cũng thường ghé thăm Biên và mượn đọc những số báo Le Figaro Littéraire và Arts et Spectacles mà Biên đặt mua dài hạn hàng tuần từ Pháp.
Tại Đại Học Sư Phạm, Biên có cơ hội kết thân với Giáo sư Etiennette Poirson là người thầy Biên mãi mãi ngưỡng mộ, sau đó về Sài Gòn bà còn cung cấp cho Biên nhiều tài liệu viết về Proust. Biên bắt đầu say mê đọc bộ sách À la Recherche du Temps perdu.
1961, Tốt nghiệp ĐHSP, về dạy Pháp văn Trung học Tống Phước Hiệp Vĩnh Long, cùng nhiệm sở với Nguyễn Thu Hồng, cùng khoá ĐHSP ban Pháp văn Sài Gòn và một năm sau cô giáo xuất thân từ Nhà Trắng Saint-Paul trở thành bạn đời của Hoàng Ngọc Biên cho tới bây giờ.
1964, Thuyên chuyển về Trung học Tây Ninh, rồi Tân An. Bắt đầu viết “Viết Giữa Mùa Hè”. Tìm gặp và rồi thân thiết với nhà văn Võ Phiến, thường xuyên lui tới nhà anh chị Võ Phiến trong hẻm Trần Quang Diệu. Người viết gặp và quen Hoàng Ngọc Biên cũng trong khoảng thời gian này.
Chân dung Hoàng Ngọc Biên qua nét phác hoạ của Võ Phiến: “Anh Biên thì khuynh tả, khoái Che Guevara; chính anh thì râu ria tóc tai dài phủ tới ót. Ảnh mê M. Proust như tôi, nhưng sưu tầm về Proust đầy đủ chứ không tài tử như tôi; anh giỏi hội hoạ và âm nhạc. Anh chị Biên và vợ chồng tôi hợp tính tình, thường gần gũi tâm tình. Sau 4.1975 anh Biên vẫn giữ được râu tóc xum xuê suốt 16 năm. Tháng 10.91 anh rời Sài Gòn đi Mỹ, các con tôi như thiếu đi người chú ruột. Trong 16 năm qua, mọi việc lớn nhỏ trong gia đình các con tôi, gặp rắc rối là đều do chú thím Biên giải quyết cho. Hiện thời anh chị ấy ở Utah, Salt Lake City. [Tuyển tập Thư Võ Phiến, Los Angeles 4.12.1991]
1968, Tại Trung Tâm Học Liệu: Biên kết thân với Cao Thanh Tùng, Nguyễn Đồng, Nguyễn Thị Hợp, Lê Thị Chí… Diễm Châu từ Indiana (Mỹ) về Sài Gòn tìm gặp Hoàng Ngọc Biên, bàn dự án cùng nhau làm tạp chí Trình Bầy. Đi lính 9 tuần Quang Trung. Xuất bản Tuyển tập Mười Nhà Văn Pháp Hiện đại, Nxb Trình Bầy. Giới thiệu những tên tuổi lẫy lừng của phong trào tiểu thuyết mới Pháp như Michel Butor, Alain Robbe-Grillet, Natalie Sarraute, Claude Simon…
1970, Năm của Tạp chí Trình Bầy ra mắt số đầu tiên. Biên được Học bổng USAID về Book Design và Book Production McGraw-Hill đi Mỹ, sau được chuyển qua McGraw-Hill FEP Singapore. Xuất bản Đêm ngủ ở tỉnh, tập truyện ngắn, một thử nghiệm hình thức tiểu thuyết mới của Hoàng Ngọc Biên, Nxb Cảo Thơm.
1973, Dạy Pháp văn 3 niên khoá tại Đại học Bách khoa Sài Gòn.
1975, Làm báo Tin Sáng sau 1975, là trưởng ban văn hoá xã hội, rồi kiêm trưởng ban kỹ thuật sau khi Nguyễn Đồng vượt biên, cùng làm việc với mấy bạn cũ như Nguyễn Đồng Nguyễn Thị Hợp, Cao Thanh Tùng, Đinh Cường, và cả Nguyễn Xuân Hoàng.
1991, Sang Mỹ định cư tháng 10.1991, ghi danh vào Salt Lake Community College cùng với hai con là Hoàng Tân Nhân và Hoàng Tân Dân, để trước tiên làm quen với máy móc tin học. Biên bắt đần vẽ tranh trên computer với kỹ thuật số / digital art.
1993, Vào làm việc cho tờ báo Salt Lake City Weekly từ Tháng Bảy 1993 tới 1998 với vai trò Art Director; 1999 chuyển qua chuyển qua làm Production Coordinator.
2004, Bắt đầu tham gia diễn đàn tienve.org qua bản dịch Chuyến đi mùa đông của George Perec (2003) Nguyễn Hưng Quốc đem về từ nhà anh Võ Phiến.
Bất ngờ cũng năm ấy, Biên bị méo một bên mặt trái và nói khó khăn. Bạn bè không an tâm vì nghĩ Biên bị tai biến mạch máu não/ stroke nhưng thực ra anh chỉ bị liệt dây thần kinh mặt ngoại biên / dây thần kinh sọ số VII hay Bell’s Palsy. [Charles Bell là nhà cơ thể học đầu tiên mô tả căn bệnh này.] Biên được chữa trị bằng tây y kết hợp với châm cứu. Điều trị hay không, trong nhiều trường hợp Bell’s Palsy có tiến trình tự hồi phục. Cùng năm, Biên chọn nghỉ hưu ở tuổi 66 và sau đó vợ chồng Biên dọn về San Jose sống với gia đình người con trai.
2011, Sức khoẻ suy yếu, Biên được bác sĩ chẩn đoán bị sơ gan / cirrhosis giai đoạn cuối, và được đưa vào danh sách chờ bộ phận để được thay gan / waiting list for liver transplant.
2012, Biên được thay ghép gan tại Bệnh viện Đại học Stanford, Palo Alto 12.9.2012. Bệnh viện ĐH Stanford cũng là nơi Nguyễn Xuân Hoàng được điều trị bệnh sarcoma. Biên là trường hợp khá hiếm hoi được thay ghép gan ở ngưỡng tuổi đã quá thất thập cổ lai hy, năm ấy Biên cũng đã 74 tuổi. Vượt qua được dốc tử sinh, Biên dần dần hồi phục. Sau này được biết bộ gan mới của Biên là nhận từ một thanh niên Mỹ mới ngoài 30 tuổi.
Hoàng Ngọc Biên đọc nhiều và tích luỹ. Sinh hoạt của Biên rất đa dạng, ngoài dạy học, Biên viết văn, làm thơ, dịch sách, vẽ tranh, và cả soạn nhạc, điều rất ít ai biết. Trong Ban biên tập tạp chí Trình Bầy (1961-1975), phụ trách mỹ thuật cho các sách báo và nhà xuất bản ở Việt Nam (1975-1991) và tuần báo The Salt Lake City Weekly ở Mỹ (1993-2004).
Trước 1975 đã triển lãm tranh tại Viện Đại học Đà Lạt, Gœthe Institut, Alliance Française, Hội Họa sĩ Trẻ VN, Phòng Thông tin & Báo chí Sài Gòn, La Dolce Vita (Hotel Continental), Trung tâm Văn hóa Vũng Tàu, và đồ họa, Nxb McGraw-Hill, Singapore, 1972.
XUẤT BẢN TRƯỚC 1975:
— Mười Nhà Văn Pháp Hiện Đại, Trình Bầy, 1969;
— Đêm Ngủ ở Tỉnh, tập truyện ngắn, Cảo Thơm, Saigon, 1970; — Marcel Proust – Con Người Xã Hội, Trình Bầy, 1974;
XUẤT BẢN SAU 1975:
— Uống Trà Sớm Mai, thơ, Trình Bầy, USA, 1996.
— Người Đạp Xe Vào Thành Phố Buổi Sáng, truyện, Trình Bầy, USA, 1997.
— Chuyến Xe, truyện, Trình Bầy, USA 1997.
— Đất và Người và Thần Thoại Việt Nam, thơ, Trình Bầy, USA, 1997.
— Biển Ngày Đêm, thơ, Trình Bầy, USA, 1999.
— Quê Hương, Người Về [hai đoản văn viết theo một tấm tranh dán của Nguyễn Đăng Thường], Trình Bầy, USA, 2001.
— Chân Mây Cuối Trời, thơ [in chung với thơ Đỗ Trung Quân và tranh Nguyễn Quỳnh], Trình Bầy, USA, 2003.
TÁC PHẨM DỊCH:
— Andrei Sinyavski: Thơ Pasternak, Con Người và Tác Phẩm Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1988.
— Tĩnh Vật và Những bài Thơ Khác, thơ Joseph Brodsky, Thuận Hóa, Huế, 1991;
— Mối Tình Đầu, truyện Samuel Beckett, Trình Bầy, USA,1993.
— Thơ Mới Ba Lan, tuyển tập thơ mới Ba lan, Trình Bầy, USA, 1993.
— Marcel Proust, tiểu luận Samuel Beckett, Trình Bầy, USA, 1995.
— Thư Hà Nội, của Jean Tardieu [dịch chung với Nguyễn Thu Hồng], Trình Bầy, USA, 2001.
— Chuyến Đi Mùa Đông, truyện Georges Perec, Trình Bầy, USA, 2003.
— DJINN, truyện Alain Robbe-Grillet, Trình Bầy, USA, 2003.
HOÀNG NGỌC BIÊN VÀ NHÓM TRÌNH BẦY
Diễm Châu tên Phạm Văn Rao, sinh ở hải Phòng, di cư vào Nam 1954. Quen Thế Nguyên từ trại học sinh di cư Phú Thọ. Diễm Châu tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm ban Anh Văn, được tu nghiệp ở Mỹ sau đó trở về Sài Gòn, tìm gặp Hoàng Ngọc Biên thuyết phục cùng làm tờ báo Trình Bầy. Biên đã cùng Diễm Châu, ngồi nhiều tuần lễ bên một vách tường café vỉa hè đường Sương Nguyệt Anh Sài Gòn soạn bài Phi lộ với tiêu đề “Con Đường Đi Tới” cho số báo ra mắt. Trích dẫn:
…”Con đường đi tới là con đường mưu cầu một nền hoà bình, trong đó mỗi một người Việt Nam, không kỳ thị ý thức hệ, sẽ có một chỗ đứng xứng đáng với phẩm giá con người trên quê hương mình.”
…”Không thể có hoà bình vô điều kiện. Một nền hoà bình Việt Nam nhất định sẽ không thể chấp nhận bất cứ một sự hiện diện nào của các lực lượng nước ngoài và đồng thời cũng không thể chấp nhận bất cứ một cơ cấu, một định chế hay một thế lực nào trong nước ngăn cản công cuộc giải phóng con người Việt Nam.” Hết trích dẫn.
Trình Bầy một tờ báo thiên tả, phản chiến giữa giông bão của cuộc chiến tranh quốc cộng, với Diễm Châu tổng thư ký, Diễm Châu còn một bút hiệu khác là Võ Hồng Ngự. Thế Nguyên là chủ nhiệm. Tờ báo đã quy tụ được nhiều cây viết thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau thời bấy giờ. Không phải chỉ có ở báo Bách Khoa, Trình Bầy thực sự là một vùng xôi đậu với tên tuổi những nhà văn nhà thơ như Nguyên Sa, Diễm Châu, Hoàng Ngọc Biên, Nguyễn Đăng Thường, Trùng Dương, Thảo Trường, Nguyễn Mộng Gíác, Du Tử Lê, Mai Trung Tĩnh, Nguyễn Quốc Thái, Luân Hoán, Trần Hoài Thư, Ngô Thế Vinh… nhiều người xuất thân từ quân đội, bên cạnh đó là những cây bút thiên cộng Ngô Kha, Nguỵ Ngữ… hay cộng sản nằm vùng như Nguyễn Nguyên – Nguyễn Ngọc Lương, giống như trường hợp Vũ Hạnh bên tờ báo Bách Khoa.
VỚI M. PROUST ĐI TÌM THỜI GIAN ĐÃ MẤT
Từ 1959, Biên đã say mê trong nhiều năm đọc và dịch Marcel Proust; 12 năm sau Biên cho xuất bản “Marcel Proust, Con Người Xã Hội”, nhân dịp 100 năm sinh của M. Proust.
- Proust sinh ngày 10.7.1871, mất ngày 18.11.1922 năm ông 51 tuổi. M. Proust đã để lại một sự nghiệp đồ sộ với tác phẩm À la Recherche du Temps Perdu / Đi tìm Thời gian Đã Mất gồm 7 cuốn. Le Temps Retrouvé / Thời Gian Tìm Thấy Lại là tập cuối khép lại mấy ngàn trang sách. Proust đã trở thành một tượng đài văn học được ngưỡng mộ, tác phẩm của ông là đối tượng cho hàng trăm công trình nghiên cứu và luận án từ khi ông chết và cho tới mãi bây giờ.
Những trang sách của ông thế nào mà vẫn làm cho các thế hệ say mê. Chắc chắn chẳng phải chỉ là những ký ức về một ngôi làng, về một gia đình, hay về một thời thơ ấu của cậu bé với nội tâm dồn nén và cả ẩn ức với khuynh hướng đồng tính. M. Proust đã từng ví mình như Noé trong Kinh Thánh, vì cơn hồng thuỷ đã bị nhốt trong thuyền suốt bốn mươi ngày đêm. M. Proust viết: “Bấy giờ tôi mới hiểu được là không có chỗ nào Noé có thể nhìn cuộc đời rõ ràng bằng từ trong thuyền, cho dù thuyền đã đóng kín dù đang tối mịt mùng trên trái đất / Jamais Noé ne put si bien voir le monde que de l’arche malgré qu’elle fut close et qu’il fit nuit sur la terre.” M. Proust, A la Recherche du Temps Perdu.
- Proust với một thể chất bệnh hoạn, bị giam hãm mình trong căn phòng kín, chủ yếu viết về ban đêm. Và từ không gian khép kín ấy, M. Proust đã viết về những cái cái vụn vặt của đời sống đâu đây có phiền muộn, có hoan lạc có những tiếng động, những mùi vị… tưởng như quá tầm thường quá quen thuộc nhưng đã được một thiên tài Proust ghi lại như một ký ức của trí tuệ / mémoire intellectuel bằng thứ ngôn ngữ kỳ diệu đẫm chất thơ và cả nhạc tính.
Trong Thời Gian Tìm Thấy Lại / Le Temps Retrouvé, M. Proust đã viết: “Những sự vật… ngay khi ta thấy được chúng, đã trở thành một cái gì vô hình trong ta.”
Cao Thanh Tùng, một nhạc sĩ cello trong bài viết “Quê hương của Nhạc sĩ” đã ví À la Recherche du Temps Perdu như “một tác phẩm giao hưởng lớn trên dòng chuyển động luân lưu bất tận của thời gian”. Thời gian tưởng đã mất, nhưng rồi qua ký ức trí tuệ của Proust thời gian tìm thấy lại, và đã trở thành thời gian bất tử.
Có thể nói chặng đường tiểu thuyết mới của Hoàng Ngọc Biên thực ra đã chịu ảnh hưởng rất sớm và sâu đậm từ M. Proust chứ không phải chờ tới thời kỳ “phong trào tiểu thuyết mới” với Michel Butor, Alain Robbe-Grillet, Samuel Beckett mà Biên được đọc ở những năm về sau này.
Năm 1967 tại Sài Gòn, Hoàng Ngọc Biên đã giúp Trần Phong Giao thực hiện 2 số báo Văn 85-86 với chủ đề Đọc văn Marcel Proust. Hoàng Ngọc Biên được coi như ngòi bút chuyên khảo về M. Proust ở miền Nam lúc bấy giờ.
CON ĐƯỜNG TIỂU THUYẾT MỚI
Cho tới 1954, tiểu thuyết Việt Nam hầu như vẫn theo khuôn khổ cổ điển, có cốt truyện với diễn tiến theo trình tự thời gian. Trong khi đó, ở phương Tây đang có những bước đột phá của phong trào tiểu thuyết mới/ nouveau roman. Với các tên tuổi như: Alain Robbe-Grillet, Michel Butor, Claude Simon, Jacque Derrida, Nathalie Sarraute… Không còn mẫu mực xây dựng tiểu thuyết truyền thống đã có từ mấy thế kỷ trước. Có thể ví tiểu thuyết mới như một bước phá thể, như từ thơ niêm luật chuyển sang thơ tự do. Hình thức tiểu thuyết mới đã không còn thứ tự thời gian, người viết không còn dùng ngôi thứ ba đứng bên ngoài nhân vật. Cùng sự việc được ghi lại qua nhiều nhãn quan khác nhau và vai trò cốt truyện gần như bị loại bỏ. Michel Butor cũng đã phát biểu: “Tiểu thuyết như một tìm tòi, hình thức của tiểu thuyết có tầm quan trọng hàng đầu”.
Phong trào tiểu thuyết mới của Pháp tuy rầm rộ nhưng ngắn ngủi và không tạo được những ảnh hưởng lâu dài, nhưng nó thành công là đã mở ra những khái niệm khoáng đạt hơn về kỹ thuật xây dựng tiểu thuyết.
Ở miền Nam Việt Nam, thập niên 1960s, một số tác giả trẻ bén nhậy với văn học đổi mới ở phương Tây, bắt đầu dấn thân thử nghiệm kỹ thuật tiểu thuyết mới. Trong số đó phải kể tới Nhóm Đêm Trắng bao gồm Huỳnh Phan Anh, Đặng Phùng Quân, Nguyễn Nhật Duật, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Quốc Trụ. Ý kiến khởi đầu lập Nxb Đêm Trắng là từ Huỳnh Phan Anh, để chỉ xuất bản các sáng tác của nhóm, đa số xuất thân nhà giáo, trừ Nguyễn Đình Toàn và Nguyễn Quốc Trụ. Không tuyên ngôn, không đường lối, mỗi người sáng tác độc lập với quan niệm rộng mở hơn về viết tiểu thuyết.
Dương Nghiễm Mậu tuy không đọc các tác phẩm tiểu thuyết mới của Pháp nhưng DNM được Võ Phiến đánh giá là thành công nhất trong cách sử dụng các kỹ thuật tiểu thuyết mới. “Trong cuốn truyện dài Con Sâu chẳng hạn, ‘tôi’ không hẳn là một nhân vật nào, khi là nhân vật này, khi lại là nhân vật nọ; sự chuyển vị xảy ra thoăn thoắt làm nổi bật sự thay đổi đột ngột những quan điểm nhìn sự việc khác nhau. Ông Dương lại có cái hay là mặc dầu sử dụng kỹ thuật Tây phương ông vẫn giữ được cốt cách dân tộc: đọc ông người ta không hề cảm thấy dấu vết ảnh hưởng ngoại lai, người đọc ở bất cứ trình độ nào cũng thấy thoải mái, thấy một bầu không khí quen thuộc.” [Văn Học Miền Nam Tổng Quan, tr.260-262]
Nhưng theo Nguyễn-Xuân Hoàng và Nguyễn Đình Toàn thì chính Hoàng Ngọc Biên mới thực sự là người khởi đầu nghiên cứu về phong trào Nouveau Roman của Pháp, dịch một số tác phẩm của Alain Robbe-Grillet, viết về 10 nhà văn Pháp hiện đại và cũng thể hiện quan niệm tiểu thuyết mới ấy qua tập truyện Đêm Ngủ ở Tỉnh do Cảo Thơm xuất bản Sài Gòn, 1970. Biên-Butor là một tên ghép bạn bè thân ái đặt cho Hoàng Ngọc Biên lúc đó, Michel Butor là một kiện tướng của phong trào tiểu thuyết mới của Pháp thời bấy giờ.
Trong các truyện, không có truyện của Hoàng Ngọc Biên, chỉ có cái nhìn lạnh lùng bên ngoài của sự việc, không có xen vào những suy tưởng, xúc động của người viết.
Một trích đoạn truyện ngắn Đêm Ngủ ở Tỉnh:
“Anh cúi đầu bước những bước dài ngắn không đều nhau trên quốc lộ số 4 dẫn vào tỉnh lỵ. Dưới cơn mưa mùa hè đột ngột đổ mạnh xuống che kín một bầu trời cũng đột ngột xám đen, thấp trũng, rồi thưa dần, thưa dần – những hạt mưa nhỏ bay theo hướng ngọn gió chiều từ phía cầu sắt tạt mạnh vào mặt anh, lạnh ngắt – anh cẩn thận tránh những vũng nước sâu đọng lại sau mấy ngày mưa, những vạch nước dài chảy thẳng theo những đường cày chồng lên nhau của những chiếc xe hàng ngày vẫn thường chạy lấn hai bên lề, lăn bánh trên chỗ đất vàng. Anh đi qua một quán nước bên phải, rồi một quán nước nữa, mái thấp lẻ tè không qua khỏi tầm tay với, anh đi qua một trại lính bên trái, khung cửa sắt hoen rỉ giờ đây đứng chết lì không đóng lại được, anh đi qua một khu nhà thờ nằm sâu sau một khoảng đất rộng rợp bóng lá cây, những lá cây trong năm vẫn khoác một lớp bụi vàng bốc lên từ mặt quốc lộ – với những chuyến xe hàng, những đoàn xe chuyển binh chạy vụt qua liên miên từng phút từng giây – giờ đây lấp lánh một màu xanh tươi mát.
Anh đi qua ngôi trường tiểu học xây bên hông nhà thờ giờ đây vắng bóng ê a tập đọc của lũ trẻ theo giọng lên thánh thót của các soeurs cất cao sau mỗi nhịp thước gõ trên bàn. Anh đi qua khu đất vừa được đắp lên hơn một năm nay dùng làm nơi hạ cánh cho những chiếc trực thăng hành quân, những xe cần trục, những máy móc, những đống đá xanh còn nằm ngổn ngang la liệt bên những cây sắt dài chồng lên nhau, thẳng hàng, dáng chừng để hoàn thành một sân bay lớn hơn.
Tỉnh lỵ bắt đầu hiện ra với ngôi chùa im lìm ẩn kín sau những cây cảnh nhìn thấy giữa hai hàng dậu thưa, hai hàng chữ nho sơn vàng trên nền đỏ của hai trụ lớn được cơn mưa rửa sạch, rực rỡ hẳn lên. Anh đi qua những mái lá thấp xuống, ướt át, những mái ngói đỏ chói sau những cơn mưa lại đỏ chói hơn, nằm lẫn với hai ngôi chúa Cao Đài mới và cũ, với những hình chạm bay bướm loè loẹt, anh đi qua trạm kiểm soát – nhà ga cũ nhắc lại quá khứ những chuyến xe lửa ghé qua…”
Qua suốt 40 trang sách Đêm Ngủ ở Tỉnh, vẫn một giọng văn đều đều như vậy, xuôi chảy theo dòng ý thức với giàu hình ảnh và cả chất thơ. Người đọc đi theo bước chân nhân vật không có tên, không có địa danh nơi đâu và cũng không biết nhân vật định đi về đâu. Cảnh tượng được ghi nhận như phản chiếu từ một tấm gương, cảm xúc nếu có là do tự người đọc chứ không do truyền đạt từ người viết.
Tuy rất thân thiết và quý trọng tài năng Hoàng Ngọc Biên nhưng Võ Phiến cũng có lúc băn khoăn tự hỏi, qua một lá thư riêng gửi Nguyễn Hưng Quốc: “Cái viết của Hoàng Ngọc Biên, có cố gắng thoát khỏi thời ‘tiền lý thuyết’ Việt Nam? Liệu anh ấy có tìm ra được hướng lý thuyết nào không, đường hướng nào mới mẻ không?”… [Santa Ana 5.6.2004]
Chính Hoàng Ngọc Biên, cả ở những năm về sau này, qua những sáng tác mới anh vẫn cứ bền bỉ và kiên trì đi trên con đường tiểu thuyết mới mà anh đã chọn. Truyện của Biên kén độc giả, Hoàng Ngọc Biên không phải là tác giả của đám đông nên tên tuổi của anh cũng ít được biết tới.

Sách HOANG NGOC BIÊN
ĐỌC THƠ HOÀNG NGỌC BIÊN
Biên làm nhiều thơ. Đọc một bài thơ đầu trích từ tập thơ Biển Ngày Đêm, Trình Bầy, USA, 1999, được mở đầu với câu trích dẫn:
When a man dies
His portraits change.
Anna Akhmatova
Một chỗ ngả lưng
một chút nắng
một chút mưa
một chút chiều êm ả
một chút phật
một chút chúa
một chút bão tố trong đêm
một chút mây
một chút gió
chút địa ngục
ta ghé chơi
một chút thiên đàng
ta ngả lưng nằm xuống
CÕI TẠO HÌNH HOÀNG NGỌC BIÊN
Hoàng Ngọc Biên chưa bao giờ tự nhận mình là trong số thành viên sáng lập Hội Hoạ Sĩ Trẻ, nhưng Biên có tranh tham dự triển lãm chung với
các bạn Hội Hoạ Sĩ Trẻ; và theo Trịnh Cung thì Biên chính thức có tên trong danh sách hội viên HHST từ thập niên 1970.
Nếu Nguyên Khai năm 1994, đã mạnh dạn mở rộng tầm nhìn của người nghệ sĩ vào thế giới kỹ thuật computer hiện đại: anh sáng tạo những bức tranh sơn dầu vẫn với đường nét tài hoa rất Nguyên Khai nhưng có sử dụng thêm cả những chip điện tử như chất liệu mới trong không gian hội hoạ của mình.
Thì Hoàng Ngọc Biên từ thập niên 1990, đã bắt đầu vận dụng kỹ thuật số Digital, để sáng tạo nhiều bức đồ hoạ với đường nét thuần khiết bình dị nhưng bố cục và màu sắc thì đặc sắc.
Biên được du học Singapore về Book Design và Book Production McGraw-Hill sau đó là Nhật Bản. Tài hoa của Biên cũng được thể hiện qua những mẫu bìa báo Trình bầy và các bìa sách rất nghệ thuật theo cái nghĩa cổ điển và cũng rất Hoàng Ngọc Biên.
Rất sớm từ 1977, Hoàng Ngọc Biên đã phát biểu về quan niệm hội hoạ hay nghệ thuật nói chung: “Tôi thích nhìn công việc nghệ thuật tạo hình, trong bất cứ giai đoạn nào, đều là những thể nghiệm, cũng có thể gọi là những trò chơi thể nghiệm. Chỗ này, nghệ thuật tạo hình xích lại gần những nghệ thuật khác: nhạc, múa, văn chương, kiến trúc, điêu khắc, kể cả điện ảnh – và kể cả chuyện dịch thuật: mọi kết quả đều có thể được coi là một đề nghị, hay ít nữa trong tình trạng đề nghị. Một công trình nghệ thuật được công bố không bao giờ nên được nhìn như một sự hoàn chỉnh. Thái độ này không làm giảm giá trị của công việc nghệ thuật, trái lại, nó nâng cao cái nhìn của chúng ta về bản chất của công việc ấy.” Ghi Chép về Công Việc Nghệ Thuật, Saigon 1977
Với Hoàng Ngọc Biên, một tác phẩm được công bố không bao giờ nên được nhìn như một sự hoàn chỉnh, suốt đời Biên luôn luôn là một cuộc hành trình đi tìm cái mới.
HỒ THU NHẠC KHÚC HOÀNG NGỌC BIÊN
Biên còn nhớ từ tuổi nhỏ, nơi thị xã tỉnh Quảng Trị, đã có một ban hợp ca thiếu nhi 5 giọng, trong đó có hai chị em Hoàng Ngọc Biên, cùng hai người bạn đồng trang lứa và một người anh bà con Nguyễn Văn Dziệp – là ca sĩ Duy Khánh sau này. Biên bắt đầu học nhạc và kết anh em với Cao Cự Phúc tức nhạc sĩ Hoàng Nguyên, lúc đó 20 tuổi mới từ chiến khu về. Biên được anh Phúc chọn lĩnh xướng, và chỉ có một bài hát mà Biên còn nhớ là “Khúc hát sông Thao” của Đỗ Nhuận.
1955, Vào Sài Gòn Biên học nhạc với nhạc sĩ Võ Đức Tuyết, em nhạc sĩ Võ Đức Thu. Ca khúc đầu tay “Hồ Thu” được Biên sáng tác năm 17 tuổi giữa những chuỗi ngày thơ mộng trong một chuyến đi Đà Lạt (1955). Biên làm nhạc sớm trước khi viết văn làm thơ; Hồ Thu là một ca khúc thu buồn nhẹ nhàng với ca từ trong sáng. Biên còn nhớ bản nhạc đã được nữ ca sĩ Tâm Vấn hát trên đài phát thanh Quốc Gia Sài Gòn.
Sách của HOÀNG NGỌC BIÊN
HỒ THU (1955)
Nhạc và ời của Hoàng Ngọc Biên
Gió lên rồi dường như nhắc mùa xưa
Tiếng thu về nhẹ rơi lá bên hồ
Buồn hiu hắt về hồ xưa chốn cũ
Hương xa rồi buồn tiếc chi ngày qua
Nước gương hồ lặng im cánh buồm mơ
Bước xưa về lặng nghe sóng bên bờ
Hoàng hôn xuống lạnh lùng hồ soi bóng
Cố nhân về lối cũ mong tìm thu
Mùa hết hương rồi lắng nghe u hoài
Hồ thu năm nay nhuốm màu tình năm cũ
Hoa lá phai tàn úa theo mây vàng
Rộn ràng nghe tiếng thu về tê tái
Gió thu về dường như nhắc mùa xưa
Lá thu vàng nhẹ rơi khắp gương hồ
Trời mây nước này ngàn năm thương nhớ
Hương thu về bối rối trên đường tơ.
Hoàng Ngọc Biên
Bạn bè thân không ai biết Hoàng Ngọc Biên có soạn nhạc. Bản “Hồ Thu” ít được phổ biến, và mới đây được ca sĩ trẻ Ngọc Mai hát. Ngọc Mai cũng sinh tại Quảng Trị, tốt nghiệp Nhạc viện TP HCM 2010, từng đoạt nhiều giải thưởng; hiện là giảng viên thanh nhạc của Nhạc viện TP HCM.
NGÔ THẾ VINH
[Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật
& Văn Hoá, Việt Ecology Press 2017]






