Bài 8
NGÀI HOÀNG GIÁP HOÀNG HỮU BíNH
và khoa thi năm Kỷ Sửu (1889)
HOÀNG HỮU CHỈ

Di bút của ngài Hoàng Giáp Hoàng Hữu Bính
Năm Kỷ Sửu (1889), tức Thành Thái nguyên niên, triều đình cho mở khoa thi Tiến sĩ. Nhưng sắp tới ngày truyền lô (công bố kết quả) thì xảy ra binh biến 23 tháng 5 mà vua Hàm Nghi phải xuất bôn. Sau đó, theo chỉ dụ của vua Đồng Khánh, những người đã đậu Hội thí 1885 được đặc ân cho thi Đình vào khoa Ký Sửu 1889 và các khoa sau đó. Hai mươi ba thí sinh mới và cũ ấy, sau đó, được chia làm 2 toán; một toán gồm 11 người và một toán 12 người, đi theo một quan viên hướng dẫn, tiến về hai phía Tả và Hữu Vu của điện Cần Chánh. Trên mặt bằng điện đã trải sẵn chiếu hoa và bày sẵn 23 cái “yên”, 23 cái “tráp” (tức cái rương, tiện nghi để thí sinh kê tay khi viết bài và cắt đặt đồ dùng). Khi nghe quan nội giám hô to: “Thánh thượng tứ tọa” (Vua cho phép được ngồi), ai nấy phủ phục tạ ân vua rồi ngồi xuống chiếu. Tiếp theo đó, nội dung đề thi được quan nội giám công bố. Việc làm này, hồi đó được gọi là “khai độc chế sách”. Ở mỗi “yên” của thí sinh ai nấy đều đã được phát sẵn một cuốn giấy viết nội dung đề thi, các thí sinh đều mở ra xem kỹ lại. Đầu đề khoa thi Đình năm ấy là 1 bài văn sách, 1 bài luận, hạn trong 1 ngày, từ 7 giờ sáng tới 7 giờ tối phải làm cho xong. Việc đầu tiên là thí sinh phải ghi rõ họ tên, tuổi tác, quê quán, lý lịch tam đại, đậu thi Hương khoa nào, phân số đạt được trong kỳ thi Hội, ngày vào Điện thí… vào đầu quyển thi. Quyển thi lần này có kẻ đường kẻ đỏ được triều đình phát không cho thí sinh. Sau hồi lệnh, nhà vua hồi cung, cuộc thi liền triển khai. Thời gian này, ở Tả và Hữu Vu điện Cần Chánh luôn có 2 vị võ quan ngồi giám sát cuộc thi, 2 quan đô thống thì làm công việc kiểm soát tổng quát cũng giống như 2 quan ngự sử trong lần thi Hội ở La Chữ. Chiếu ngồi của thí sinh cách xa nhau hằng 6 mét và toàn cục diện đều nằm trong tầm quan sát tốt của 2 quan đô thống và đội tuần sát, thí sinh khó lòng bàn bạc, gian lận mà không bị phát hiện.Chừng 2 tiếng đồng hồ, 23 lính Ngự tiền thị vệ bưng đến 23 khay sơn son thếp vàng với ấm chén, đĩa, có trà Tàu và trầu cau, đặt lên chiếu hoa của mỗi thí sinh. Đó là đồ sành sứ quý giá, danh tiếng Thế Đức và Nhật Bản chạm rồng, bịt bạc. Cau là một miếng cau tươi và trầu là trầu quế têm cánh phượng.
Khoảng 11 giờ trưa, mỗi thí sinh lại được lính Ngự vệ bưng đến 1 khay khác bằng gỗ trắc khảm xà cừ, trên đặt 1 con dao chuôi bạc, 2 quả chuối ngự, 1 trái anh đào, 1 trái tuyết lê. Các đặc sản thực vật này đều là cây trái danh tiếng của Thừa Thiên Huế và Quảng Trị. Đúng ngọ, lại thêm 1 mâm cơm nữa đem đến với đủ thức ăn sang trọng như yến sào, tái bò, chả giò Huế, thịt gà, tương gừng, cơm gạo Ngự. Các món ăn đều được đựng trong các đồ sành sứ Giang Tây, Nhật Bản bịt bạc, chạy chỉ vàng. Đũa là thứ đũa làm bằng ngà voi bịt bạc.
Dùng bữa xong, các thí sinh tự rửa lấy chén bát, đồ dùng của mình với nước nóng do Ngự vệ quân cung cấp và bỏ vào “tráp” cất. Tất cả đồ dùng là quà kỷ niệm của nhà vua ban tặng cho thí sinh trong cuộc thi Đình theo truyền thống thi cử phong kiến nên không thu hồi lại. Đến 3 giờ chiều, trà tàu, trái cây quí hiếm lại được mang đến; tráp của thí sinh lại đầy thêm một số vật dụng, chén bát… nữa của vua ban. Đặc biệt với chiếc mâm đồng ba chân chạm long, ly, qui, phụng không thể bỏ vào tráp được, nhưng sau này các thí sinh cũng xách tay mang về. Đúng 7 giờ tối, các thư lại được lệnh đi thu hồi quyển thi của thí sinh. Nhưng bài thi này được chuyển cho các quan Nghè bút thiếp và các quan viên chữ tốt sao chép lại nguyên văn. Sự sao chép được giám sát kỹ bởi 3 vị quan trong hội đồng thi với phương cách: đọc nội dung bài gốc rồi dò lại các bản sao. Sau khi thấy không còn sai sót, cả 3 quan viên trên cùng ký tên chịu trách nhiệm nơi cả bản gốc lẫn bản sao. Điều đặc biệt cần chú ý là với thi Đình, bài thi cốt ở ý tưởng biểu đạt, không cần “văn hay chữ tốt”. Viết thảo vẫn được chấp nhận.
Trang phục tiến sĩ
Đệ tam giáp màu xanh lục, bối tử (mảnh gấm vuông khâu giữa ngực áo) màu đỏ thêu hình cò trắng (còn gọi là lộ tư) bằng chỉ bạc. Mũ cánh chuồn màu xanh lam được cài hoa bạc, phía trước 1 hoa, phía sau 1 hoa. Mũ cánh chuồn không thêu gì. Hia bằng vóc đỏ. Đai lưng bằng “đoạn” cũng màu đỏ dát 3 miếng bạc, phủ đồi mồi và 7 miếng đồng phủ các miếng sừng đen cắt mỏng, gọi là ô giác. Hốt làm bằng ngà voi.
Mũ áo tiến sĩ Đệ nhị giáp cũng giống như tam giáp, chỉ khác 2 cánh mũ được thêu chỉ bạc, bối tử thì thêu hình chim trĩ trắng (còn gọi là “Bạch nhàn”). Đai lưng cũng có thêm một miếng bạc mạ vàng.
Lĩnh mũ áo xong, mỗi vị tân tiến sĩ được hướng dẫn đến một văn phòng bên trong Ngọ Môn để cài trâm và thay đổi trang phục mới. Sau đó, tất cả ra đứng sau quan Tham tri bộ Lễ để đợi hành lễ.
Xong lễ “truyền lô”, danh tánh các vị tiến sĩ Đệ nhị giáp, Đệ tam giáp, Phó bảng được đem niêm yết tại Phu Văn Lâu. Đậu Đệ nhị, Đệ tam giáp… tên được ghi lên bảng vàng có vẽ rồng, gọi là “Giáp bảng”. Còn phó bảng thì ghi vào bảng sơn đỏ, gọi là “Ất bảng”, treo bên cạnh “Giáp bảng”.
Năm ấy, giật giải Khôi nguyên là cụ Hoàng Bính, người làng Bích Khê, huyện Thuận Xương (nay là huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Cụ Hoàng Bính đậu tiến sĩ Đệ nhị giáp Đệ nhất danh, tức thủ khoa. Người đậu nhì là cụ Nguyễn Viết Bình, quán xã Đặng Xá, huyện An Đức, Hà Nội.
Dự thi Đình năm ấy có tất cả 23 vị nhưng chỉ “trượt” có 1: đó là cụ Đảm Thận Bình, người quán Hưng Mặc, tỉnh Bắc Ninh. Cụ không vào được Phó bảng vì bị “văn bất cập phân”.
Thân thế và sự nghiệp của tiến sĩ thủ khoa Kỷ Sửu
Đến đây, tưởng cũng cần nên biết rõ hơn về vị đậu thủ khoa của khoa thi tiến sĩ năm Kỷ Sửu 1889. Năm ấy, cụ Hoàng Bính mới có 33 tuổi. Cụ sinh năm Đinh Tỵ (1857), là 1 trong số 6 sĩ tử trẻ nhất của khoa thi. Thân phụ của cụ Hoàng Bính là Hiệp biên đại học sĩ Hoàng Hữu Xứng, một trọng thần dưới triều vua Tự Đức, từng là kinh diên giảng quan (thầy dạy vua) của các triều vua Nguyễn kế thừa. Hiệp biện đại học sĩ Hoàng Hữu Xứng là một nhà văn hóa, một “trước tác gia” đã có công lớn biên soạn bộ sách “Đại Nam cương giới vựng biên” và bộ “Đại Nam thực lục chính biên đệ ngũ kỷ” cho triều Nguyễn. Ngài cũng từng là giám khảo của khoa thi Hội 1892, chấm đậu các sĩ tử Vũ Phạm Hàm, Nguyễn Thượng Hiền, Chu Mạnh Trinh, và năm 1898 chấm đậu một lượt 5 vị cử nhân người Quảng Nam là Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn, Ngô Truân, Dương Hiển Tiến mà người đời vẫn thường tôn vinh là “ngũ phụng tề phi” (năm chim phụng cùng bay) như đã có lần sử gia Phan Thuận An đề cập trong một bài viết về Ngài trên tạp chí Cửa Việt số 17 – tháng 10/1992.
Sau khoa thi tiến sĩ Kỷ Sửu, Hoàng giáp Hoàng Bính được bổ giáo thọ phủ Thuận Xương, Quảng Trị (1890). Qua 1891 lại được bổ Tri phủ Tuy An, Bình Định. Vì chống đối với quan Pháp, cụ quyết định treo ấn từ quan. Cụ rất ghét những thứ gì có dính líu tới “thằng Tây”, cực đoan đến độ chối từ cả chích thuốc khi đau ốm, chụp hình chân dung, nên vì thế, con cháu cụ sau này đã không biết đến mặt mũi của một nhân tài dòng họ. Tới Thành Thái V (1893), cụ được tái bổ Kiểm đốc sở Tu thư và thăng Thị độc học sĩ. Qua Thành Thái IX (1897), cụ được cử làm giám khảo trường thi Hương tỉnh Hà Nam. Đến 1898, chán chường hoạn lộ, cụ xin nghỉ hưu, về quê quán Bích Khê, Quảng Trị mở lớp quy tụ môn đồ, sĩ tử các tỉnh kéo về theo học rất đông và đỗ đạt cũng nhiều. Tiếng tăm cụ lừng lẫy ở Quảng Trị một thời với tài học và bút thiếp sinh động như rồng bay phụng múa.
Năm Thành Thái XII (1900), cụ lại được triều đình mời ra làm giám khảo trường thi Hương Bình Định và được thăng Hồng Lô Tự Khanh, bổ sung làm Toản Tu Quốc Sử quán và được Từ Dũ Thái hậu thưởng “Kim Khánh bội tinh”. Năm ấy cũng là năm cụ bị bạo bệnh qua đời, để lại tiếc thương cho bao người giữa lúc tuổi đời chỉ mới có 43. Triều Nguyễn truy tặng cụ Quang lộc Tự khanh. Đám tang cụ được tổ chức rất trọng thể tại quê nhà. Rất đông học trò cũ của cụ đang làm quan tại triều về dự và một số đã nghiêng vai trực tiếp khiêng linh cữu thầy mình từ nhà ra đến tận huyệt. Hiện nay, lăng mộ cụ vẫn tồn tại tốt ở làng Bích Khê, Triệu Phong, Quảng Trị, với sự chăm sóc của con cháu dòng họ. Còn tại đền Văn Thánh – Huế, có tên của tiến sĩ đệ nhị giáp Hoàng Bính trong số mấy chục bia tiến sĩ ở đó. Tên cụ cũng có trong bảng liệt kê danh sách tiến sĩ của triều Nguyễn ở trên lầu Ngọ môn hiện nay.
HHC.
Hình ảnh trường thi xướng danh thời Nguyễn
