Trang chủ

 

Bài 12

HOÀNG  HỮU  PHA
MỘT ĐỜI GẮN BÓ VỚI NHỮNG MÁI TRƯỜNG

Ông bắt đầu bước vào nghề giáo năm 1957 ở trường Quốc Học Huế. Ngoài môn dạy Việt Văn, ông còn sở trường khâu tổ chức sinh hoạt hiệu đoàn và sinh hoạt văn nghệ học đường. Ông đã từng tổ chức thành công nhiều đêm liên hoan văn nghệ ở trường Quốc Học.

Một số chủ trường tư biết ông vừa dạy giỏi, vừa có tài tổ chức nên đã mời ông đảm nhiệm khâu chuyên môn nhà trường bao gồm: giáo vụ, hiệu đoàn, tổ chức kỷ luật. Ở Huế, ông đã tham gia công việc quản lý các trường Bình Minh, Nguyễn Du, Bồ Đề… Trong thời gian ở Huế, ông còn tham gia làm báo, viết sách, làm thơ và hội nhập vào đời sống văn hóa văn nghệ của giới trí thức thành phố. Khoảng những năm 1965-1966 ông bí mật tham gia công tác cách mạng trong đường dây của Thành ủy Quảng Đà, biên dịch tài liệu tiếng Pháp để in trong tờ Việt Nam Việt Nam – đặc san tranh đấu chống Mỹ công khai dữ dội nhất của trí thức yêu nước ở Huế.

Sau năm 1975, ông cũng như nhiều người trong giới chủ trường tư gặp không ít khó khăn của thời bao cấp, tưởng chừng như phải bỏ nghề. Mãi đến những năm 1980, nhà nước có chủ trương xã hội hóa ngành giáo dục. Hệ thống trường dân lập ra đời hoạt động đồng bộ với các trường công lập nhằm kịp thời đáp ứng nhu cầu học tập của thanh thiếu niên. Một lần nữa, ông được mời tham gia xây dựng các trường dân lập Chi Lăng, Nguyễn Khuyến rồi trường  Trung Học Hồng Đức ở Thành Phố Hồ Chí Minh. Trong số đó, trường Hồng Đức là ngôi trường mà ông đầu tư rất nhiều công sức và gắn bó tình cảm sâu sắc nhất đã liên tục phát triển trong vòng mười lăm năm qua.

Giờ đây, bước vào tuổi tám mươi, ông đã có thể thanh thản nghỉ ngơi – hằng ngày lắng nghe hơi thở và nhịp sống chuyển động dưới mái trường nầy với niềm vui vẻ tâm đắc của một nhà giáo dục gặt hái được nhiều thành quả trên mảnh đất trồng người.

LỆ CHI.

Hhpha 2

TẠ ƠN NGƯỜI

t h ơ
                         h o à n g  n  h  ậ  t   n  g  u  y ệ t                

     Tạ Ơn Người là một tập thơ mới xuất bản lần đầu nhưng không phải là tác phẩm đầu tay của Hoàng Nhật Nguyệt. – bút hiệu của Hoàng Hữu PhaTrong tập thơ này, có nhiều bài đã được tác giả sáng tác từ thuở còn thanh xuân. Tuổi thanh xuân của tác giả là chuỗi năm tháng chiến tranh chia lìa. Và như Ernest Hemingway từng nói: “trong mọi cuộc chiến tranh, tình yêu thường là nạn nhân đầu tiên”. Hoàng Nhật Nguyệt cũng như những chàng thư sinh của thế hệ chinh phu 1945, 1946… đã xếp bút nghiên theo nhịp khúc Lên Đàng. Ngoài những nội dung lớn lao của mục đích lý tưởng, điều được ghi nhận nhiều nhất trong thơ ca thuở ấy là hình ảnh những cuộc “ra đi” đầy ấn tượng lãng mạn – thường gọi là “lãng mạn kháng chiến”:

“Nhớ mùa hoa nhãn năm xưa
Anh đi độ ấy em vừa ngang vai
Nắng lên nghiêng mái tóc dài
Em nâng vạt áo hứng vài cành hoa…

                                 (Nhớ mùa hoa nhãn)

                                                     hoặc:

Em thường hay thương xa
Tình em đầy bát nước
Nhớ chăng mười năm trước
Anh đi một chiều mưa…
                                  (Người em gái)

Trên bước đường sông hồ lận đận của Hoàng Nhật Nguyệt, những lời từ ly ngậm ngùi ấy không chỉ có một lần mà cứ như một vọng âm buồn ngân dài theo tháng năm xanh:

Xa rồi Hà Nội ơi mến thương
Đêm nay cách mấy dặm trường
Có đôi mắt mơ về phương ấy
Buổi ra đi tay bu
ồn không vẫy
Bóng người em nhỏ với trông theo…
                                              (Xa Hà Nội)

Không biết nhà thơ đã dành hết bao nhiêu mùa xuân để sống bằng ảo ảnh của tình yêu qua những bóng hình thấp thoáng ấy:

Quá giang trở bến tìm thanh xuân
Lỡ cháy mười năm lửa bạo Tần
Gió động hoa vàng bay lả tả
Cuốn rèm thi sĩ đón giai nhân…

                                          (Bài thơ xuân)

Mãi đến những năm cuối đời, anh mới tái ngộ được với tình yêu. Dường như đến lúc này anh mới thực sự bắt đầu yêu và được yêu:

Hôm nay xin tạ ơn người
Đã cho ta được những lời thương yêu
Tưởng rằng nắng đã xế chiều
Ngờ đâu hửng sáng rất nhiều chim ca
Bình minh hồn mộng nở hoa
Ngày xuân về lại thiết tha ân tình.

                                       (Xin Tạ Ơn Người)

Vậy có thể nói Tạ Ơn Người là một bông hoa tình nở muộn. Nhưng không hề gì. Với thi sĩ, tình yêu là bất tận và mùa xuân luôn luôn vẫn còn ở phía trước.

Nhưng Tạ Ơn Người không chỉ có ngôn ngữ của tình yêu mà còn chan chứa tình cảm dành cho gia đình, bà con, làng xóm và bạn bè. Đối với tác giả, những giá trị tình cảm thiêng liêng ấy cứ như trăm nghìn mạch cổ sầu tuôn chảy trong thế giới của hoài niệm:

Thuở ấy đâu còn cánh hoa tiên
Bài thơ khai bút buổi nguyên niên
Đêm nay đốt lại lò hương cũ
Ông đã khuất rồi lệ ướt nghiên…

                                                        hoặc:

Chị ơi tôi đã hiểu nhiều
Nắng trưa đầu bãi, mưa chiều cuối sông…

Ở đây chúng ta có thể bắt gặp một tuyến nhân vật tương tự như những nhân vật trong “Chân Trời Cũ” tập bút ký văn xuôi của Hồ Dzếnh. Nhưng tuyến nhân vật trong “Tạ Ơn Người” không hẳn là những hình bóng ngủ yên trong thế giới an lành của kỷ niệm. Nhân vật trong thơ Hoàng Nhật Nguyệt đôi khi còn phản ánh cả thế sự xao xuyến qua những vùng sáng tối của chân trời cũ lẫn “chân trời mới”. Hoàng Nhật Nguyệt có nỗi đau đời sâu đậm đến nỗi dường như anh không thể viết được như Hồ Dzếnh – tách rời những vùng tâm sự riêng tư ra khỏi cái nghiệt ngã của thế sự. Và vì vậy, còn có thể nói Tạ Ơn Người  là một phong cách thơ thế sự mang dấu ấn đặc biệt của Hoàng Nhật Nguyệt:

Đi về ngủ với cỏ hoa
Nửa đêm thức giấc trăng tà nghiêng nghiêng
Hai dòng nước mắt ưu phiền
Mặn môi bỏng lưỡi cô miên gối đầu
Chừ đây chờ đến mai sau
Hạnh Hoa thôn nhỏ ở đâu hỡi người
                                                   (Về đi em)

Trong truyện ngụ ngôn Ấn Độ có một người tín đồ ngoan đạo, dành cả đời mình cho những cuộc hành hương tìm về sông Hằng thiêng liêng. Đến lúc mõi mòn kiệt sức, anh ta mới nhận ra rằng chỗ mình dừng lại cuối cùng vẫn chưa phải là bến sông Hằng. Dẫu vậy anh ta vẫn chấp hai tay tạ ơn trời đất. Phải chăng Hoàng Nhật Nguyệt và những người có mối đồng cảm cũng đang trên đường hành hương về một Hạnh Hoa thôn nào đó, còn khó đến hơn cả dòng sông Hằng vĩ đại. Thôi thì hãy cứ đi. Đến hay không đến vẫn có thể chấp tay Tạ Ơn Người.

Giao thừa Tân Tỵ – 2001
Thứ đệ:

Hoàng Phủ Ngọc Phan