Bài 6
NHỮNG SUY DIỄN SAI LẦM VỀ THỜI ĐIỂM LỊCH SỬ:
“600 NĂM THÀNH LẬP LÀNG BÍCH KHÊ
(1417 – 2017)”
Ở làng Bích Khê có ngôi miếu nhỏ gọi là Miếu TAM TỘC thờ ba vị khai canh họ Lê, họ Đỗ, họ Hoàng. Theo nghiên cứu của ông Đỗ Thiên Thạch thì:
“Thủy tổ của họ Lê là ngài Lê Trừ; của họ Đỗ là ngài Đỗ Thiên Mẫn; của họ Hoàng là ngài Hoàng Công Hội. Cả ba ngài đều đến khai phá làng Bích Khê cùng một lúc và cùng được sắc phong cùng một cấp như nhau là “Tiền khai canh, Dực bảo trung hưng linh phò tôn thần”. Tuy nhiên ngài Lê Trừ thuộc dòng dõi nhà Lê – ngài Đỗ Thiên Mẫn là một vị quan văn nên khi lập hương ước, họ tên của hai ngài được ưu tiên kể trước. Về sau chúng ta quen gọi ba họ theo thứ tự Lê – Đỗ – Hoàng”.
Ba vị khai canh đều đã được sắc phong là Thần hoàng, được thờ phụng theo hương ước từ hàng trăm năm nay. Điều này thì các bậc trưởng bối trong làng đều biết. Còn những điều tôi sắp nói sau đây thì không phải ai cũng biết.
- NHỮNG SUY DIỄN SAI LẦM
Khoảng cuối tháng 5-2017, tôi nhận được thông báo về việc tổ chức đại lễ kỷ niệm 600 NĂM THÀNH LẬP LÀNG BÍCH KHÊ – (1417- 2017) và đón nhận danh hiệu LÀNG VĂN HÓA XUẤT SẮC CẤP TỈNH. Đây là lần đầu tiên tôi được nghe nói về thời điểm thành lập làng với những cột mốc thời gian chắc như đinh đóng cột này. Không chỉ đời tôi mà các bậc tiền nhân mười mấy đời trước chắc cũng chưa ai nghe nói như thế.
Trước tiên tôi đem thắc mắc này hỏi bề trên của tôi là ông Hoàng Hữu Hạch. Ông Hạch lại hỏi những người trong ban tổ chức lễ hội thì được ông Đỗ Khắc Duệ giải thích: “Căn cứ theo gia phả họ Lê thì ngài thủy tổ họ Lê vào khai canh trước. Vài trăm năm sau, họ Đỗ, họ Hoàng mới vào”.
Tôi bèn gửi mail hỏi ông Đỗ Thiên Thạch ở làng Bích Khê là người có khả năng tiếp cận với các tài liệu Hán Nôm và quan tâm tới các vấn đề văn sử học.
Trong thư ông Thạch trả lời cho tôi có đoạn như sau:
“Tôi là người may mắn được BCH họ Lê làng miềng tin tưởng, nhờ tôi trùng tu gia phổ của Họ. Đây là bản gia phả được ông Lê Quang Thế (đời thứ 17 của họ Lê) sưu tầm và viết lại, trên cơ sở bản gia phả gốc của họ Lê (bản này chỉ còn rất ít thông tin do bị mục nát và bị cháy) và những tư liệu, kiến thức mà ông Thế sưu tầm được.
* Tôi cho rằng:
– Những thông tin mà ông Thế sưu tầm đều có căn cứ lịch sử, những tư liệu sưu tầm đều có sử tích.
– Tuy nhiên để nói rằng ngài Thủy tổ họ Lê vào sáng lập làng Bích Khê vào năm nào thì bản gốc gia phả họ Lê không ghi, ông Thế cũng không viện dẫn rõ tài liệu nào nói lên điều này.
– Ở mục “Nguồn gốc họ Lê”trong gia phả họ Lê cũng không có chỗ nào nói họ Lê và làng miềng có từ năm 1417. Tất cả chỉ là ước tính và suy đoán chủ quan mà thôi.
Và ông Thạch kết luận:
– Tôi rất bất ngờ khi nghe làng miềng tổ chức “kỷ niệm 600 năm thành lập làng Bích Khê” (chỉ có nghe thông tin là làng đón nhận danh hiệu Làng Văn hóa xuất sắc cấp tỉnh mà thôi). ”
Ông Thạch cũng gửi cho tôi xem phần lịch sử NGUỒN GỐC HỌ LÊ liên quan đến lịch sử của làng Bích Khê mà bên họ Lê nhờ ông Thạch hiệu đính và nay tôi xin mạn phép giới thiệu lại toàn văn để tiện tham khảo:
NGUỒN GỐC HỌ LÊ
Ca dao có câu:
“Uống nước ta phải nhớ nguồn
Được ăn quả chín nhớ ơn người trồng”.
“Nguồn”là nguồn nhân, “Quả”là quả phúc. “Quả phúc”, “Nguồn nhân” do Tiên Tổ chúng ta đã tích lũy từ xa xưa, lưu truyền cho ta.
Chúng ta, trãi ba mươi năm sống trong cảnh mưa bom lửa đạn giờ được sum họp gia đình; bao nhiêu sự khổ cực, tai bay, vạ gởi đều tránh thoát. Sự may ấy, nghĩ rằng: đó là sự tài trí, khôn ngoan, lanh lợi phấn đấu của bản thân ta, chứ phúc ấm Tổ Tiên có liên quan gì. Nghĩ như vậy tức là phủ nhận tất cả, so với Tịch Đàm không hơn không kém.
Chúng ta không muốn đời sau tặng cho cái tên Tịch Đàm, tất nhiên chúng ta phải tìm biết nguồn gốc giòng họ chúng ta. Bởi vậy, chúng ta cần khảo cứu lịch sử và di tích do Tiên Tổ di lưu.
Căn cứ Tộc – Phổ xưa, thấy chép biên Tiên Tổ họ ta xưa gốc ở huyện Thụy Nguyên tỉnh Thanh Hóa, đơn giãn vậy thôi chứ không ghi chép căn nguyên rõ ràng. Mong được biết rõ hơn chúng ta cần sưu tầm lịch sử để xác định.
Triệu Tổ, Khải Tổ họ ta gốc ở huyện Thụy Nguyên thuộc Thanh Đô trấn (tức Thanh Hóa) đều làm quan chức đời nhà Trần. Lúc bấy giờ các Ngài chán ghét chế độ mục nát, hà khắc của vua nhà Trần và việc tham lam lộng quyền của Hồ Quý Ly, đều bỏ quan về quê nhà mở rộng phạm vi dinh điền Lam Sơn trại đến Mộc Châu, vào đến Hoan châu, đến tận Trà Lâu (biên giới Lào).
Theo Ngọc Phổ thời Lê và Lê Triều Tạp Kỷ, các vị ấy là: Ông Lê Trừ, Lê Chích, Lê Lợi, Lê Lai, Lê Ngân, Lê Nổ, Lê Thạch, Lê Khôi v.v… đều là bác, là chú, là anh em thân thuộc.
Các Ngài đều là bậc thức thời, có chí lớn, bởi nguyên do thân thuộc, sau khi dẹp xong giặc Minh, trong bài “Bình Ngô”có câu: “Đầu giao hưởng sĩ, phụ tử chi binh nhất tâm” tạm dịch “Mở tiệc quân, khắp tướng sĩ một lòng phụ tử”.
Các Ngài đoán được vua nhà Trần suy nhược, thế nào cũng bị quyền thần Hồ Quý Ly chiếm đoạt và để cũng cố địa vị, Hồ Quý Ly sẽ đem quân đánh Chiêm Thành, nhân cơ hội đó con cháu họ Trần sẽ cầu cứu quân Minh, nước Việt Nam sẽ bị giặc Minh cướp đoạt.
Quả nhiên, sau khi thanh toán ngôi vua nhà Trần, Hồ Quý Ly liền sai tướng Đỗ Mãn đem quan đánh Chiêm Thành, bắt vua Chiêm phải nộp đất Chiêm động lập thành phủ Thăng Bình (Quảng Nam) đất cổ lủy, lập bốn châu: Châu Thăng, Châu Hòa, Châu Tư, Châu Nghĩa (Quảng Nghĩa), di dân Việt vào dinh điền, đặt quan Việt Nam cai trị. Nhân dịp ấy, để mở rộng căn cứ, bám sát các thành thị, tích trử lương thực, các Ngài Khải Tổ họ ta đã vào lập dinh điền sở tại Thuận Châu và Hóa Châu, quy mộ dân lập thành thôn, xã.
Làng Bích Đàm (Bích Khê), làng Hà Khê (Xuân Hòa) đều là cơ sở dinh điền, đồn chứa lương thực, bám sát thành thị của các Ngài Tiên Tổ họ ta trong khoảng (1406 – 1418).
Để chứng minh việc lập chiến khu dinh điền chuẩn bị đánh Nghệ An, Hà Tịnh, tại núi thuộc huyện Hương Sơn, Thanh Chương, từ dãy núi Tây Bắc ngã ba tuần Tam Xoa, từ hai sông Ngàn Lâu, Ngàn Phố hợp dòng là một công trình tính toán rộng lớn để đóng quân, không phải chỉ có mục đích duy nhất dinh điền. Đời sau ông Bùi Cương Lịch có thơ vịnh rằng:
“Đất giáp ba sông hiểm;
Núi hình vạn ngựa phi
Chương Dương chia hai ngã
Lam phố hiệp ba chi
Hoan đức khoe trấn hiểm
Trà cao giữ biên thùy
(Hoan là Hoan châu; Đức là phủ Đức Thọ; Trà là Trà Lâu; Cao là Trích cao giáp Lào).
“Bình Ngô ngày thủa nọ
Phá giặc dựng quốc ky (cơ)”
(Câu này nói vua Lê Lợi đóng quân đánh giặc Minh).
Vị trí làng Bích Đàm thì bám sát Thuận thành:
“Bích Đàm, An Việt, Bố Liêu
Trúc giang sóng gợn gấm găng ruộng vườn
Quán xá bọc quanh Thuận thành…”
Sách Thuận Hóa Địa dư và Ô Châu địa lý tả chợ Thuận rằng: “Chợ ở địa phận huyện Vũ Xương và Hải Lăng, có một ngành sông con từ sông cái chảy vào Tây nam, trên sông bắc dịp cầu dài, những hàng quán, nào thành, nào huyện đối nhau, hai phía đi thủy, đi bộ đều tới, chính là nơi đông đúc của Thuận châu vậy”.
Trên đây là di tích lịch sử, sau đây là hành động của các Ngài có liên hệ với các vị Khải Tổ họ ta, để rồi chúng ta đứng về phương diện khách quan suy xét, và minh định.
Năm 1406, quân Minh kéo sang nước ta truyền hịch chỉ đánh Hồ Quý Ly giúp vua nhà Trần, nhưng sau khi đã bắt được cha con Hồ Quý Ly rồi vẫn tiến quân chiếm đánh nước ta. Vua Thái tổ Lê Lợi khởi nghĩa năm 1418, khi ấy các vị Khải tổ chúng ta là Lê Trừ, Lê Chích và các vị khác đều tụ họp tại Lam Sơn. Năm Kỷ Hợi (1419) trọng binh quan Minh đóng ở Nghĩa Liệt thành gần làng Triều Khẩu và thành Nghệ An, phía nam căn cứ dinh điền Hoan Đức. Vua Lê Lợi đánh thành Nghệ An, chia quân đánh cả thành này. Nghệ An, Nghĩa Liệt bị hãm, nghĩa quân toàn thắng, tướng quân Thái Thúc tử trận.
Quân Minh sai Đại hành – Khiển Phùng Năng đi đường thủy vào đánh lén Hóa thành và Thuận thành bị nghĩa quân ta chặn đánh liền thua chạy theo đường bộ đến xã Duy Liệt bị tướng nghĩa quân Thuận Thành là Phạm Đăng (Phạm Thế Đăng) đánh úp, Phùng Năng tử trận. Năm 1427, Lê Ngân, Lê Nổ và Trần Nguyên Hãn đem quân thủy – bộ vào đóng ở Hà Trung, trấn thủ Thuận thành, ông Lê Thức đem 3000 quân (Nghĩa dũng) và 2000 hộc (thăng, đấu) gạo và lương khô ra giúp. (Lam Sơn chiến sự; Lê triều dã sử).
Căn cứ vào sự hiện diện của các vị Khải tổ họ ta và việc ông Lê Thức (vị tổ thứ tư họ ta) đem quân lương trợ chiến. Xét nếu không phải tình thân thuộc thì việc gì phải lo nghĩ và ân cần giúp đỡ, xong pha trên đường ngàn dặm ?
Sách Ô châu nhân vật ký và sách Ô châu cận lục do Sùng nham bá Dương Văn An nhuận sắc năm Ất sửu (1553) mục bạn vua viết: “Ông Lê Văn ở làng Hà Khê, bạn học với vua Lê Thánh Tôn lúc vua chưa lên ngôi – mục này chỉ viết một húy hiệu ông Lê Văn. Chúng ta nghĩ xem, thời đại quân chủ thịnh hành một người con thường dân đâu có được hạnh phúc học cùng một trường với Hoàng tử (con vua) và làm bạn thân với con vua, ông Lê Văn đã được cùng học và kết bạn thân duy nhất với vua Lê Thánh Tôn, trong việc ấy phải có nguyên nhân quan hệ thân thích. Văn sĩ thời đại ấy đã tặng ông Lê Văn bài thơ: “Nhất duyên, nhì phận, ba phong thơ, bốn tích âm công đến học hành”(ông Lê Văn là vị tổ đời thứ năm họ ta). Trong bài thơ, chữ duyên phận, học hành chủ ý khen “phần mộ, Tổ đức, Tông công”không riêng gì ông Lê Văn mà cả vua Lê Thánh Tôn.
Ngày 04 tháng Chạp, Lê Thánh Tôn đem quân vào đánh Chiêm Thành đến Nghệ An nghĩ quân, vào thăm đền thờ Ngài Lê Khôi tại xã Triều Khẩu, đề thơ điếu, làm lễ tế và phong tặng phong tước ngài Lê Khôi là Chiêu Trưng đại vương (Đ.N.N.T.C).
Ông Lê Thúc Thông có đăng việc này ở Nam Phong số 101 trang 454. Trong bài báo, Lê Thúc Thông viết rõ rằng: “Vua Lê Thánh Tôn, niên hiệu Hồng Đức nguyên niên (1470) thân chinh Chiêm thành có hai mục đích: mục đích chính là mở rộng nước Nam về phương nam, mục đích thứ hai là phục thù thay việc ông Lê Khôi đánh Chiêm tuy thắng trận, nhưng ông Lê Khôi bị thương về đến núi Nam giới (Kỳ Anh) thì mất, vì ông Lê Khôi với vua Lê Thánh Tôn có tình huynh đệ đồng đường.
Tháng 02 niên hiệu Hồng Đức thứ 02 (1471), vua đem quân đến Thuận châu đóng quân ở Thuận Thành đi thăm địa thế khen: “xã Bích Đàm nước pha màu biếc, nền củ Cổ thành vẫn còn”và truyền đổi Hồng Khê xã, thay vì Bích Đàm xã (Ô châu địa dư chí).
Chúng tôi tự hỏi: Theo quy chế xưa, chữ húy vua và niên hiệu vua không được dùng vào văn kiện và đặt tên. Vậy mà vua Lê Thánh Tôn dùng chữ niên hiệu của vua đặt tên xã hiệu “Hồng Khê”thay Bích Đàm. Việc dùng chữ niên hiệu của chính vua mà đặt đổi tên xã Bích Đàm thành xã Hồng Khê, vua Lê Thánh Tôn đã làm một kỷ niệm không phải ngẫu nghiên, suy cho sâu thì rất ý nhị, đầy cảm tình lưu luyến, cảm thông tưởng niệm công nghiệp của tiền nhân cùng dốc hết khả năng xây dựng nước nhà, xây dựng tôn mon tộc thuộc;
Tóm tắt việc xưa, tích củ chúng ta khách quan nhận xét không cần biện luận thêm, vì những hoạt động và di tích lịch sử nêu trên đã trả lời; chúng ta đã tìm thấy, biết rõ lai lịch nguồn gốc giòng dỏi họ chúng ta rồi vậy.
Làm trong mùa Hạ năm Đinh Tỵ.
Bổn tộc đồng duyệt ký
Về tài liệu nói trên, tôi xin có vài nhận xét sơ bộ như sau:
– Văn bản trên không có giá trị Gia phổ học vì nó chỉ mới được ông Lê Quang Thế, hậu duệ đời 17 của họ Lê – Bích khê suy diễn và chế tác trong vài năm gần đây. Phải là gia phả chữ Hán cổ, viết tay trên giấy bỗi mới có thể xem là bản gốc. Hiện nay có những quyển gia phổ chế tác bằng loại chữ Hán đời mới do công cụ vi tính Google Translate phiên dịch cũng không đáng tin cậy.
– Thỉnh thoảng ông Thế trích dẩn những quyển sách mà ông gọi tên là Thuận hóa địa dư, Ô châu địa lý, Ô châu dư địa chí, Ô châu cận lục… Trong số những quyển kể trên, chỉ có Ô châu cận lục của Dương Văn An đã được dịch ra tiếng Việt và phổ biến rông rãi. Còn những quyển kia không biết ông Thế kiếm đâu ra, tác giả là ai, viết vào năm nào…? Liệu có thể làm rõ được không? Nếu không thì những trích dẩn gì đó không có giá trị sử dụng.
Cứ theo văn bản nguồn gốc lịch sử họ Lê do ông Thế suy diễn thì:
– Thượng thủy tổ của họ Lê Bích khê là các ngài LÊ TRỪ, LÊ CHÍCH – anh em bà con với vua Lê Lợi đã cùng các tướng tham gia khởi nghĩa Lam Sơn.
– Các Ngài khải tổ họ Lê đã vào lập dinh điền sở tại Thuận Châu và Hóa Châu, quy mộ dân lập thành thôn, xã. Làng Bích Đàm (Bích Khê), làng Hà Khê (Xuân Hòa) đều là cơ sở dinh điền, đồn chứa lương thực, bám sát thành thị của các Ngài Tiên Tổ họ ta trong khoảng (1406 – 1418).
– Danh sĩ LÊ VĂN là vị tổ đời thứ 5 của họ Lê – Bích khê.
Tôi đã tham khảo các tài liệu đáng tin cậy và thấy sự suy diễn của ông Lê Quang Thế về nguồn gốc họ Lê – Bích khê có nhiều điều sai lầm không thể chấp nhận:
+ Trong sử liệu đúng là có tên ông Lê Trừ là anh thứ hai của Lê Lợi và là cha của vị công thần danh tướng Lê Khôi
Thân thế của ông Lê Trừ rất rõ ràng: “Tục truyền, Lê Khôi, thụy là Võ Mục, con ông Lê Trừ là anh thứ hai của Lê Lợi. Cha mẹ mất sớm, Lê Khôi ở với chú ruột là Lê Lợi, tham gia nghĩa quân, có tên trong Hội thề Lũng Nhai gồm 35 công thần tụ nghĩa. (Báo Hà Tĩnh điện tử)
Trang web của một hậu duệ họ Lê là Lê Anh Chí nói về Lê Khôi cũng khẳng định Lê Trừ mất sớm:
Vua Lê Thái Tổ có hai người anh: ông Lê Học và ông Lê Trừ. Vua ta được người anh cả, ông Lê Học, giáo dục và thừa hưởng sự nghiệp Lam Sơn (phụ đạo Lam Sơn) cũng từ người anh cả tài ba lỗi lạc này. Đình thượng hầu Lê Khôi là con trai trưởng của ông Lê Trừ. Ông Lê Trừ mất sớm, từ nhỏ LK sống với vua, học võ học văn từ vua, là học trò ruột của Vua Lê Thái Tổ – (Trang nhà Lế Anh Chí).
Người ta nhắc đến tên ông Lê Trừ chỉ vì ông là cha của Lê Khôi. Ngoài ra không thấy ghi chép thêm hành trạng nào của ông cả. Ông Lê Trừ không có tên trong danh sách 19 người thân thích tham gia Hội thề Lũng Nhai năm 1416 lại cũng không có trong danh sách 35 tướng sĩ tham gia khởi nghĩa Lam Sơn năm1418. Khi ông Lê Khôi trưởng thành để tham gia khởi nghĩa thì ông Lê Trừ đã qua đời từ lâu, vậy làm sao có thể vào khai hoang để trở thành ông khai canh của làng Bích Khê vào khoảng năm 1417?
+ Tài liệu của ông Thế khẳng định ông Lê Văn, bạn của vua Lê Thánh Tông là tổ đời thứ 5 của họ Lê – Bích Khê. Nhưng theo Ô châu cận lục, (Ts Nguyễn Khắc Thuần dịch và hiệu đính – Quyển thứ 6 – Nxb Giáo Dục) nói về Nhân vật) thì các ông Lê Văn,Lê Tiềm đều là người huyện Kim Trà, nay là huyện Hương Trà thuộc tỉnh Thừa Thiên. Nếu từ ông tổ đời thứ 5, họ Lê – Bích Khê đã đổi quê quán từ Bích Khê – Quảng Trị thành Hương trà – Thừa Thiên thì ông Lê Quang Thế Đ.17 cũng đâu có còn là người Bích Khê – Quảng Trị mà phải là người Hương Trà – Thừa Thiên.
+ Theo trang web LÊ ĐẠI TỘC tức bản tiếng Việt dựa trên ngọc phả triều Lê thì các ngài Lê Trừ, Lê Học, Lê Lợi là con của ông Lê Khoáng – thuộc đời 15 của họ Lê. Thế mà ông Lê Văn bạn của vua Lê Thánh Tông lại được kể là đời thứ 5 rồi đến ông Lê Quang Thế hiện nay là đời 17. Sao cái cây phổ hệ của ông Thế lại lộn xộn quá vậy ?
+ Ông LÊ KHÔI con ông Lê Trừ là một danh nhân lịch sử. Ông Khôi được phong tước hiệu Chiêu Trưng đại vương, có đền thờ uy nghi từ hàng trăm năm nay. Cha ông là Lê Trừ cũng được vua ban tước là Hoằng Dũ đại vương và thờ trong đền thờ ấy. Đã được phong vương ở đấy rồi không lẽ ông Lê Trừ còn được sắc phong thần hoàng ở làng Bích Khê?
+ Riêng ông Lê Chích thuộc họ Nguyễn – tên thật là Nguyễn Chích sau khi Lê Lợi làm vua, ông được ban cho quốc tính nên đổi thành họ Lê. Theo qui định xưa, đặc ân quốc tính chỉ có hiệu lực trong một đời người đó. Những người đời sau phải trở về với họ thật của mình để khỏi mất gốc. Vậy đừng kể ông Lê Chích vào hộ khẩu họ Lê – Bích Khê. Trước khi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Chích đã xây dựng được một căn cứ chống giặc Minh vững mạnh ở Vạn lộc (Đông sơn -Thanh Hóa) nên càng không rời bỏ căn cứ này để vào Thuận Hóa làm “kinh tế mới”.
(Trích Gia phả Lê Đại Tộc tức bản dịch ngọc phả dòng họ Lê Lợi)
LÊ TRỪ – Hoằng Dũ đại vương – Đời thứ: 15
Là con của: LÊ KHOÁNG – Tuyên Tổ Phúc hoàng đế
Vợ LÊ THỊ LĂNG – Trinh Cẩn Thái phi
Các anh em, dâu rể:
LÊ HỌC – Chiêu Hiếu đại vương
LÊ LỢI – Vua Thái Tổ Cao Hoàng Đế
LÊ THỊ NGỌC TÁ
LÊ THỊ NGỌC VINH
LÊ THỊ NGỌC TIÊN
Con cái:
LÊ KHÔI – Chiêu Huy Đại Vương
LÊ KHANG – Hiển Công Vương
LÊ KHIÊM – Xương Quốc Công
LÊ ĐẠO – Thiếu Úy
Đến đây chúng ta có thể khẳng định: Ông Lê Trừ, anh của vua Lê Lợi không phải là ông Lê Trừ đã khai canh làng Bích Khê. Đồng thời các ông Lê Chích, Lê Khôi, Lê Văn cũng không liên quan gì đến lịch sử khai hoang của làng ta.
Vậy thì phải chăng có một nhân vật Lê Trừ nào khác trùng tên đã vào khai canh làng Bích Khê vào khoảng năm 1417? Theo tôi, người trùng tên thì chắc là có nhưng người này không thể vào khai hoang vùng Bích khê trong thời điểm 1417 vì lẽ:
+ Vùng Thuận Hóa từ cuối đời Trần đã bị người Chiêm Thành tái chiếm nhiều lần. Tuy có lúc Hồ Quý Ly ra quân bình định lại được nhưng đến năm 1406, nhà Hồ bị diệt. thì vùng đất này bị đặt dưới sự bình định rất ngặt của quân Minh. Theo Minh sử, Trương Phụ bắt được vua Trùng Quang nhà hậu Trần ở Ái Tử, chính là vùng này vậy.
+ Để tăng cường quản lý Giao Chỉ, nhà Minh tổ chức lại hệ thống xã thôn thành lý và giáp. Cứ 10 hộ thành 1 giáp do Giáp trưởng đứng đầu; 110 hộ thành 1 lý do lý trưởng đứng đầu. Các tên làng xóm cũ đều bị xóa bỏ, đặt tên mới. Chức năng chính của Lý trưởng và Giáp trưởng là thu thuế cho chính quyền đô hộ. Họ thường bị ép bức và đánh đập nên khi được giao chức đều rất lo sợ.
+ Trong khi đó, từ Thanh Hóa vào nam, quân Minh cấm dân trồng lúa để cắt nguồn lương thực của các phong trào kháng chiến, khiến nghĩa quân phải làm những chuyến phiêu lưu ra bắc tìm thực phẩm. Từ đầu năm 1408, Hoàng Phúc còn cho lệnh khai thác mỏ vàng, mỏ bạc ở bảy tiểu khu. Giao cho hai đô ty và bốn phó đô ty, cùng 21 án sát huyện và hai tri phủ điều khiển. – (Theo tài liệu: Đại Việt dưới ách đô hộ của nhà Minh – Giao Chỉ Đô Thống Sứ Ti-5/7/1407-3/1/1428 của Vũ Ngự Chiêu – Nghiên cứu lịch sử.com – Madison, Wisconsin, 4/1979 – Houston, Texas 7/2015)
Từ đó suy ra: Không thể có họ Lê hay bất kỳ họ nào đến khai hoang lập nghiệp, lập ra làng Bích Khê trong suốt thời gian giặc Minh còn cai trị vùng đất này. Trong tình hình như vậy, mà nói ông Lê Trừ đến đấy khai hoang, lập ra làng Bích Khê ngay trước mũi giặc Minh vào năm 1417 để làm căn cứ tiền tuyến hậu phương gì đó thì thật là hoang tưởng.
+ Ngoài ra còn thêm một nghi vấn khác. Hiện nay có hai cộng đồng họ Lê khác chỉ cách cộng đồng họ Lê Bích Khê vài km. Đó là họ Lê ở Triệu Đông và họ Lê ở Hậu Kiên. Làm sao chứng minh được rằng ngài Lê Trừ vào khai hoang ở Bích Khê chứ không phải ở địa bàn của hai họ Lê kia?
Tóm lại nói: “600 năm lịch sử thành lập làng Bích Khê – (1417-2017)” là hoàn toàn sai, không thể chấp nhận. Vậy xin đề nghị bà con, nhất là các chức sắc trong họ trong làng, nhà văn, nhà báo… từ nay đừng nhắc lại điều sai lầm nầy trong các văn bản, văn kiện đối nội và đối ngoại.
LỊCH SỬ LÀNG BÍCH KHÊ QUA GIA PHỔ HỌ HOÀNG
Chúng tôi hiện đang bảo quản quyển gia phổ gốc của họ Hoàng có tên là Xương Khê Hoàng tộc thống phổ, bản chữ Hán với thủ bút của tác giả là ngài Thượng thư Hiệp biện Đại học sĩ Hoàng Hữu Xứng biên soạn vào năm 1876. Trong phần nói về nguồn gốc họ Hoàng có một đoạn liên quan tới lịch sử thành lập làng Bích Khê như sau:
“Vào khoảng thế kỷ thứ 16, thượng thủy tổ họ Hoàng là ngài Hoàng Công Hội cùng với ông anh ruột và hai ông thủy tổ các họ Đỗ và họ Lê vào Nam theo các đợt di dân lập nghiệp của chúa Nguyễn. Đến bờ sông Điếu Ngao ở Đông Hà, ông anh ngược dòng sông lên vùng Cam Lộ lập nên làng Bích Giang. Còn ngài Hoàng Công Hội chia tay anh, xuôi theo dòng sông Thạch Hãn và dừng lại, cùng hai vị khai canh họ Đỗ, họ Lê lập nghiệp ở địa phận làng Bích Khê ngày nay”
Tài liệu của ngài Hoàng Hữu Xứng không nói rõ ba vị khai canh lập nghiệp ở Bích Khê vào năm nào. Bởi vì vào khoảng thế kỷ 16 có nhiều đợt di dân theo Nguyễn Hoàng. Lần đầu tiên rầm rộ nhất là vào năm 1558, Nguyễn Hoàng đi công khai hợp pháp theo mệnh vua vào trấn thủ đất Thuận Hóa. Trong những năm tiếp theo có thể có những đợt di dân kín đáo khác để tránh tai mắt của chúa Trịnh.
Ngài Hoàng Hữu Xứng là một tác gia làm sách Sử ký và Địa lý dưới triều vua Đồng Khánh. Ngài được triều đình sai biên soạn bộ sách địa lý Đại nam quốc cương giới vựng biên. “Sau gần nửa năm biên soạn, bộ sách được hoàn tất vào tháng 5-1887. Sách gồm 7 quyển và một bản đồ cả nước. Thấy sách soạn thảo thành công tốt đẹp, nhà vua cho Hoàng Hữu Xứng được hưởng thực phái, mọi người đều được khen thưởng. Rồi nhà vua lại cho ông được sung chức Toản tu ở Quốc Sử Quán. Tờ tấu của Hoàng Hữu Xứng đề ngày mồng 9 tháng 4 năm Đồng Khánh thứ hai, tức ngày 1-5-1887 nói về việc làm sách này có đoạn: “Nếu có chỗ chưa biết được rõ thì để khuyết chứ chẳng dám làm một cách khiên cưỡng hoặc lấy ý mình mà điền thế vào. Tùy theo nơi, nếu cần thì làm phần cẩn án phụ thêm ở dưới mỗi khoản, đợi sau sẽ khảo đính. ”. (Theo Phan Thuận An – Hoàng Hữu Xứng, tác gia Sử ký – Địa lý VN thế kỷ XIX).
Đó là tác phong khoa học, nghiêm túc và cẩn trọng của người làm sử sách. Tất nhiên ngài cũng đã viết lịch sử và gia phổ họ Hoàng với tinh thần: “Cái gì biết thì nói rằng biết. Không biết thì nói rằng không. Ấy là biết vậy”. Do đó, một khi chưa có tư liệu về năm thành lập làng Bích Khê thì ngài Hữu Xứng không dám suy diễn, bịa đặt. Giả sử trong gia phổ họ Hoàng có chỗ nào suy diễn chủ quan, khiên cưỡng hoặc chế tác sai sự thực mà có kẻ đàn hặc đến tai nhà vua thì cả bộ sách lớn là Đại Nam quốc cương giới vựng biên cũng bị nghi ngờ chất lượng. Chẳng những không được thưởng mà có khi còn bị tội nặng.
Sau này quyển gia phổ bản gốc chữ Hán của ngài HHX được các cụ Đời 15 là Hoàng Hữu Thước, Hoàng Hữu Cảnh, Hoàng Hữu Vỹ dịch ra chữ quốc ngữ. Hễ gặp chữ khó hoặc nghi vấn thì các cụ trao đổi, tra cứu cẩn thận chứ không hề dám chủ quan. Năm 1984, ngài Hoàng Hữu Thước đã lên tận làng Bích Giang – Cam Lộ để xác minh nhánh họ Hoàng của ông anh ngài Hoàng Công Hội. Năm 2010 đến lượt tôi cũng lên gặp các gia đình họ Hoàng ở làng Bích Giang để tìm hiểu thêm. Tôi đã được xem quyển gia phổ của họ Hoàng Bích Giang thấy trang đầu ghi tên vị tiền khai canh là Tiềm long hầu Hoàng Bá Ngụ. Đây là một chức tước khá lớn và rất quen thuộc trong thời kỳ Lê mạt -Nguyễn sơ. Ví dụ: An hòa hầu Nguyễn Kim, Hạ khuê hầu Nguyễn Hoàng, Lộc khuê hầu Đào Duy Từ, Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh… Trong sách Phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn, quyển I (Bản dịch của Ngô Lập Chí – Đại Học Tổng Hợp Hà Nội –1959) còn thấy rải rác những vị chỉ huy có tước hiệu Vạn long hầu, Thắng long hầu, Chấn long hầu… Từ đó tôi suy diễn: Tước hiệu Tiềm long hầu của ngài Hoàng Bá Ngụ là có thật. Với chức tước như vậy nếu theo Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa thì ông sẽ đi công khai trong thành phần lãnh đạo chuyến di dân rầm rộ vào năm 1558 chứ không đến nỗi phải đi lén lút như dân nhập cư ẩn lậu trong các chuyến sau. Khi đến Điếu Ngao (địa bàn tương ứng Thành phố Đông Hà ngày nay) ông Hoàng Bá Ngụ đi về phía Cam Lộ để xây dựng địa bàn có tầm quan trọng chiến lược. Còn ngài Hoàng Công Hội là em của ông và có lẽ cũng là vai em của cả hai ông họ Lê họ Đỗ – ba vị này đi về phía đồng bằng để khai canh làng Bích Khê. Vậy nếu nói làng Bích Khê được thành lập vào khoảng năm 1558 thì còn có thể chấp nhận. Nhưng đây cũng chỉ là suy diễn của cá nhân tôi và đã là suy diễn thì không thể tùy tiện đưa vào chính sử của dòng họ.
Tuy nhiên có một bằng chứng không cần suy diễn. Đó là ngôi miễu Tam Tộc thờ ba vị khai canh của làng Bích Khê. Nếu công nhận tài liệu nguồn gốc họ Lê của ông Lê Quang Thế, cho rằng ngài Lê Trừ vào khai canh làng Bích Khê trước hai vị họ Đỗ họ Hoàng đến gần 200 năm thì hai họ Đỗ – Hoàng chỉ là dân nhập cư, làm gì có tư cách được thờ phụng ngang hàng với ông khai canh họ Lê? Trong trường hợp đó, phía hai họ Đỗ – Hoàng nên tự giác thỉnh bát nhang của dòng họ mình ra khỏi miếu Tam tộc.
Ngược lại, nếu ai đó cứ suy diễn một cách tùy tiện, vô tình hay cố ý phủ nhận sắc phong của triều đình, xúc phạm tới sự tôn nghiêm của các vị thần hoàng, phá vỡ hương ước của Tam Tộc, và không khéo văng miểng cả vào cái “sắc phong” mới đây là danh hiệu “Làng văn hóa xuất sắc cấp tỉnh”… thì đây không phải là lỗi nhỏ. Ngày xưa những lỗi nặng như thế là bị phạt vạ, phải cúng heo cúng bò để tạ tội với làng họ đấy.
HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN
