Bài 3
ĐÌNH và CHÙA
LÀNG BÍCH KHÊ
Ca dao ta có câu:
“Qua đình ngả nón trông Đình
Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”
Đình là biểu tượng của của văn hóa làng xã “có từ lâu đời, mà như câu ca dao trên đã nói lên phần nào sự thiết thân của Đình đối với tình cảm quê hương của người dân Việt. “Đình bao nhiêu ngói…” vậy nhưng Đình của làng Bích Khê thì rất “Lạ đời”: Đình không có ngói – tức là không có cột, kèo, rui, mái – Đình lộ thiên! Toàn bộ hệ thống thờ cúng như hương án, bệ thờ, bát nhang, cặp hạc đạp lưng rùa v.v… đều đã được bê-tông-hóa nhân lần tái thiết mới đây và để phơi nắng phơi mưa quanh năm. Hỏi, thì các “chức sắc” làng cho biết: “Truyền thống của Đình Làng ta là vậy.”
Theo gia phả của Họ Hoàng, trong phần nói về vị trí ngôi mộ của ngài Hoàng Hữu Xứng, thì nguyên trước khi cải táng lần 2 là đã được chôn nơi “nền Đình cũ” ở xứ Điếm. “Xứ Điếm” là một địa danh của Làng nằm phía đông cách đập thủy lợi bây giờ khoảng 200 mét. Như vậy, trước đây, dình Làng ta đã có thời gian tọa lạc nơi chỗ ấy, nhưng chẳng rõ sau vì nguyên cớ nào lại chuyển về địa điểm hiện nay.
Trong chiến trận 1972, cùng với đa phần các di sản văn hóa khác của Làng bị bom đạn tàn phá. Đình Làng cũng chung số phận, chỉ còn lại một mặt nền với vài ba phần thành, trụ, bệ thờ… nham nhở với gạch lên “màu xanh thời gian”.
Năm 1990, với niềm tha thiết yêu quê mến tổ, được cổ vũ bởi chính sách phục hồi văn hóa truyền thống của nhà nước ban hành, dân làng đã chung góp tài lực tái thiết lại Đình.
Qua 1993, Đình Làng được làm mới với vóc dáng. Có một vài đổi thay trong các chi tiết cấu trúc, nhưng không phải do cố tình “cải tiến” mà vì “bộ nhớ” con dân chỉ có giới hạn, nhất là “bộ nhớ” của người trực tiếp chỉ đạo công trình. Lễ Lạc thành tái thiết được tổ chức vào ngày tế truyền thống 14, 15/6 Âm lịch (Quý Dậu) nhẳm 1.9.1993, lần đầu tiên sau mấy mươi năm Đình ở trong trạng huống của một phế tích – Đây là ngày Hội lớn của Làng với hình thức tế lễ như xưa, có cờ xí, lồng đèn, trang phục,trống chiêng, lễ nhạc… và vói một con bò thui to đặt nghiêm trang trên bệ xi măng hình chữ nhật ngay trung tâm Đình, trước các hương án thờ thần.
Năm ấy, dân làng thật đông vui, hội về đủ mặt những đứa con gần xa từ Khe sanh Lao Bảo, đồng bằng sông Cửu, Long Khánh, Vũng Tàu, Bà Rịa, Biên Hòa, Tây nguyên, Thanh Nghệ, Quảng ninh, Phan Rang, Phan thiết, Đà nẵng, Huế, Hànội, Saigòn… và cả những con dân lưu vong tận bên kia nửa vòng trái đất cũng về. Còn có mặt cả nhà sử học Trần quốc Vượng, được nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường “móc nối” về dự. Dịp này, nhân lễ rước sắc phong từ chùa Hồng Khê (thực chất chỉ là làm cho đúng nghi thức truyền thống chứ sắc phong đã thành tro bụi với bom đạn từ lâu), nhân dân thôn Bích Khê đã được sáng mắt mở lòng với nhũng giải thích cả giáo sư Trần quốc Vượng về nội dung 2 tấm văn bia chữ Hán còn lại để trước phần tiền đình đổ nát của chùa. Hóa ra Chùa Làng đã có những thế kỷ thứ XVII xa lắc xa lơ, và hàng chục vị Hòa thượng, thượng tọa, thiền sư Phật giáo thuộc nhiều hệ của các họ Đỗ, Hoàng, Đào… đều xuất thân từ Hồng khê cổ tự, trong đó có ngài Giác Phong, tức Hoàng Hữu Đàn, đời 14 Hoàng tộc, một liệt sĩ cách mạng thời chống Pháp, Thượng Tọa Thích Thiện Minh, tức Đỗ Xuân Hàn, một thời là Tổng Trị Sự thanh niên sinh viên Phật tử của miền Nam đấu tranh chống chinh quyền Diệm – Nhu, hay Hòa thượng Thích Trí Quảng, tức Đỗ Khắc Dũ mà bà con Phật tử Làng vẫn thân mật gọi là “Ông Từ Ân”… Vị trụ trì cuối cùng của Chùa Làng là Thiền sư Trừng Đức, tức Đỗ khắc Phức, cũng là một y sĩ Đông y nổi tiếng địa phương. Hiện nay, chùa được giao cho thầy Lê Tại, người Làng làm chủ tự.
Cứ theo văn bia cổ ấy thì Chùa nguyên trước làm bằng tranh tre, phên nứa thô sơ. Sau có nữ Phật tử Lê thị Chiêu, người Châu Ái, phát bồ đề tâm bỏ tiền của ra chỉnh trang lại chùa. Chùa được xây bằng vật liệu nặng, khuôn viên có La thành hẳn hoi. Bà con bỏ tiền tậu đất ruộng cúng dường để Chùa có huê lợi làm quỹ tế tự hàng năm. Năm 1896, (Thành Thái 8) Chùa bị thiên tai vùi dập. Ngài Hoàng hữu Tuệ tiền nhân đời 13 họ Hoàng, thân phụ của Hòa thượng Giác Phong, đã cùng thôn dân Bích Khê bỏ tiền của, đóng góp nhân công đại trùng tu lại Chùa. Và, kể từ kh con cháu 3 họ trong Làng làm ăn phát triển, đỗ đạt, làm quan văn, quan võ, Chùa người thắc mắc, nhất là lớp trẻ. Các vị bô lão của Làng bị con cháu phương xa hạch hỏi đến chóng mặt, nhưng tất cả các Cụ đều rất “ú ớ” trước vấn nạn này.
Tôi được sinh ra và ở với Làng từ nhỏ, đã lớn lên cùng làng từ mũi giáo hầm chông, từ rau rìu rau má, từ con tép con đam nay ruộng cạn mai đồng sâu, đã cùng dân làng bữa khoai bữa sắn lêu bêu đói rách… nên tôi biết nhiều, hiểu sâu về làng, vậy mà chỉ với một cái “truyền thống đặc dị” này của Đình làng cũng chẳng có ai cho tôi được đáo tường gốc ngọn kể cũng “ức” thật. Nếu cố công, chắc chắn tôi có thể lý giải được “căn do” của hiện tượng Lộ thiên này của đình làng, nhưng, để làm gì kia chứ, khi việc thay đổi một truyền thống đã bắt rễ quá sâu trong đời sống dân gian qua hàng chục thế hệ đời người đâu phải là chuyện dễ dàng? Ôi, “Phép vua thua lệ làng”.
Chẳng biết bao giò tơi mới được ngắm nhìn Dình làng tôi với một kiến trúc trang trọng, đúng mẫu mực mô hình truyền thống chung của dân tộc vói nái ngói cong, trên có rồng phụng tung mây, lân qui chầu phục, để mà thoải mái hát lên:
“Qua đình ngửa nón trông Đình
Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”
Bây giờ, làng Bích ta, dẫu sao cũng đã phục hồi được Đình Miếu Tam Tộc, đền Văn Chỉ, đền Âm hồn… trên các địa chỉ cũ trước đây. Và mới đây nhất, Chùa Làng – Hồng-khê-cổ-tự – cũng đã được tái thiết – Hồng khê cổ tự là một ngôi chùa cổ nhất trong những ngôi chùa lâu đời của Quảng trị, ngang tầm với chùa Sắc tứ Tịnh Quang ở Ái tử. Di sản văn hóa này của làng luôn gắn liền với Đình trong các mùa lễ hội truyền thống quê hương. Các phật tử từ An Mô, Tân Định cũng đến đây chiêm bái học Phật.
Hồng Khê cổ tự đã dược dặt đá khởi công tái thiết từ năm ngoái (1999) và đến nay đã hoàn chỉnh phần chánh điện. Con cháu họ Hoàng phương xa gánh vác một phần lớn tài khoản tái thiết cho chùa. Phần tiền đình cũ tuy đã có chuẩn bị ngân sách nhưng vẫn chưa đủ theo dự án nên chưa thể hiện hạ phần phế tích còn lại để làm mới cho trọn vẹn thế liên hoàn của công trình mà thiết kế kiến trúc đã đề ra. Phần khác, cũng do mùa vụ hạn chế nhịp vụ xây dựng rất nhiều.
Cũng như với đình làng, việc chùa làng lại xuất hiện, vươn lên trên mảnh đất xưa chùa đã tọa lạc là nhờ tấm lòng ưu ái của con dân làng thể hiện qua sự tích cực đóng góp; đặc biệt là sự hỗ trợ tinh thần của Giáo hội tỉnh và của chính quyền địa phương.
Viết đến đây thì tôi được tin Bích khê ta vừa khai sinh “Hội khuyến học” của Làng. Một chuyện đáng mừng. Chính từ khởi điểm này, Bích khê sẽ chuẩn bị đủ vốn liếng hành trang cho mình để tiến lên một “làng văn hóa”, nối bước cha ông xưa…
Rồi đây, Lễ Tế Đình vào nhũng mùa thu tới sẽ là dịp qui tụ đủ mặt “quần hào”của cả 3 họ Hoàng, Lê, Đỗ để vinh danh cho Bích khê – “Địa Linh Nhân Kiệt”
HOÀNG THẠCH TÚ– (Đ 17)